NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Giải pháp và ứng dụng Công Nghệ Thông Tin - Kinh nghiệm của Nhật Bản

Phổ cập Tin học ở Nhật Bản

Nhật Bản , như tất cả các quốc gia , hiểu rằng Công Nghệ Thông Tin ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sức cạnh tranh của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Do vậy, việc phổ cập Tin học nói riêng và cải cách giáo dục nói chung được đặc biệt quan tâm.

Định hướng chung

Việc phổ cập Tin học tại Nhật Bản gồm các giai đoạn như sau :

- Lãnh đạo trong ngành giáo dục đào tạo phải có nhận thức về tầm quan trọng của Công Nghệ Thông Tin , có kiến thức về ứng dụng Công Nghệ Thông Tin.

- Giáo viên phổ thông phải được đào tạo để có khả năng ứng dụng Công Nghệ Thông Tin , giảng dạy Tin học trong nhà trường.

- Máy tính được thiết lập và nối mạng trong các trường Phổ Thông.

- Xây dựng các phần mềm giảng dạy và học tập.

- Đưa Tin học thành một môn học chính thức trong chương trình Phổ Thông .

Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng nhận thấy việc phổ cập Tin học nhà trường là một bước trong chương trình cải cách giáo dục đào tạo quốc gia. Phổ cập Tin Học phải song song với ứng dụng tin học để thay đổi, nâng cao phương pháp giảng dạy, cách thức quản lý trong hệ thống giáo dục đào tạo.

Cách thức thực hiện

Bộ giáo dục đào tạo kết hợp với Bộ Bưu Chính Viễn Thông , Bộ Ngoại Thương và Công Nghiệp để thực hiện việc phổ cập Tin học. Bộ giáo dục đào tạo xây dựng và công bố các tiêu chuẩn của chương trình giảng dạy Phổ Thông trên toàn quốc năm 1998. Theo đó, tin học trở thành môn học chính thức trong chương trình giảng dạy Phổ Thông từ năm 2002 đối với bậc tiểu học và trung học cơ sở , từ năm 2003 đối với bậc trung học Phổ Thông ( ở Nhật Bản, tiểu học là 6 năm, trung học cơ sở 3 năm, và trung học Phổ Thông 3 năm ).

Từ 1998 đến năm 2000, Bộ Bưu Chính Viễn Thông Nhật Bản kết hợp với Bộ giáo dục đào tạo xây dựng, kiểm tra, đảm bảo việc kết nối hệ thống mạng tốc độ cao giữa các trường học ( 1076 trường ). Tổng chi phí cho dự án này là 250 triệu USD. Tiếp theo Bộ Bưu Chính Viễn Thông xây dựng đề án hỗ trợ, giảm chi phí kết nối Internet cho các trường Phổ Thông từ năm 1999.

Bộ Ngoại Thương và Công Nghiệp Nhật Bản hợp tác chặt chẽ với Bộ giáo dục đào tạo để xây dựng các dự án, chương trình đưa máy tính và mạng máy tính vào trường học, tạo môi trường giáo dục đào tạo có sự hỗ trợ của Công Nghệ Thông Tin. Từ 1994, khi mạng máy tính và Internet còn rất mới mẻ trên thế giới, dự án kết nối mạng 100 trường học ( 100 - School Networking Project ) đã được triển khai để kết nối, trao đổi thông tin giữa các trường học và kết nối trường với mạng Internet. Dự án này kéo dài từ 1994 - 1998, mỗi năm được cấp 2,5 triệu USD, đóng vai trò như chương trình thí điểm phổ cập Tin học toàn quốc sau này. Dự án cũng xây dựng các ứng dụng Công Nghệ Thông Tin hỗ trợ giảng dạy và học tập trong trường.

Tiếp theo đó, chương trình xúc tiến, đẩy mạnh ứng dụng Công Nghệ Thông Tin trong giáo dục đào tạo được thực hiện từ 1998 - 1999 với các hoạt động như đào tạo Công Nghệ Thông Tin cho Giáo viên Phổ Thông, xây dựng các hệ thống thông tin phân tán phục vụ giáo dục đào tạo. Chương trình này gồm 63 dự án có tổng chi phí 100 triệu USD. Trong khuôn khổ các dự án, kỹ sư hệ thống Công Nghệ Thông Tin của các công ty Công Nghệ Thông Tin được gửi đến các trường để tham gia, cộng tác xây dựng, quản lý hệ thống mạng máy tính.

Dựa trên kinh nghiệm từ dự án kết nối mạng 100 trường học, dự án E-square ( e2 – educational electronic ) được triển khai từ năm 1999 với kinh phí 2,5 triệu/ năm. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành hệ thống mạng máy tính và kết nối Internet các trường Phổ Thông trên toàn quốc, hoàn thiện cơ sở hạ tầng Công Nghệ Thông Tin, hệ thống phần mềm giáo dục đào tạo, các phương pháp giảng dạy có sự hỗ trợ của Công Nghệ Thông Tin... để đưa Tin Học thành môn học chính thức trong nhà trường từ năm 2002.

Bắt đầu từ năm 2000, một chương trình đào tạo kéo dài trong 3 năm được triển khai trên toàn quốc với mục đích cung cấp kiến thức Công Nghệ Thông Tin cho toàn bộ Giáo viên Phổ Thông, giúp Giáo viên có khả năng ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giáo dục đào tạo, hơn nữa, có khả năng giảng dạy môn Tin học trong nhà trường. Cũng trong thời gian này, giảng dạy Tin học được thí điểm ở một số trường Phổ Thông . Song song với đào tạo Giáo viên, việc xây dựng và cung cấp các văn bản hướng dẫn, sách giáo khoa Tin học và các thông tin liên quan đến việc giảng dạy Tin học ở các trường Phổ Thông cũng được tiến hành. Tiếp đó là xây dựng phần mềm cho giáo dục đào tạo và thư viện phần mềm giáo dục đào tạo tại các trung tâm giáo dục đào tạo.

Thay cho lời kết

Phổ cập Tin học ở Nhật Bản bắt đầu từ năm 1994 và phải trải qua một thời gian dài chuẩn bị - thí điểm, tận đến năm 2002 mới được tiến hành đồng loạt ở các trường Phổ Thông trên toàn quốc. Mục tiêu cuối cùng đã đạt được là đưa tin học thành môn chính thức trong chương trình Phổ Thông và máy tính được lắp đặt - nối mạng ở tất cả các trường Phổ Thông. Theo thống kê năm 2005 của Bộ giáo dục đào tạo – Văn Hoá – Thể Thao – Khoa Học – Công Nghệ Nhật Bản, số máy tính trung bình ở các trường tiểu học là 30,8 ở các trường trung học cơ sở là 46,5 và ở các trường trung học Phổ Thông là 107,6 máy. Tỉ lệ trung bình Giáo viên tiểu học có thể sử dụng máy tính, ứng dụng Công Nghệ Thông Tin là 95,3%, Giáo viên trung học cơ sở là 94,7%, và Giáo viên trung học Phổ Thông là 95,4%. Tỉ lệ trung bình Giáo viên tiểu học có thể giảng dạy, hướng dẫn sử dụng máy tính cho học sinh là 80,1%, Giáo viên trung học cơ sở là 60,5%, và Giáo viên trung học Phổ Thông là 55,1%.

Bài viết có sử dụng các số liệu từ Bộ Giáo Dục – Văn Hóa - Thể Thao – Khoa Học Công Nghệ Nhật Bản ( http://www.mext.go.jp ); Bộ Kinh Tế - Thương Mại – Công Nghiệp ( http://www.meti.go.jp ); Bộ Nội Vụ và Truyền Thông ( http://www.soumu.go.jp ); Trung Tâm Giáo Dục Tin Học Nhật Bản ( http://www.cec.or.jp ).

3 mục tiêu phổ cập Tin học của chính phủ Nhật Bản

1. Nâng cao khả năng sử dụng máy tính - mạng máy tính - Internet, ứng dụng Công Nghệ Thông Tin - Truyền Thông cho mọi học sinh Phổ Thông.

2. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin - Truyền Thông để xây dựng, phát triển các phương pháp giảng dạy mới trực quan, sinh động, dễ hiểu hơn cho học sinh, nâng cao chất lượng giảng dạy - học tập.

3. Nâng cao khả năng trao đổi thông tin – liên lạc giữa người dân địa phương, gia đình và nhà trường thông qua hệ thống mạng thông tin máy tính và Internet.

Để phổ cập Tin học, thời gian và kinh phí cho đào tạo Giáo viên , trang bị máy tính, mạng máy tính có kết nối Internet, xây dựng phần mềm giáo dục đào tạo của Chính Phủ Nhật Bản là không nhỏ. Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức toàn cầu hiện nay, chắc chắn việc phổ cập Tin học thành công đã đóng góp rất nhiều không chỉ cho nền giáo dục đào tạo Nhật Bản mà còn cho sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản - nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới.

Bùi Quang Hưng