NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Phát triển rau-hoa quả công nghệ cao ở Việt Nam - Kinh nghiệm từ Australia - TS Nguyễn Quốc Vọng , Kiều bào Úc

Đôi nét về sản xuất nông nghiệp và ngành sản xuất rau, hoa, quả của Australia

Australia có diện tích tự nhiên 768 triệu hec ta (7.680.000 km2, rộng gấp 23 lần Việt Nam. Tuy có đến gần 2/3 diện tích (436 triệu hec ta) là đất có thể canh tác, nhưng Australia chỉ sử dụng có 46 triệu hec ta, gồm 18 triệu hec ta trồng trọt và 28 triệu hec ta đồng cỏ.

Lao động nông nghiệp của Australia chỉ có 372.900 người, nhưng đã sản xuất một lượng lương thực và vải vóc đủ nuôi không những dân số của cả nước (20 triệu người) mà còn có thể cho 56 triệu người nữa. Như vậy, một nông dân Australia có thể nuôi 204 người. Đây là một kỷ lục chưa có nước nào trên thế giới có thể so sánh được, kể cả Hoa Kỳ. Trình độ của nông dân Australia thấp hơn so với những ngành nghề khác trong nước. Chỉ có khoảng 31% nông dân Australia có trình độ đại học hoặc cao đẳng (trung bình toàn quốc 52%). Hộ nông dân có trình độ đại học hoặc cao đẳng có thu nhập khoảng 63.768 USD /năm, cao hơn hẳn so với hộ không có trình độ giáo dục cao, chỉ 44.076 USD /năm (Kipatrick, 1996). Trong vòng 20 năm qua, mặc dù sản lượng nông sản của Australia tăng đều mỗi năm nhưng số nông dân lại giảm đi khoảng 15%. Như vậy, mỗi hộ nông dân nay phải quản lý nông trại với một diện tích lớn hơn xưa. Giá trị nông sản của Australia đạt khoảng 25 tỷ USD /năm, chiếm khoảng 3,8% giá trị tổng sản lượng quốc gia, trong đó xuất khẩu đạt 18-20 tỷ USD, chiếm 75-80% tổng sản lượng nông sản. Ngành làm vườn hay có thể gọi là ngành sản xuất rau, hoa quả của Australia gồm sản xuất rau, hoa, quả, hạt (hạt dẻ, hạt macadamia…) và vườn ươm có giá trị sản lượng khoảng 5, 3 tỷ USD vào năm 2005-2006. Đây là một ngành không những có giá trị kinh tế lớn, mà còn giữ một vị trí xã hội đặc biệt quan trọng vì sử dụng nhiều lao động nhất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả nhất và có nhiều cơ hội xuất khẩu nhất.

Australia nằm ở nam bán cầu và có các vùng khí hậu đa dạng, từ nhiệt đới đến ôn đới và hàn đới. Nhờ đó, nông nghiệp Australia có lợi thế trong sản xuất những loại nông sản trái vụ. Vào năm 2004-2005, ngành làm vườn Australia đã xuất khẩu gần 1 tỷ USD, trong đó có khoảng 600 triệu USD rau, quả, trái cây tươi và 290 triệu USD rau, quả chế biến. Cũng trong năm đó, Australia nhập khẩu 272 triệu USD rau, quả tươi và 648 triệu USD rau, quả chế biến. Các mặt hàng rau, quả tươi nhập khẩu của Australia mà Việt Nam có thể tham khảo là trái bơ, bưởi, tỏi, tiêu, hạt điều và hoa tươi. Đối với mặt hàng chế biến, Australia nhập khẩu các loại nước trái cây như nước cam, ngô, đậu Hà Lan đông lạnh, các loại mứt trái cây và một số trái cây khô như nho khô, trái mơ khô.

Về tổ chức và chính sách :

Để phát triển ngành làm vườn, Australia đã xây dựng chính sách 3 điểm: Cải thiện mức lãi trong thu nhập của nông dân; Tăng cường sức cạnh tranh của mặt hàng rau, hoa, quả; Nâng cao tính bền vững của ngành này. Để triển khai 3 điểm nói trên, Nhà nước Australia đã có sáng kiến tổ chức nhiều cơ quan hỗ trợ về nghiên cứu, ứng dụng TBKT vào sản xuất, tiếp thị, kiểm dịch… để tạo sự đồng bộ trong dây chuyền sản xuất. Ví dụ, cơ quan Làm vườn - HAL (Horticulture Australia Limited) có trách nhiệm xây dựng chiến lược và định hướng phát triển cho toàn ngành; cơ quan Nghiên cứu và phát triển kỹ nghệ nông thôn RIRDC (Rural Industries Research and Development Corporation) xét duyệt và hỗ trợ tài chính cho những đề án nghiên cứu về rau, hoa, quả sát với chiến lược mà HAL đã đề ra; Hội đồng Tiếp thị rau, hoa, quả HAMC (Horticultural Market Access Committee) đề ra chế độ ưu tiên trong việc tìm kiếm thị trường cho ngành hàng nào đang là trọng tâm của chiến lược phát triển; cơ quan Kiểm dịch và thanh tra AQIS (Australian Quarantine and Inspection Service) vừa là nơi cung cấp thông tin về chế độ kiểm dịch - SPS của thị trường xuất khẩu vừa đảm nhiệm dịch vụ thanh tra, kiểm dịch cho hàng xuất khẩu. Nhờ có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, bộ, ngành với các hiệp hội tư nhân, ngành làm vườn Australia đã đáp ứng tương đối tốt tình hình thực tế, tạo một mạng lưới nghiên cứu và sản xuất khít khao từ a đến z, ít bị lãng phí về nhân sự và tài chính. Tổ chức kiểu này mang lại hiệu quả cao, đồng thời làm cho các nhà đầu tư yên tâm hợp tác.

Về ứng dụng công nghệ cao:

Việc thành lập các Trung tâm Xuất sắc (Centre of Excellence) để nghiên cứu những công nghệ cao nhằm xây dựng mô hình giải quyết dứt điểm từng loại cây /con đã đóng góp cho ngành làm vườn Australia những thành công đáng kể. Đây là những trung tâm nghiên cứu trọn gói. Từ khâu chọn giống, canh tác, thu hoạch, tiếp thị, đặc biệt khâu quản lý sau thu hoạch và kiểm tra chất lượng do các chuyên viên thuộc các ngành nghề và cơ quan khác nhau nhưng lại cùng nhau hợp tác làm việc trong mỗi dự án. Quy trình sản xuất tốt GAP (Good Agriculture Practice) cũng đã được nghiên cứu, tổ chức và nghiêm chỉnh thực hiện trong từng khâu của dây chuyền sản xuất và cho từng loại cây /con để nông sản luôn đảm bảo an toàn vệ sinh, đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nhà sản xuất và người tiêu thụ trong và ngoài nước. Nhờ những mô hình triển khai ở các Trung tâm Xuất sắc, ngành rau, hoa, quả đã trở thành một ngành mũi nhọn của nông nghiệp Australia. Ngày nay, hầu như toàn bộ vành đai xanh ven các thành phố lớn hoặc những vùng làng nghề xa xôi đã sản xuất rau, hoa, quả theo công nghệ cao, vừa có năng suất cao vừa bảo đảm an toàn vệ sinh. Năng suất 500 tấn cà chua hoặc 450 tấn dưa chuột /ha/năm không còn là một con số không tưởng. Nông gia trồng rau, hoa Australia đã có một thu nhập khoảng hơn nửa triệu USD /năm từ một nhà kính chỉ có diện tích 5.000 m2.

Những vấn đề cần tập trung giải quyết để phát triển ngành rau, hoa, quả công nghệ cao ở Việt Nam Để phát triển ngành làm vườn công nghệ cao, Việt Nam phải luôn hướng đến việc xây dựng một ngành làm vườn hiện đại, có khả năng sản xuất lượng hàng hóa lớn, chất lượng cao, an toàn vệ sinh và giá rẻ. Muốn làm được như vậy, Việt Nam phải coi trọng việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao để sản xuất ngành hàng theo xu thế mới, sớm triển khai công cuộc hiện đại hoá nông thôn để thu hút đầu tư, đồng thời đưa chương trình dạy nghề vào nông thôn để chất xám được sử dụng trên đồng ruộng. Việc xây dựng quy trình sản xuất tốt và ký kết thực hiện những quy định về kiểm dịch (SPS - Sanitary and Phytosanitary) cũng cần phải chuẩn bị để hỗ trợ cho xuất khẩu. Mô hình Việt Nam có thể tham khảo là các Trung tâm Xuất sắc - nơi có khả năng kết hợp các nhà khoa học để nghiên cứu, ứng dụng những công nghệ cao khả thi cho Việt Nam. Những công nghệ cao này phải giải quyết những yếu tố cơ bản sau:

Thứ nhất, về môi trường:

Nghiên cứu các kỹ thuật nhà lưới, nhà kính; kỹ thuật phòng trừ tổng hợp (IPM; kỹ thuật ghép gốc hoặc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gốc sinh học - Bt, thuốc bảo vệ thực vật nhẹ (soft chemical) và việc ứng dụng thiên địch, nấm để giữ gìn môi trường luôn sạch.

Thứ hai, về giá thể:

Nghiên cứu các phương pháp thủy canh, bán thủy canh, trồng cây trên mụn xơ dừa, than bùn, tro trấu… hoặc phương pháp xử lý đất để giá thể luôn sạch.

Thứ ba, việc xử lý nước :

Dùng cho tưới tiêu, ứng dụng hệ thống mương máng thu hồi nước mưa, hoặc hệ thống tưới nhỏ giọt nhằm cung cấp tối ưu nhu cầu nước cho cây nhưng lại tiết kiệm nước… là những ứng dụng thực tế có hiệu quả, cần được đẩy mạnh áp dụng.

Thứ tư, nghiên cứu những công thức dinh dưỡng :

Thích hợp nhất cho từng loại cây và trong từng thời kỳ. Việc sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cung cấp dinh dưỡng đều đặn cho cây sẽ làm tăng thêm hiệu quả kinh tế cho sản xuất vì có thể kéo dài thời kỳ thu hoạch. ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt vừa giúp nâng cao năng suất cây trồng, vừa giảm thiểu việc mất chất dinh dưỡng do bị trôi.

Thứ năm, giới thiệu hoặc lai tạo những giống cao sản có chất lượng cao :

Thích hợp với điều kiện sản xuất trong hoặc ngoài nhà kính, hoặc xây dựng những mô hình “tổ hợp” để sản xuất hàng hoá khối lượng lớn.

Thứ sáu, việc biên soạn, xây dựng quy trình sản xuất tốt cấp quốc gia :

( VietGAP ) là cần thiết, nhưng xây dựng mô hình sản xuất rau, hoa, quả theo tiêu chí VietGAP mới là yêu cầu bức thiết hàng đầu cho nông nghiệp Việt Nam hiện nay, bởi vì mô hình này sẽ hướng dẫn nông dân thực hành nông nghiệp tốt. Theo Báo cáo của FAO (2006), thị trường nhập khẩu thế giới về rau, hoa, quả lớn gấp 20 lần thị trường lúa gạo. Như vậy, sản xuất rau, hoa, quả theo tiêu chí GAP sẽ vừa thoả mãn yêu cầu của thị trường nội địa, đồng thời cũng sẽ tăng lượng xuất khẩu, đem ngoại tệ về cho đất nước. Vị trí trung tâm ở Đông Nam á sẽ giúp Việt Nam xuất khẩu rau, hoa, quả sang các nước trong khu vực ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ấn Độ và Australia. Tình trạng sụt giảm xuất khẩu rau, quả liên tục 5 năm liền của Trung Quốc là một kinh nghiệm cho thấy không có thị trường nào ổn định cho nông sản nếu không giải quyết được các yêu cầu cơ bản về số lượng, chất lượng, giá cả và an toàn vệ sinh.