NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Kiều bào không chờ đợi ưu đãi, chỉ mong được trọng dụng - Chuyên Gia Tài Chính Bùi Kiến Thành , Kiều bào Mỹ

Năm 22 tuổi, Bùi Kiến Thành là người Việt đầu tiên tốt nghiệp ngành kinh tế tài chính tại Đại học Columbia, Mỹ và trở thành đại diện Ngân hàng quốc gia Việt Nam (miền Nam) tại New York. Rồi ông trở thành một nhà kinh doanh địa ốc nổi tiếng tại Pháp. Ông còn là một chuyên gia tài chính chuyên tư vấn cho các công ty trong và ngoài nước, là một PR (public relations) - người nối những mối quan hệ đặc biệt cho dự án vịnh Vân Phong, Nha Trang, nhưng trên hết, ông là người có một trái tim nặng lòng với quê hương… Trước những vận hội mới của đất nước, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành đã có cuộc trao đổi với phóng viên NVX.

PV: Thưa ông, trong một lần phát biểu tại hội thảo thu hút chất xám trí thức Việt kiều, ông cho rằng VN gia nhập WTO là đứng trước nguy cơ “ngoại xâm”. Xin hỏi phải hiểu nguy cơ này là như thế nào? Tại sao lại có nguy cơ đó ?

Chuyên gia Bùi Kiến Thành: WTO thường được biết như là một thị trường mở, các quốc gia thành viên chấp nhận những quy luật trao đổi mua bán sản phẩm, dịch vụ không phân biệt đối xử hay rào cản. Trên nguyên tắc và trong hoàn cảnh lý tưởng tối ưu, hàng hoá, dịch vụ được cung cấp đến người tiêu dùng không phân biệt xuất xứ, với giá thấp nhất. Có nghĩa là việc cạnh tranh sẽ dựa trên chất lượng và giá bán của sản phẩm hay dịch vụ. Sản phẩm nào tốt, được tiếp thị tốt, bán với giá cả tương đối tốt sẽ thắng và các đối thủ cạnh tranh khác sẽ phải thua.

Nhưng WTO cũng là một hệ thống “Luật chơi” gồm có các hiệp định đa phương và song phương giữa các quốc gia thành viên. Trên nguyên tắc các văn bản pháp lý này là để quy định “Luật chơi” bình đẳng giữa các quốc gia thành viên. Nhưng trên thực tế không hề có sự bình đẳng; các thành viên đến sau phải trả giá đắt hơn để gia nhập tổ chức, phải nhượng bộ và chấp nhận những điều kiện phân biệt đối xử thiên lệch có lợi cho các thành viên cũ…

Các hiệp định VN ký với WTO cũng là một lộ trình chuyển đổi cơ cấu luật pháp, quản lý nhà nước, thực thi dân chủ, cải tổ hoạt động của các tòa án v.v… để đưa VN từ một quốc gia ngoài lề cộng đồng kinh tế thị trường hòa nhập với đa số các nền kinh tế phát triển. Các định luật của WTO có khả năng phủ định các điều luật của luật pháp VN nếu không phù hợp. Có nghĩa là VN sẽ phải đổi mới từ mọi mặt, để trở thành một nền kinh tế thị trường, tư nhân hóa, để giải phóng tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân, tạo nên sức mạnh linh động để nhanh chóng thích ứng với nhu cầu cạnh tranh luôn luôn biến đổi. Nội dung công việc mà VN cần phải tiến hành là xây dựng một hệ thống pháp luật mới, đặc biệt là việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi các luật thương mại, đầu tư, doanh nghiệp và sở hữu trí tuệ... mà VN cam kết với WTO.

Tuy nhiên nếu chỉ làm ra luật mà không có quyết tâm và khả năng bố trí nhân sự đủ năng lực để thi hành thì cũng không giải quyết được việc thích ứng với thời thế mới. Do đó việc thúc đẩy tốc độ “đổi mới” là ưu tiên hàng đầu.

Nhiều nhà cách mạng lão thành đã lên tiếng bày tỏ sự hối tiếc cho việc lãng phí thời gian và nhân lực trong 30 năm qua của chúng ta. Trong bài viết "Đại đoàn kết dân tộc-cội nguồn sức mạnh của chúng ta" (Vietnamnet ngày 30.08.2005) nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đúc kết: “…Tư tưởng thành phần chủ nghĩa đã dẫn tới hai kết quả: Làm mất đi nhiều tài năng của một bộ phận đáng kể trong dân tộc, đồng thời đưa một cách gượng ép những nhân tố tuy rất cơ bản về chính trị nhưng lại không đủ chất lượng trong quản lý và xây dựng"

Tôi xin nói một cách thẳng thắn là thực tế lãnh đạo VN chưa thật sự thay đổi tư duy theo xu thế hội nhập. Công tác cán bộ vẫn còn lẩn quẩn trong thành phần đảng viên, chưa mở rộng ra để huy động tài năng sức lực của hơn 80 triệu đồng bào trong nước và hơn 3 triệu kiều bào. Dân tộc ta thông minh, cần cù, sáng tạo, và đã chứng minh tài năng bản lĩnh của mình qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong thời gian gần đây kiều bào cũng đã chứng tỏ năng lực của mình và đã vươn lên thành đạt trong mọi lĩnh vực khắp các quốc gia mà người Việt đặt chân đến. Thực tế là đất nước ta không thiếu người tài. Vấn đề là tập thể lãnh đạo chưa có đủ bản lĩnh và chính sách chiêu hiền, đãi sĩ, tập hợp người có năng lực vào công tác quản lý nhà nước. Chưa thật sự giải phóng sức sáng tạo của nhân dân qua một môi trường chính trị, xã hội, luật pháp cởi mở, để mọi người, mọi nhà tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh.

Tham gia vào WTO là tạo điều kiện cho Việt Nam vươn ra thị trường thế giới, nhưng giá phải trả là chấp nhận điều kiện cho các “mãnh hổ” quốc tế vào đấu đá “bình đẳng” với các doanh nghiệp của chúng ta đang còn yếu. Thực tế là Việt Nam như người bệnh mới được phục hồi một phần sinh lực đã phải lên đài đấu võ với các đấu thủ vô địch thế giới. Qua đây chúng ta có thể thấy là Việt Nam rất khó cạnh tranh. Hàng hóa chất lượng cao và kỹ năng tiếp thị ra nước ngoài chưa chuẩn bị kịp trong khi đa số các quốc gia phát triển đã sẵn sàng với đủ các loại sản phẩm và trùng trùng điệp điệp các đạo quân tiếp thị điêu luyện để tấn công vào thị trường Việt Nam. Một mặt VN không có nhân lực, vật lực để giữ sân nhà, mặt khác Việt Nam cũng không có đủ sản phẩm và nhân sự để đi khôi phục thị trường nước ngoài. Đó là những nguy cơ có thực mà tôi nghĩ Nhà nước, từng doanh nghiệp phải tính toán cặn kẽ trong từng bước đi tiếp theo của mình .

Theo ông, trong xu thế hội nhập này, kiều bào ta có vai trò như thế nào đối với công cuộc xây dựng đất nước ?

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, kiều bào là một lực lượng tiên phong cực mạnh. Nếu được trọng dụng, kiều bào sẽ là đầu mối cho việc phát triển thị trường, xây dựng quan hệ thương mại, tài chính, ngoại giao với cộng đồng quốc tế. Giá trị tiềm năng hợp tác của kiều bào không thể chỉ đánh giá bằng tiền mà còn có giá trị bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng cực kỳ quan trọng. Đất nước ta luôn luôn phải đối đầu với các thế lực nước ngoài, lực lượng kiều bào trong lòng các cường quốc, nếu hướng về quê hương sẽ là thành trì bảo vệ đất nước.

Theo quan điểm của ông thì vẫn còn hố ngăn cách giữa người Việt trong và ngoài nước ? Làm sao để xóa bỏ hố ngăn cách đó ?

Cũng trong bài viết trên Vietnamnet ngày 30.08.2005, nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã tâm sự: “Trải qua bao năm tháng suốt từ trước Cách Mạng Tháng Tám đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi, tôi đã bao lần được đồng bào che chở cưu mang, đã chứng kiến bao tấm gương hy sinh của những người thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi… Tiếc rằng một số năm sau đó, tư tưởng đại đoàn kết đã bị coi nhẹ, quan điểm giai cấp đã được vận dụng một cách máy móc, một chiều…, xao nhãng bởi bệnh chủ quan và say sưa vì chiến thắng, bởi những cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện phân biệt thắng - thua, bởi những kỳ thị ta - ngụy…”

Cái hố ngăn cách giữa người Việt trong và ngoài nước là sự phân biệt đối xử do cơ chế chính sách tạo ra. Nếu tất cả cộng đồng người Việt, bất kỳ sinh sống tại đâu, đều là “thành phần không tách rời của cộng đồng dân tộc”, thì không thể có những cơ chế luật pháp áp dụng cho đầu mà không áp dụng cho mình, áp dụng cho tay mà không áp dụng cho chân. Những cơ chế hiện nay đối với kiều bào là một nghịch lý, để duy trì những đặc quyền đặc lợi của một thành phần xã hội sau chiến tranh. Tình trạng này cần phải được chấm dứt sớm nhất, để bà con người Việt trong nước và ngoài nước thật sự chấp nhận nhau là anh em, là “máu thịt Việt Nam” không phân biệt đối xử.

Làm sao để xóa bỏ hố ngăn cách đó? Phần lớn hố ngăn cách là do hậu quả của chiến tranh, hoàn cảnh lịch sử. Nay định kiến đã đổi thay và chúng ta đã có quyết tâm nhìn nhận nhau là anh em ruột thịt, thì ta cần dứt khoát xóa bỏ quá khứ, hướng đến tương lai.

Cụ thể là lãnh đạo nhà nước nên nghiên cứu một đạo luật trình ra trước Quốc hội phê duyệt, lấy quyết định xóa bỏ những hậu quả của chiến tranh, công nhận tất cả người Việt Nam bất kỳ định cư ở nơi đâu, xuất ngoại vì bất cứ lý do gì, đều là công dân Việt Nam, đồng quyền lợi và nghĩa vụ như tất cả người Việt Nam trong nước.

Theo ông, để phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, Chính phủ cần có những chính sách gì cụ thể ?

Tâm tư nguyện vọng của bà con người Việt Nam ở nước ngoài không gì hơn là được đối xử theo tình nghĩa anh em, và đạo lý của tổ tiên nghìn năm để lại. Bất kỳ sinh sống cư trú nơi đâu, người Việt Nam vẫn là người Việt Nam. Tôi thấy chính sách đối với kiều bào còn lỗi thời, rời rạc, không có định hướng, chỉ là những biện pháp tình thế dựa trên những quyền lợi nhỏ bé không thu hút được nhiệt tình của bà con. Nhà nước cần phải có những chính sách đồng bộ, minh bạch, dứt khoát, hợp tình, hợp lý, hợp pháp để tạo được niềm tin đối với cộng đồng kiều bào. Đó là những chính sách làm rung động lòng người, có tác dụng xóa bỏ mọi mặc cảm để mọi người Việt Nam bất cứ ở nơi đâu, với bất cứ chính kiến nào, cũng có thể ngồi lại với nhau, chung lòng chung sức xây dựng đất nước, bảo vệ chủ quyền kinh tế trước hiểm họa ngoại xâm.

Cụ thể là những vấn đề sau đây tôi nghĩ cần được Nhà nước xem xét: Thứ nhất là đối xử bình đẳng giữa người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt trong nước. Người Việt Nam ở nhiều quốc gia đã tạo nên được những ấn tượng tốt đẹp đối với Chính phủ và người dân nước sở tại. Rồi đây cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài từ 3 triệu người sẽ tăng lên 5 -10 -20 triệu người, cái uy thế ấy sẽ là một sức mạnh đáng kể nếu được tập hợp thành một khối đại đoàn kết hướng về quê cha đất tổ. Thứ hai là nên xem xét những tài sản “vắng chủ” do Nhà nước quản lý. Đa số bà con ra đi sau chiến tranh không có phạm lỗi gì đối với đất nước. Phần lớn chỉ vì không đồng chính kiến, và sợ bị hình phạt hay trả thù. Với những chuyển biến mới, chúng ta nên xem xét vấn đề này trên cơ sở đạo lý làm người và định hướng đại đoàn kết dân tộc.

Theo ông, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã đi vào cuộc sống ở mức độ nào ?

Sau khi đã hóa giải được những điều căn bản mà tôi vừa đề xuất, bước tiếp theo Nhà nước cần làm là những chính sách tập hợp nhân tài. Trong văn phòng Tổng thống Đại Hàn có treo một tấm bảng với bốn chữ “Tam cố Thảo lư” để nhắc đến tích Lưu Bị thỉnh Gia Cát Lượng ra hợp tác. Tôi không ví kiều bào là Gia Cát Khổng Minh, nhưng có cái ưu thế là đang sống và hoạt động trong các nền kinh tế phát triển, thông hiểu đời sống và tập quán của gần 100 quốc gia và lãnh thổ, là "đội quân tiên phong" để VN thâm nhập các thị trường. Đồng thời kiều bào cũng là một nguồn chuyên gia trí thức dồi dào để hợp tác với chuyên gia trí thức trong nước nắm bắt những kiến thức, công nghệ, khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới. Tập hợp nhân tài là việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện để mời các anh Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Lê Văn Thiêm về nước. Nhật Bản, Trung Quốc, Đại Hàn đã thực hiện rất tốt để nhanh chóng đưa đất nước họ tiến lên hàng cường quốc.

Cụ thể là kiều bào không chờ đợi ưu đãi, mà chỉ mong muốn được trọng dụng để có dịp cống hiến tài năng của mình cho đất nước. GS Trần Đại Nghĩa vào chiến khu đúc súng không phải vì ham mê danh tước, GS Tôn Thất Tùng lặn lội khắp các vùng Nam Bắc chăm nom sức khỏe cho đồng bào chiến sĩ cũng không phải vì tiền. Người trí dũng, có đức có tài không chờ đợi được hưởng bổng lộc. Cái quan trọng là cơ hội đem cái biết của mình để phục vụ nhân dân trong một môi trường thông thoáng trong sạch.

Ông có đề xuất gì để phát huy chất xám của trí thức VK trong công cuộc xây dựng đất nước ?

Cụ thể là trong các bộ, các ngành, từ trung ương đến địa phương nên có một tổ công tác vận động kết nạp kiều bào. Sau buổi hội thảo tại TP.HCM ngày 07.07.2006 vừa qua, Ban điều hành Câu lạc bộ Khoa học Kỹ thuật Việt kiều đã có quyết định sẵn sàng làm đầu mối giới thiệu chuyên gia cho nhà nước và các doanh nghiệp có nhu cầu. Và nếu được yêu cầu, CLBKHKTVK sẽ thành lập các Ban tư vấn thường trực tại các cơ quan có nhu cầu và sẽ huy động các chuyên gia kiều bào mọi nơi hợp tác nghiên cứu và tư vấn cho Nhà nước trong tất cả các vấn đề được Nhà nước ủy nhiệm.

Cụ thể là tại các Đại sứ quán VN nên có một tham tán chuyên trách về quan hệ với kiều bào. Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, kiều bào là một lực lượng tiên phong cực mạnh. Nếu được trọng dụng kiều bào sẽ là đầu mối cho việc phát triển thị trường, xây dựng quan hệ thương mại, tài chính, ngoại giao với cộng đồng quốc tế.

Cộng đồng kiều bào là một tài sản vô cùng đặc biệt. Giả sử Nhà nước muốn gửi người đi đào tạo để xây dựng lên một lực lượng như vậy thì cũng phải mất 20 – 30 năm và hàng nghìn tỷ USD. Nhưng trên thực tế thì không thể nào thực hiện được, vì các quốc gia sở tại sẽ không bao giờ chấp nhận đón tiếp một số lượng 2-3 triệu người đi đào tạo, mà còn có khả năng lưu lại sau tốt nghiệp để lao động, tôi luyện kinh nghiệm thực tiễn. Và tình hình đất nước cũng không thể chờ đợi 30 năm nữa để có chuyên gia. Vận nước đã tạo ra cho VN một lực lượng chưa từng có trong lịch sử các dân tộc. Trách nhiệm của lãnh đạo VN là xây dựng chính sách phù hợp để tận dụng khả năng của kiều bào trong sự nghiệp phát triển và hội nhập.

Toàn dân đoàn kết phát huy nội lực tăng gia sản xuất, toàn thể kiều bào khắp mọi châu lục hợp tác phát triển thị trường. Một công thức thành công mà khó có một quốc gia nào sánh kịp.

Nghị Quyết 36 đã khẳng định: “Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài… đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết dân tộc”, và Nhà nước đã cam kết tạo điều kiện cho mọi người “xoá bỏ mặc cảm, định kiến, xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”.

Ông kỳ vọng gì ở những người vừa được bầu vào bộ máy lãnh đạo của đất nước khi họ nhận nhiệm vụ lèo lái "con tàu" VN ?

Tập thể các vị vừa được bầu vào bộ máy lãnh đạo của đất nước đã tích lũy được những kinh nghiệm đáng kể để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Nhiều vị gốc từ miền Nam và đã có một thời sống và hoạt động trong cơ chế thị trường. Trong những ngày đầu tiên nhậm chức tân Thủ tướng đã trực tiếp chỉ đạo xử lý một số vụ việc nhạy cảm trong chiến dịch chống tham nhũng, và đã được dư luận nhân dân đánh giá cao. Tân Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo cũng đã có những hành động thiết thực và đi vào lòng dân. Đây là những tín hiệu tốt, có tác dụng tạo nên niềm tin quyết tâm của tập thể lãnh đạo mới, đem lại một hào khí mới trong nhiệm vụ khó khăn lèo lái "con tàu" VN.

Vấn đề là muốn đạt được kết quả tốt, Chính phủ phải nhận được sự ủng hộ tích cực của nhân dân. Một con én không làm được mùa xuân, tập thể lãnh đạo mới cần phải tập hợp xây dựng một đội ngũ có năng lực thật sự. Và đây là cái khó mà Chính phủ nhất định phải thực hiện. Cái khó đặc biệt đối với Chính phủ là đại dương, phong ba bão táp của các cuộc chiến kinh tế khốc liệt đang chờ đợi "con tàu" Việt Nam tham chiến. Cái khó tiếp theo là làm trong sạch bộ máy quản lý Nhà nước. Tôi nghĩ khó khăn rất nhiều nhưng tôi tin vào một tương lai tươi sáng của VN nếu chúng ta phát huy hết sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, không kể người Việt trong hay ngoài nước…

Minh Diệu