NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Chúng ta cần nên hiểu tấm tranh kiều bào : Họ là ai, nghĩ gì, và muốn gì - T.S. Thái Hồng Lam , Kiều bào Mỹ

Trong lịch sử cứu nước và dựng nước, phần lớn các chính nhân đều đặt nặng vấn đề phát huy tư tưởng “Đại Đoàn Kết Dân Tộc”. Sự phát huy ấy có hiệu quả nhiều hay ít tùy thuộc vào muôn dân có nhận thức được sự cấp bách của vấn đề, có đồng lòng ủng hộ những đường lối và chính sách của giới lãnh đạo, và quan trọng hơn hết là họ thấy được cái lợi của mình khi nhập cuộc hay không!

Trong việc cứu nước, “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, cái lợi rất rõ ràng. Trong việc dựng nước, nhất là khi chủ nghĩa cá nhân đang lan tràn và người dân có nhiều chọn lựa, thì cái lợi của “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” đôi lúc mờ ảo!

Bởi vậy, trong thời bình, trọng trách dìu dắt muôn dân là rất nặng và khó! Cũng chính thế, những nguời dẫn đường cần phải có chính sách nêu ra cho dân thấy và để dân cho tin vào một tương lai tốt đẹp hơn (hạnh phúc hơn, an bình hơn, giàu có hơn, đỡ bức xúc hơn, vv…) – đồng thời cũng nên đập tan những quốc nạn làm trì trệ việc thi hành của chính sách và dung hòa với những ý kiến xây dựng dẫu khác đề lối .

Dựa trên cái nhìn tổng quát vừa đưa ra, trong chủ đề của cuộc hội thảo về việc “thành hình cơ chế, chính sách đối với trí thức kiều bào nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác” trên tinh thần “Đại Đoàn Kết Dân Tộc”, chúng ta cần nên hiểu tấm tranh kiều bào (họ là ai, nghĩ gì, và muốn gì). Tấm tranh này dĩ nhiên rất phức tạp và đòi hỏi một sự nghiên cứu công phu ngoài tầm của bài tiểu luận này; tuy nhiên, trong ấy có những nét họa căn bản mà chúng ta có thể cùng chung tham luận để hiểu chút ít về họ và từ đó vạch ra những câu trả lời thoả đáng. Những nét họa căn bản ấy gồm có: thế hệ và tuổi tác, gia cảnh, và mưu sinh.

Lấy 20 năm làm khoảng thời gian tương đối để chia thế hệ, phần lớn kiều bào trên 65 tuổi sống nhờ vào tiền dành dụm, trợ cấp từ người thân hoặc của xã hội (nếu có). Họ lo xa cho những ngày hoàng hôn thiếu thốn về mặt kinh tế cũng như bệnh hoạn. Niềm vui của họ là sự quây quần của con cháu.

Ở tuổi này họ rất đắn đo khi phải đi xa. Nếu may mắn còn sức khoẻ, những chiều tản bộ hít thở không khí trong lành lại có giá trị hơn những chuyến du lịch hàng ngàn cây số; nếu không may và sống quạnh hiu, họ chỉ mong cơn đau được dịu êm và hơn hết trông vào tấm lòng bác ái và nụ cười thông cảm của y nhân và xã hội chung quanh.

Một trở ngại không nhỏ cho nhiều người thuộc thế hệ này là vấn đề giới hạn ngoại ngữ. Món ăn tinh thần của họ là được nghe những bài ca, những vở kịch quen thuộc; được xem những cuộn phim có trợ thị hay trợ thính bằng tiếng mẹ đẻ, hay những trận thể thao hoặc các trò giải trí mà khả năng ngoại ngữ không bị đòi hỏi. Đời sống của họ cần nhiều sự chú ý và sự phục vụ của xã hội và của người thân.

Ngược lại, gia đình của họ nhìn họ như là gốc cây cổ thụ, là nguồn nước, là giống nòi. Không nhiều thì ít, sự suy nghĩ của họ ảnh hưởng đến những quyết định của hậu duệ, những người có thể đóng góp rất nhiều trong tiến trình làm giàu, làm đẹp quê hương.

Tư tưởng “Đại Đoàn Kết Dân Tộc” cần đi kèm với chánh sách giúp thế hệ này giữ gìn truyền thống và vạch lối cho con cháu tìm về với tổ quốc. Nếu được, chánh sách nên có các dự án tạo những cộng đồng có không gian xanh và phục vụ y tế gần kề cho người lớn tuổi mà kiều bào có thể dể dàng gia nhập. Chính sách cũng nên cho phép họ thường trú không hạn định.

Vấn đề ở đây là: “đoàn tàu khó di chuyển nếu đầu tàu không chạy!” - Giúp họ chính là tạo điều kiện cho con cháu họ hợp tác.

Đối với thế hệ từ 45 đến 65 tuổi, đại đa số vẫn còn khỏe mạnh. Họ cố duy trì sự tự do và phong độ của thể chất. Về vấn đề kinh tế, họ khá thành đạt và vững vàng hơn thế hệ trước. Nếu có khả năng tài chánh, thế hệ này muốn đầu tư. Một trong những đầu tư họ có thể làm là tạo môi trường sống tốt cho tập thể lão thành vừa mới nêu trên.

Họ còn lo nghĩ nhiều về tương lai của con cái cũng như sự an bình của nếp sống hiện tại. Đối với những người tha thiết với nơi chôn nhau cắt rún, một cảnh hai quê làm họ trăn trở vô cùng. Có không ít cá nhân đã cắn răng chọn một trong hai, mà khi đã chọn thì cuối cùng có thể mất cả! Chính sách đối với họ nên nhắm vào sự củng cố an bình cho gia đình họ.

Trong những năm gần đây, vấn đề tạo điều kiện cho kiều bào sở hữu một mái ấm ở quê nhà vẫn còn hạn chế đối với đại đa số. Thêm vào đấy, vấn đề liên quan đến thủ tục đăng ký như tạm trú, thường trú, kinh doanh, cũng như phục vụ y tế, vv… mặc dầu càng ngày càng thông thoáng … nhưng đối diện với nhân viên ở những nơi có thẩm quyền, kiều bào vẫn còn chạm trán với quan liêu và lạnh cảm ! “Nơi nào có cò là nơi ấy có khó khăn”, một quan sát khó phản biện. Những chạm trán này dĩ nhiên không xảy ra hàng ngày cho đến khi đối mặt; nhưng chúng làm tăng độ biện chứng cho những ai không muốn người thân mình rời tổ ấm và dĩ nhiên cũng làm chồn chân cho những ai muốn trở về dẫu ngắn hay lâu.

Trên phương diện tinh thần, sau nhiều năm làm việc và lo gây dựng gia đình, họ muốn có những khoảng thời gian ngơi nghỉ. Thế hệ này thích du lịch; và nếu có điều kiện cũng như hoàn cảnh cho phép, họ thường đi nhiều lần trong năm. Những người có con cái trưởng thành và đã ra riêng thì bắt đầu tìm đến với bạn bè và thường hồi tưởng về quá khứ.

Họ thường nghĩ đến những vấn đề duy tâm và thích tham gia vào công việc xây dựng cộng đồng. Mỗi năm, họ có thể dành ra một tháng hay hơn để đóng góp vào các công tác xã hội, giáo dục, và tâm linh. Nếu chính sách có thể tạo điều kiện cho họ gia nhập hoặc lập hội thì họ có thể dành thời giờ ấy trong việc dựng nước.

Một điều đáng lưu ý là thế hệ này đã sống, chứng kiến, hoặc có tham dự trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam. Thế nào chăng nữa vẫn có người còn định kiến, không tin vào những gì chính quyền hiện tại đã và đang cố gắng làm.

Vấn đề nêu ra không phải là “tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa trí thức kiều bào với trí thức và các đơn vị trong nước” mà thôi - mặc dầu rất quan trọng nhưng tư tưởng ấy chỉ là “Đoàn Kết” chứ không là “Đại Đoàn Kết”! Trên góc cạnh này, nhiều “Đoàn Kết” không thể tạo ra “Đại Đoàn Kết”.

Ngược lại, thiếu sự cảm thông và đồng lòng của muôn dân, “Đoàn Kết” riêng biệt khó có thể hoạt động cho có hiệu quả tốt khi những người có khả năng không thể hội nhập vì bị chi phối bởi nhiều ngoại lực trong đó có ảnh hưởng của gia đình, của xã hội chung quanh, và của cơn đau nội tâm.

Từ 25 đến 45 tuổi, thế hệ này đang miệt mài với công việc mưu sinh, sáng tạo, quản lý… Nói chung họ rất bận rộn vì xã hội họ đang sống chung cần nhiều hợp tác năng nổ của họ. Vấn đề tạm gác công ăn việc làm đối với họ rất khó khăn.

Hơn nữa, trong thế hệ này, đại đa số trí thức đang thu thập tinh hoa của công nghệ tiên tiến ở xứ khách. Trong công việc, họ tùy thuộc vào sự trợ giúp của dung cụ hiện đại rất nhiều. Lắm lúc họ chỉ có thể đóng góp khi ta đến với họ hơn là ngược lại. Bởi vậy, chính sách nên có điểm nhấn mạnh đến vấn đề đầu tư ở nước người, tạo cầu nối để đưa những công việc phụ về trong nước, đồng thời gửi người đi tu nghiệp để chuẩn bị cho công nghệ chuyển giao.

Dĩ nhiên, cũng có một số cá nhân trong thế hệ này đã thành công rất sớm. Họ có công ty riêng hoặc đang nắm nhiều vai trò quan trọng trong các tổ chức kinh doanh trên thế giới. Họ không ngại hoạt động ở bất kỳ nơi nào miễn là nơi ấy đáp ứng được nhu cầu bành trướng kinh tế của họ. Đới với những cá nhân này, chính sách cần làm thông thoáng vấn đề đăng ký kinh doanh, thuế má, chuyển ngân. Thí dụ: cơ chế một cửa là hướng đi đúng nhưng luật phải minh bạch, rõ ràng và không để tùy thuộc vào sự diễn đạt “ngẫu hứng” của từng cá nhân hành chính.

Nói chung, cơ chế và chính sách nên đưa cái khó cho chính phủ giải quyết và giúp thông qua thủ tục hành chính một cách dể dàng cho dân. Càng tiến gần về với mục tiêu ấy, chính sách càng trọn vẹn.

Thế hệ này có một sự lo lắng rất lớn đó là vấn đề giáo dục của con cái; và các cháu lại thường khó chấp nhận sự thay đổi của môi trường sống và học tập. Nếu được đề nghị chuyển công tác về làm việc tại một nước có nền giáo dục kém hơn, họ thường chỉ chấp nhận khi nơi đó có những trường học quốc tế nổi tiếng và phù hợp với bức thang giáo dục của con mình trong tương lai. Giáo dục là quốc sách trước hết cần được cải tiến.

Vì những lý do trên, nếu cơ chế và chính sách không tìm được cách giải quyết thì không những kiều bào trong thế hệ này đã không hợp tác được nhiều mà nước nhà còn có thể chảy máu chất xám khi du học sinh lại trở thành kiều bào mới! Mặc dầu các vấn đề này khó có thể giải quyết nhanh chóng nhưng là những vấn đề cấp bách cần phải tu chỉnh …

Đối với thế hệ từ 25 tuổi trở xuống, họ đang bận rộn nhìn tới. Phần lớn còn đang lần hướng. Họ có thể bỏ nhiều năm sau khi ra trường để thử việc và tìm cho mình một môi trường sống, và hoạt động theo ý thích của mình. Họ có thể là những con ngựa chứng, nhưng thật sự trong lòng vẫn đang tìm những đối tượng mẫu để hòa nhập. Trong 4 thế hệ, đây là thế hệ tương đối dể bị lôi cuốn nhất.

Ngược lại, phần lớn họ ít bị ràng buộc về vấn đề gia đình. Họ muốn hy sinh cho những ý thức cao quý. Nếu được gia đình khuyến khích và ủng hộ, họ có thể vượt rất xa. Kiều bào thuộc lứa tuổi này về thăm quê cha đất tổ là do sự tò mò. Nếu không có sự chia sẽ nhận thức và ảnh hưởng từ cha mẹ, đối với họ tổ quốc là nơi họ sinh ra và lớn lên.

Nhưng họ chính là thế hệ mà đất nước cần trong tương lai. Trong vòng một thập niên kế tiếp, họ lại thuộc vào thế hệ vừa bàn. Nếu chính sách không quan tâm đến họ bây giờ, thì chính sách sẽ mãi còn lẫn quẩn về sau.

Để được sự hợp tác của kiều bào trong thế hệ này, chính sách phải có thêm những chương trình giao lưu - Thí dụ: “Nối vòng tay sinh ngữ” là chương trình mà họ có thể chung sống và trao đổi với tuổi trẻ trong nước (vừa dạy, vừa học, vừa chơi). Phí tổn cho họ về thăm quê hương thì họ trả một phần, một phần do các bạn trong nước trả, và phần còn lại được trích ra từ ngân sách của chính phủ, hoặc từ quỹ đóng góp bởi các mạnh thường quân. Nếu cứ 1 bạn về từ hải ngoại, có 3 hoặc 4 bạn trong nước tham gia vào chương trình thì mọi bên đều có lợi, không những cho hiện tại mà cho cả mai sau! Biết đâu chính vì những chương trình như thế mà kiều bào trong thế hệ này lại không trở thành mồi lửa giúp cho đầu tàu lăn bánh!!!

Qua những nét họa căn bản nêu trên, so với người dân trong nước, chúng ta có thể nhận thấy kiều bào không suy nghĩ khác cho lắm. Nói chung, chính phủ nên đặt trên hết việc tạo điều kiến thuận lợi cho dân trong nước sinh sống làm ăn. Một khi dân tin vào đường lối của chính phủ, tuân theo pháp luật nghiêm chỉnh, hết mình hậu thuẫn chính sách của chính phủ thì lúc ấy không cần kêu gọi, kiều bào sẽ hết mình hợp tác. Chim sẽ về đậu ở đất lành.

Nói như thế không có nghĩa là để tầm thường hóa sự đóng góp của kiều bào. 20 năm từ khi đất nước bắt đầu đổi mới, kiều bào đã và đang đóng góp rất nhiều trong sự phát triễn kinh tế. Tuy nhiên, họ không thể nào tăng tốc khi chính người trong nước không tăng tốc (hoặc không cho họ cơ hội để tăng tốc); họ không thể nào đóng góp lớn hơn khi có nhiều người trong nước đi tắt, đi đêm, làm giàu bất chính để ăn trên ngồi trước, để con em được tiến thân dầu không có năng lực. Khi người trong xã hội còn sống tùy vào “nhất thân, nhì thế, …” thì kiều bào trí thức chỉ có thể đóng góp giới hạn mà thôi.

Quan trọng không kém, chính sách không nên đề cao sự hợp tác của kiều bào một cách thái quá. Trong khi trong nước có rất nhiều nghĩa sĩ, hiền tài đã và đang muốn đóng góp nhưng lại bị bỏ quên, làm như thế lại vô tình cô lập kiều bào. Cơ chế và chính sách nào còn thiếu sự công bằng trong vấn đề sử dụng con người cho đúng chổ, thù lao cho đúng công, thì khó có thể thuyết phục kiều bào nhập cuộc hết lòng.

Tóm lại, trong khi hình thành cơ chế và chính sách, chính phủ phải hiểu kiều bào, ít nhất qua những nét họa căn bản nêu trên, để tạo ra những điều kiện thuận tiện cho việc hợp tác giữa kiều bào và người trong nước. Nằm trong những điều kiện đó là sự công bằng dựa trên lao động khả năng; được vậy thì mới có hy vọng rằng muôn dân, trong và ngoài nước, sẽ hết lòng chung tay, hợp tác trong sứ mệnh kiến thiết và xây dựng quê hương.