NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Khu vực tư nhân - nguồn huyết mạch kinh tế chưa khai thông

Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI), không những là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trên bình diện xã hội chính trị, góp phần hình thành một xã hội công dân, qua đó, người dân có được vị thế kinh tế xã hội độc lập hơn và có điều kiện phát huy khả năng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế tư nhân trong nước. Tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển bền vững, khu vực kinh tế tư nhân trong nước là nguồn lực của sức mạnh kinh tế, vốn tri thức, là niềm tự hào của dân tộc. Trong nhiều thập niên qua, nước Nhật được thế giới thán phục bởi những thành tựu khoa học kỹ thuật mà họ đã đạt được. Hình ảnh một nước Nhật thịnh vượng và hiện đại gắn liền với những sản phẩm, thương hiệu danh tiếng thế giới: Canon, Toyota, Mitsubishi, Sony… Tại Hoa Kỳ, chỉ hơn một thập niên trước đây, giới tiêu thụ vẫn còn nhìn các sản phẩm công nghệ của Hàn Quốc với cập mắt đầy ngờ vực. Ngày nay, thương hiệu Samsung đang tràn ngập thị trường lớn nhất thế giới này và bạn có thể dễ dàng bắt gặp các xe Hàn Quốc Huyndai, Kia… ở mỗi góc phố, mỗi đoạn đường đi qua. Hình ảnh của Hàn Quốc hôm nay gợi nhớ một Nhật Bản vươn mình của thập niên 60. Thành quả này có được chính là do họ tạo được những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong suốt hai thập niên qua. Kể từ khi nhà nước từ bỏ vai trò độc quyền hoạt động kinh tế và công nhận thành phần kinh tế tư nhân, khu vực này không ngừng lớn mạnh và chính sách mở cửa mậu dịch đã trở thành nhân tố chính dẫn đến sự phát triển khá mau lẹ của nền kinh tế Việt Nam. Giáo sư David Dapice đã nhận định: Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2000 cắt giảm rào cản thủ tục đối với các doanh nghiệp tư nhân là quyết định quan trọng nhất kể từ khi Việt Nam thực hiện cuộc cải cách nông nghiệp cuối thập niên 80 . Mặt khác, các nhà tư vấn, các tổ chức kinh tế tài chính quốc tế lại rất quan ngại về sự phát triển mất cân đối trên quy mô phân bố doanh nghiệp. Báo cáo phát triển 2006 của Ngân hàng Thế giới ( World Bank ) đã nhận định: “Các doanh nghiệp đang làm ăn phát đạt thường có qui mô hoặc là rất nhỏ (trường hợp doanh nghiệp tư nhân trong nước) hoặc rất lớn (doanh nghiệp FDI). Sự thiếu vắng các doanh nghiệp ở khoảng giữa cho thấy rằng vẫn còn những rào cản trên con đường lớn mạnh của các doanh nghiệp nhỏ trong nước.”

Trong khuôn khổ bài viết, khu vực kinh tế tư nhân thường được đề cập đến như một tổng thể bao gồm các doanh nghiệp FDI, song trọng tâm thảo luận sẽ xoáy sâu vào khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

Bối cảnh

Chính sách tập thể hoá sản xuất nông nghiệp thực hiện tại miền Nam sau năm 1975 đã gặp sự phản kháng tiêu cực của dân chúng và hệ quả là trình trạng năng suất và sản lượng thấp. Mặc dù diện tích canh tác tăng 30% và có những đầu tư đáng kể vào các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh phía nam, sản lượng ngũ cốc trên cả nước trong 11 năm đầu từ 1976-1987 tính trên đầu người hầu như giậm chân tại chỗ, chỉ tăng 28% so với tỷ lệ gia tăng dân số 27%. Khi chính sách cải cách nông nghiệp ban hành, ruộng đất được phân phối lại cho dân chúng, năng suất canh tác tăng nhanh rõ rệt. Chỉ trong vòng 8 năm sau (1987-1995), sản lượng lương thực tăng 65%, hay 40% tính theo đầu người .

Chính sách tư nhân hoá sản xuất nông nghiệp đã vực dậy khát vọng muôn đời của người dân là mong muốn được tự do làm ăn, tạo nên chuyển biến kinh tế tích cực và đồng thời góp phần cải thiện đời sống dân chúng. Số liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới ( World Bank ) cho thấy người nông dân được hưởng khoảng 80% trên giá gạo xuất khẩu so với 40% trên sản phẩm chè . Sản lượng nông phẩm từ đó không ngừng gia tăng mạnh; trong những năm gần đây, sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu đã vượt lên hạng 1 hoặc 2 trên thế giới. Mặt khác, do diện tích canh tác manh mún, công nghệ lạc hậu và năng lực quản lý yếu kém, khả năng khai thác tiềm năng kinh tế nông nghiệp vẫn còn hạn chế. Việt Nam hiện còn phải đương đầu với nhiều thách thức cam go khác như ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, năng suất và chất lượng sản phẩm.

Trên lãnh vực công thương nghiệp, với việc 1500 doanh nghiệp tư nhân và 130 ngàn công nhân miền Nam bị quốc hữu hoá và chuyển đổi thành 650 doanh nghiệp nhà nước sau năm 1975, các hoạt động doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn bị xóa sổ. Chủ trương xây dựng khu vực kinh tế công nghiệp theo mô hình kinh tế Liên Xô cùng với chính sách tập thể hóa nông nghiệp đã khiến nền kinh tế ngày một suy thoái với nạn lạm phát phi mã, lương thực thiếu hụt và kim ngạch xuất khẩu vào năm 1986 chỉ đạt 500 triệu USD .

Năm 1986, gần một thập niên sau khi Trung Quốc tiến hành cuộc cải cách kinh tế theo định hướng thị trường, Việt Nam mới khởi động cuộc cải cách công nghiệp, bắt đầu bằng việc xóa bỏ chế độ bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước, và thông qua Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Làn sóng đầu tư nước ngoài bắt đầu gia tăng từ năm 1988. Năm 2000 có 1.525 doanh nghiệp FDI; vào đầu năm 2006, đã tăng lên 3.697 . Vào thập niên 90, nguồn vốn FDI đạt cao điểm 8.6 tỷ USD năm 1996. Sự tụt dốc của nguồn vốn FDI vào những năm sau đó được các nhà phân tích giải thích vì những nguyên chính như sự yếu kém của ngành kỹ nghệ phụ trợ (supplier industries), những trì trệ trong nỗ lực đẩy mạnh chính sách cải cách và cuộc khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997. Từ năm 2003, nguồn vốn FDI đã gia tăng trở lại, vượt nhanh trong hai năm qua, đạt 10.2 tỷ USD cho năm 2006 và trên 11 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2007.

Khung pháp lý đầu tiên cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước được thiết lập vào năm 1990 với sự ban hành Luật Doanh nghiệp Tư nhân và Luật Công ty. Nhưng dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân chính là Luật Doanh nghiệp ban hành tháng 1/2000. Chỉ có khoảng 5000 doanh nghiệp tư nhân vào trước năm 1991 nhưng trong giai đoạn 1991-1999, số lượng doanh nghiệp tự nhân đã tăng lên xâp xỉ 5000 doanh nghiệp mỗi năm . Từ 2001 – 2005, số doanh nghiệp tăng nhanh, mỗi năm số doanh nghiệp thực tế hoạt động tăng thêm 14.213 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động vào cuối năm 2005 lên 113.352 . Ở quy mô nhỏ hơn các doanh nghiệp tư nhân là các hộ kinh doanh. Theo cuộc điều tra về mức sống hộ gia đình thực hiện năm 2004, có khoảng 7,4 triệu hộ, tức khoảng một nửa tổng số hộ gia đình, có hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như là nguồn lợi tức chính hay lợi tức phụ trong khoảng thời gian nhàn rỗi giữa các vụ mùa .

Sự hình thành và lớn mạnh của của khu vực kinh tế tư nhân trong nước và nước ngoài đã xoay chiều hướng phát triển của nền kinh tế 180 độ. Kim ngạch xuất khẩu năm 1986 đạt 500 triệu USD, tăng lên 9.2 tỷ USD năm 1997, 35 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2007. Trong quá trình phát triển ấy, tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân không ngừng gia tăng, vượt khu vực kinh tế nhà nước trên hầu hết các chỉ số kinh tế quan trọng.

Song dù phát triển nhanh chóng, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô rất nhỏ. Chủ trương xây dựng vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước với sự bành trướng của các tổng công ty nhà nước, hiện là mối lo ngại về tình trạng “lấn sân”, vốn là trở lực chính của sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân, sẽ còn tiếp diễn. Trong bối cảnh của thời kỳ hội nhập hậu WTO, sự kém hiệu năng cố hữu của các doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển mất cân đối của các doanh nghiệp tư nhân có thể làm suy yếu năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, như nhận định trên tài liệu của Ngân hàng Thế giới ( World Bank ) : ” từ gốc độ của sự phân tối ưu theo qui mô doanh nghiệp và tính đến khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, có thể nói rằng khu vực tư nhân của Việt Nam không chỉ thiếu vắng các doanh nghiệp ở khoảng giữa, mà còn thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn.”

Sự bùng phát của khu vực kinh tế tư nhân

Kết quả của cuộc Điều tra giá trị thế giới (World Values Survey, WVS) thực hiện năm 2001 trên 65 quốc gia đã làm ngạc nhiên giới nghiên cứu phương Tây rằng người Việt Nam còn có chí kinh doanh hơn cả người Hoa và thái độ của những đối tượng tham gia trả lời điều tra của người Việt rất gần với thái độ của người Nhật. Sự năng động của người Việt đối với hoạt động kinh doanh một phần nào đó được giải thích vì Việt Nam có một dân số trẻ với khoảng hai phần ba dân số sinh sau năm 1975. Những so sánh quốc tế khác cho thấy tỷ lệ lao động ở nông thôn tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp tăng theo trình độ phát triển của quốc gia, nhưng “đặc biệt trường hợp của Việt Nam là bộ phận này phát triển nhanh hơn rất nhiều kể từ khi bắt đầu cuộc cải cách kinh tế”. Cuộc điều tra cũng rất chú ý đến tính “siêng năng một cách bất thường” của “những người dân của một đất nước có thể mô tả là tham công tiếc việc.”

Với một dân số trẻ năng động, siêng năng và cầu tiến, một khi có cơ hội, được tự do làm ăn buôn bán, các hoạt động kinh tế tư nhân nhanh chóng phát triển.

Trên thị trường lao động, hàng năm, Việt Nam có khoảng 1,4 đến 1,5 triệu người gia nhập. Nhưng các doanh nghiệp nhà nước cũng chỉ cung cấp chưa tới 7% tổng số việc làm, do đó, sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân là khả năng duy nhất có thể giải quyết công ăn việc làm cho người dân và mở lối ra cho lao động dư dôi ở khu vực nông nghiệp, đặc biệt là phụ nữ trẻ . Trong giai đoạn 2000-2004, các doanh nghiệp nhà nước chỉ tiếp nhận 5% trên tổng số 4 triệu lao động gia tăng, trong khi đó có 60% lao động được thu nhận bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước, 25% bởi các hộ kinh doanh và các doanh nghiệp tư nhân không đăng ký, và 12% bởi các doanh ngiệp FDI .

Về vốn đầu tư, năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân trong nước chiếm 32%, so với 17% vốn FDI và 49% vốn nhà nước . Điều cần lưu ý là trong 49% vốn nhà nước, phần của doanh nghiệp nhà nước đầu tư chiếm chưa tới 20%, còn lại là từ ngân sách và vốn của chính phủ huy động .

Mức tăng trưởng ngành công nghiệp là chỉ số kinh tế quan trọng khác: khu vực kinh tế tư nhân trong nước vượt các doanh nghiệp nhà nước với mức tăng trưởng hàng năm, tăng trung bình từ 18-24% so dưới 10% của doanh nghiệp nhà nước và đóng góp 33% sản lượng công nghiệp, so với 30% của khu vực nhà nước .

Hoạt động xuất khẩu là khu vực hoạt động mạnh nhất của các doanh nghiệp FDI, đóng góp 58% , kế đó là khu vực kinh tế tư nhân trong nước .

Trên tổng sản lượng quốc gia (GDP) năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân chiếm 50% GDP, trong đó, doanh nghiệp tư nhân trong nước đóng góp 35%, và các doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 15%. Trên thực tế, GDP của khu vực kinh tế tư nhân còn cao hơn nhiều do sự tồn tại của khu vực kinh tế tư nhân không chính thức (shadow/informal), bao gồm doanh thu không tường trình của các doanh nghiệp đăng ký và không đăng ký. Theo kết quả của cuộc điều tra phối hợp của Ngân hàng Thế giới, Tập đoàn Tài chính Quốc tế, và Chương trình Phát triển Dự án Mê kông (WB/IFC/MPDF), tỷ lệ GDP của khu vực kinh tế tư nhân không chính thức tăng từ 30% năm 1997, lên 51% GDP năm 2001. Khi bao gồm khu vực không chính thức này, tỷ lệ GDP của khu vực kinh tế tư nhân tăng lên khoảng 57-67% .

Mặc dù phát triển nhanh chóng, song khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều mặt hạn chế.

Hạn chế và tiềm năng

Tình trạng tranh tối tranh sáng do luật pháp không nghiêm và nạn tham nhũng lan tràn là môi trường thuận lợi cho sự tồn tại của khu vực kinh tế tư nhân không chính thức rộng lớn, ước tính chiếm đến 50% GDP. Hiện trạng này được các nhà nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Á châu nhận định vừa là yếu tố tích cực, thể hiện khả năng thích ứng của các doanh nghiệp tư nhân trong môi trường kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế, nhưng đồng thời lại vừa giới hạn khả năng phát triển, tiếp cận và hội nhập của các doanh nghiệp hoạt động không chính thức đối với cộng đồng doanh nghiệp hoạt động chính thức trong nước và nước ngoài.

Hoạt động kinh tế không chính thức không những chỉ gồm các doanh nghiệp không đăng ký mà còn cả những thương vụ không khai báo nhằm lách luật, trốn thuế. Chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp, vì thế, gia tăng đáng kể vì những khoản tốn kém không chính thức cho các viên chức, khiến cho ngân sách nhà nước bị thất thoát. Theo cuộc điều tra của WB/IFC/MPDF thực hiện năm 2003, cứ 20% trên giá trị thương vụ không khai báo cho ngân hàng, khoản tốn kém riêng cho các viên chức tăng khoảng 50% . Các doanh nghiệp không đăng ký còn phải chịu nhiều thiệt thòi khác như không thể tham gia các hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp FDI, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, hoặc vây vốn ngân hàng. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp thức hoá các hoạt động kinh tế không chính thức, vì thế, xét về lâu dài, sẽ giúp cho các doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, ngân sách tăng thu, hoạt động kinh doanh minh bạch hơn, và do đó góp phần hạn chế tệ trạng tham nhũng.

Quy mô doanh nghiệp là hạn chế chủ yếu khác của các doanh nghiệp tư nhân trong nước. Theo điều tra năm 2004, các doanh nghiệp tư nhân qui mô lớn trong nước chiếm chỉ 0,3 % GDP trên tỷ phần 23.6% GDP của các doanh nghiệp qui mô lớn trong nước . Chỉ có 44 doanh nghiệp tư nhân trong nước – 17 doanh nghiệp trong số đó cổ phần với nhà nước - có vốn trên 33 triệu USD. Trong số hơn 60 ngàn doanh nghiệp tham dự cuộc điều tra, chưa đến 1/1000 doanh nghiệp tư nhân có vốn trên 33 triệu US và lương lao động chỉ bằng 50-60% của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI . Theo cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2006, nếu lấy tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa là dưới 300 lao động và vốn dưới 625 ngàn USD, thì có tới 96,81% doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và vừa và tài sản cố định trên mỗi lao động bình quân là 4100 USD . Với quy mô nhỏ bé và vốn đầu tư rất thấp, các doanh nghiệp tư nhân khó có thể hội đủ tiềm lực tiếp cận với tri thức, nghiên cứu và phát triển cũng như xây dựng các quy trình sản xuất, trang bị công nghệ hiện đại, đào tạo và nâng cao khả năng quản lý.

Sự yếu kém của các doanh nghiệp tư nhân trong nước bộc lộ rõ khi chỉ có một số rất nhỏ doanh nghiệp hội đủ điều kiện trở thành các nhà cung cấp phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI và có khả năng xâm nhập thị trường thế giới. Khuynh hướng hướng nội của các doanh nghiệp tư nhân là điều đáng e ngại. Theo cuộc điều tra ba vòng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chỉ có 9% doanh thu của các doanh nghiệp này từ xuất khẩu trực tiếp . Tình trạng kém phát triển của ngành công nghệ phụ trợ hiện là một trong những khâu yếu của nền kinh tế Việt Nam. Một ví dụ điển hình được báo cáo của WB nêu lên là công ty Fujisu, một doanh nghiệp FDI xuất khẩu lớn nhất năm 2004 với kim ngạch xuất trên 400 triệu USD, song đã chi 94% số này để nhập khẩu đầu vào . Tăng cường cung cấp phụ kiện từ các doanh nghiệp tư nhân trong nước không những sẽ giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu và tỷ lệ nội địa trong sản phẩm mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp này cải thiện sản xuất và phát triển kinh doanh. Trực tiếp tham gia các ngành sản xuất và hoạt động xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận, làm quen với thị trường và công nghệ tiên tiến trên thế giới, và cải thiện năng suất. Các cuộc điều tra cho thấy năng suất lao động của các doanh nghiệp xuất khẩu trung bình gần gấp đôi so với năng suất trung bình của các doanh nghiệp vừa và nhỏ .

Hạ tầng cơ sở và đào tạo nhân lực là hai trong số các mắt xích yếu nhất hiện nay, cũng là lãnh vực các doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư rất thấp. Đến nay, vốn đầu tư vào hạ tầng của khu vực kinh tế tư nhân chỉ đạt 15% và việc phát triển các cơ sở giáo dục tư nhân cũng ở giai đoạn sơ khởi. Ông Mara Folz, chuyên viên của hảng luật Freshfields Bruckhaus & Deringer đã phàn nàn trong cuộc họp báo giữa Giám đốc Ngân hàng Phát triển Á châu và Bộ trưỏng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 19 tháng 6/2006: “Việc thương thảo giữa các nhà đầu tư với giới thẩm quyền Việt Nam có thể cực kỳ phức tạp, nhiều khi liên quan đến hàng chục cơ quan cho chỉ một dự án.” GS David cũng than phiền: “Luật lệ đã qui định cho các doanh nghiệp nhà nước là chủ thầu chính và sau đó, nhà thầu chính mới nhỏ giọt lại cho các nhà thầu phụ tư nhân với giá công trình thấp, lợi nhuận ít ỏi.” Hệ quả của tình trạng hầu như độc quyền của nhà nước ở hai khu vực này là sự trì trệ trong việc đào tạo lao động kỹ năng cao, cải thiện hạ tầng, và là nguyên nhân đầu mối của nhiều công trình bị rút ruột, mà vụ PMU 18 cũng chỉ là một truờng hợp điển hình.

Ở khu vực nông nghiệp, mặc dù số lao động được trả lương từ các doanh nghiệp tăng nhanh từ 16% năm 1993 lên lên 27% năm 2004, song khoảng 70% dân số vẫn hoạt động kinh tế ở khu vực nông thôn. Từ chỗ không cung cấp đủ lương thực vào thập niên 80, sản xuất nông nghiệp đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam hôm nay. Gạo, cà phê, cao su và thuỷ sản hiện là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong số chín mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Song vì chất lượng kém nên giá trị xuất khẩu vẫn còn thấp. Có thể nêu ra một vài thí dụ điển hình: sản lượng gạo xuất khẩu của ta đứng thứ nhì sau Thái Lan, nhưng doanh thu xếp thứ tư ; sản lượng cao su xuất chỉ đứng sau Brazil nhưng kim ngạch xuất khẩu xếp hạng thứ 5 . Cuộc điều tra của nhóm nghiên cứu và tư vấn nông phẩm trên hai sản phẩm là gạo và chè cho thấy những khâu yếu của tiến trình sản xuất và phân phối như công nghệ lạc hậu, hệ thống gia công phân tán, thiếu các tiêu chuẩn về giống phù hợp, chi phí vận chuyển cao, hiệp hội liên kết các nông dân hoạt động yếu, các ưu đãi dành cho các nhà máy xay nhà nước, hoạt động xuất khẩu phần lớn thông qua doanh nghiệp nhà nước và sự quá chú trọng của chính phủ vào số lượng xuất khẩu hơn là chất lượng . Mặt khác, do sản xuất cá thể manh mún và năng lực kiểm tra và quản lý yếu kém, nông phẩm xuất khẩu của Việt Nam đang gặp khó khăn về vệ sinh an toàn và chất lượng sản phẩm. Ô nhiễm môi trường là vấn nạn khác, đặc biệt trong ngành thuỷ sản.

Khác với các ngành công nghiệp xuất khẩu hiện nay phần lớn lệ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nhập khẩu cho đầu vào, do đó, lợi nhuận thu được từ xuất khẩu thấp. Ngành nông và thuỷ sản do dựa trên việc đánh bắt, nuôi trồng với chi phí đầu tư và chi phí đầu vào thấp nên thu nhập trên giá trị sản phẩm cao. Sự tham gia mạnh mẽ hơn nữa của các doanh nghiệp tư nhân vào ngành chế biến và xuất khẩu nông - thuỷ sản, đi đôi với việc hiện đại hoá và đa dạng hoá các hoạt động chế biến có thể giúp cải thiện chất lượng và giá trị sản phẩm. Về phương diện này, quan điểm của Giáo sư Ari Kokko, chuyên viên nghiên cứu kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong lãnh vực kinh tế tư nhân, rất cần được lưu ý: “Việt Nam không phải lo lắng vì đang xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu thô, nông sản, hay sản phẩm chế biến giá trị thấp. Mặt hàng xuất khẩu thành công nhất của nước Thuỵ Điển chúng tôi là giấy in và giấy vệ sinh, là những sản phẩm đơn giản, nhưng đã mang đến sự thịnh vượng bởi vì chúng tôi đã đầu tư trí tuệ và kỹ thuật vào các sản phẩm này cao như đầu tư vào ngành hàng không. Việt Nam cũng vậy, không phải băn khoăn vì đang xuất khẩu gạo trong khi các quốc khác đang xuất khẩu con chíp điện tử; vấn đề quan trọng là xuất khẩu gạo chất lượng cao, với giá hấp dẫn” . Thuỵ Điển, một quốc gia nhỏ với dân số chỉ 9.7 triệu người, song có nền kinh tế lớn thứ 15 trên thế giới với GDP 285 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu 174 tỷ USD, và lợi tức đầu người 31.600 USD, là tấm gương của những nền kinh tế thành công . Tuy nhiên, lời nhắn nhủ của GS Ari Kokko không có nghĩa là Việt Nam không nên phát triển các ngành sản xuất công nghệ cao, chỉ có điều, trước hết, hãy nâng cao chất lượng sản phẩm, phát huy tối ưu các hoạt động sản xuất dựa trên lợi thế của quốc gia hiện nay.

Trong vai trò hỗ trợ, phát huy sức mạnh các doanh nghiệp và tham vấn hoạch định chính sách, năng lực và vị thế khiêm tốn của các hiệp hội doanh nghiệp và nông dân là hạn chế không kém phần quan trọng khác. TS Nguyễn Văn Thân, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, qua cuộc phỏng vấn trên Thời báo Kinh tê Việt Nam ngày 23/8/2007, than thở: “Thực tế, ít người biết hơn 2 năm nay chúng tôi đã bỏ tiền túi ra làm hiệp hội. Chúng tôi cũng đã nghĩ ra nhiều lối đi nhưng lại có nhiều “rào cản”. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay đều thiếu vốn, rất cần có một ngân hàng riêng dành cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vậy mà khi chúng tôi lập đề án, gửi đi gần hai năm rồi vẫn chưa thấy Ngân hàng Nhà nước trả lời. Tuy nhiên, với một hiệp hội lớn, mái nhà chung của hàng trăm ngàn doanh nghiệp, chúng tôi không thể để tình trạng “hữu sinh vô dưỡng”…” Vai trò tham vấn chính sách mặc dù đã được đưa vào luật, song trong thực tế, việc lấy ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa nhiều. Ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cho biết: vì lợi ích cục bộ nhiều cơ quan nhà nước không muốn mời doanh nghiệp tham gia góp ý cho các bản dự thảo. Ông nói: “Không ít trường hợp, để đối phó, họ chỉ miễn cưỡng mời một số doanh nghiệp thân hữu góp ý.”

Kinh nghiệm của việc liên kết rất thành công doanh nghiệp qua các hiệp hội ở Đài Loan được tác giả Huỳnh Thế Du nêu lên trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn rất đáng được lưu ý: “Trái ngược với hai quốc gia trên (Nhật Bản và Hàn Quốc), chuỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa mà cứ bảy người dân có một doanh nghiệp, đã đưa Đài Loan từ con số không tròn trĩnh vào năm 1952 trở thành nền kinh tế xếp thứ 16 toàn cầu vào năm 2006 với GDP-PPP bình quân người lên đến 29.500 đô la, cao hơn cả Hàn Quốc, và gấp Việt Nam gần 10 lần. Cho dù hầu hết chỉ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng do được tổ chức và hợp tác rất tốt, các hiệp hội phát huy được vai trò, nên các doanh nghiệp của nước này đã tạo ra được sự liên kết và tập trung cao (dense cluster) do vậy cũng đã phát huy được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, sử dụng nguồn lực hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.”

Tháo gỡ những rào cản

Phát biểu trong buổi hội thảo bàn về các giải pháp giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh, do Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh tháng 6/2006, bà Phạm Chi Lan, nguyên chuyên viên của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cho rằng “việc dành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước đã tác động trực tiếp tới khả năng phát triển của khu vực tư nhân.” Tài liệu nghiên cứu Đánh giá khu vực kinh tế tư nhân của Ngân hàng Phát triển Á châu cũng đã có cùng nhận định: “Trong khi vẫn chưa đủ dữ kiện để thẩm định vai trò của các doanh nghiệp nhà nước đã ảnh hưởng đến mức độ nào đối với những hạn chế trong phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, song sự khống chế của các doanh nghiệp nhà nước trong một số lãnh vực nhất định rõ ràng đã ngăn cản cho sự hình thành của các doanh nghiệp tư nhân đủ lớn mạnh để cạnh tranh.” Một trường hợp điển hình được GS David nêu lên là doanh nghiệp sản xuất phần mềm FPT đã được nhà nước tập trung đầu tư, có khả năng thu hút nguồn nhân lực chuyên môn rất lớn, có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân trong việc canh tranh trong các dự án lớn .

Thật vậy, trong một trận tranh tài mà ban tổ chức, động tài thổi còi và đội bóng đều cùng một cánh, thì tình trạng lấn sân của các doanh nghiệp nhà nước cũng là lẽ tự nhiên, như nhận xét của Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 11 tháng 10/2007: “Một cách tự nhiên, khi cùng một lúc cai quản, chăm sóc con của mình và con của người khác, thì người mẹ thường sẽ có thái độ thiên vị đối với con của mình. Trong điều kiện được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nếu cơ quan quản lý nhà nước không dành cho doanh nghiệp nhà nước sự đối xử đặc biệt so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, thì mới là chuyện lạ… Trong điều kiện của một nền kinh tế thị trường mà Nhà nước đóng vai trò vừa là nhà quản lý, vừa là nhà đầu tư, việc cạnh tranh hoặc hạn chế, loại bỏ cạnh tranh có thể được thực hiện theo những cách rất riêng.”

Một trong những cách riêng này là tình trạng lấn đất của các doanh nghiệp nhà nước. Theo cuộc điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đất đai là trở ngại lớn nhất đối các doanh nghiệp tư nhân. Cuộc điều tra trên mẫu 6.700 doanh nghiệp thực hiện năm 2007 cho thấy: “Hơn 65% doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa) cho biết rằng sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh của mình nếu dễ dàng tiếp cận đất đai hơn.” Cuộc điều tra của Báo cáo kinh tế năm 2006 của WB về thị trường đất đai đã cho thấy trong khi các doanh nghiệp tư nhân gặp rất nhiều khó khăn về mặt bằng sản xuất thì những các doanh nghiệp nhà nước không những được ưu đãi về đất đai sản xuất mà còn chiếm hữu đất ngoài sản xuất, thường được gọi là đất nhàn rỗi: “Phần lớn đất công nghiệp hiện có đã do các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ, trong khi việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp ở vành đai các thành phố thường diễn ra chậm và nhiều khi gây nhiều tranh cãi. Hơn nữa, nếu như còn có chỗ đất nào đó thì các doanh nghiệp nhà nước lại thường được ưu tiên… Trên danh chính ngôn thuận, các doanh nghiệp nhà nước không được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại đất của họ, nhưng trên thực tế họ vẫn làm như vậy. Trong một điều tra doanh nghiệp quy mô nhỏ do WB thực hiện, 11% doanh nghiệp tham gia trả lời cho biết họ thuê đất cuả các doanh nghiệp nhà nước. Luật đất đai mới yêu cầu các doanh nghiệo nhà nước trả lại cho nhà nước những phần đất không cần thiết để họ tiến hành hoạt động kinh doanh. Trên thực tế, có rất ít doanh nghiệp nhà nước thực hiện yêu cầu này. Quá trình thu hồi đất nhàn rỗi từ các doanh nghiệp nhà nước trên thực tế là một việc rất khó khăn.” Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ngày 22/11/2007, tường trình Lãng phí và thất thoát nhà đất công chỉ riêng tại thành phố HCM, “tổng diện tích đất mà các bộ, ngành trung ương quản lý, sử dụng tại TPHCM là gần 6,4 triệu mét vuông, theo số liệu điều tra, thống kê của Chính phủ. Nếu số nhà đất công sản này được phát mại thì Nhà nước sẽ thu ngân sách hàng chục tỉ đô la Mỹ”. David còn đi xa hơn khi ông cáo buộc “Các khu đất mới phát triển thường dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước hay cho các viên chức.”

Tiếp cận tài chính là hạn chế chủ yếu khác theo kết quả của “Điều tra môi trường đầu tư” thực hiện năm 2006.

Những phân tích của Báo cáo kinh tế năm 2007 của World Bank ( Ngân hàng thế giới ) cho thấy các nguyên nhân chính đang hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp tư nhân bao gồm việc các doanh nghiệp này có tài sản thế chấp nhỏ, quy mô doanh nghiệp không cho phép niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và “những lệch lạc nghiêm trọng trong phân bổ nguồn lực (đất đai) quý giá này không chỉ làm hạn chế khả năng tiếp cận với đất đai mà cả khả năng tiếp cận tài chính vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là những tài sản giá trị nhất các doanh nghiệp có thể thế chấp được.” Thật vậy, theo Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2008 của World Bank ( Ngân hàng thế giới ) công bố tháng 9/2007 vừa qua, do thủ tục hợp thức hóa phức tạp và khó khăn, tình trạng giao dịch đất đai và tài sản không chính thức và các doanh nghiệp hoạt động thiếu chứng nhận sở hữu đất đai và tài sản là phổ biến . Nhận định này cũng rất phù hợp với kết quả cuộc điều tra doanh nghiệp do VCCI thực hiện cho thấy khoảng 1 trong 4 doanh nghiệp (22,47%) “đánh giá tính ổn định của mặt bằng kinh doanh là thấp hoặc rất thấp.” Tình trạng thiếu ổn định mặt bằng gây tâm lý bất an cho doanh nghiệp khi cân nhắc mở rộng đầu tư lâu dài. Một hệ quả quan trọng khác, theo phân tích của ADB, là sự thiếu đầy đủ giấy tờ đất còn làm giảm đáng kể giá trị thế chấp để vay vốn . Cũng trên vấn đề tín dụng kinh doanh, GS David còn cho rằng: nếu thuê mặt bằng của các khu công nghiệp như một giải pháp thay thế, các doanh nghiệp không thể sử dụng đất đai để thế chấp cho việc vay vốn được .

Báo cáo Môi trường Kinh Doanh năm 2008 cũng lưu ý về nguồn cung ứng thông tin về độ tin cậy tín dụng của cá nhân hay doanh nghiệp hiện rất yếu kém là một trong những khó khăn cho các ngân hàng trong việc thẩm định tín dụng. Ngoài ra, thủ tục cho vay và chính sách tín dụng là những rào cản khác, theo phân tích của Nguyễn Hoài trên Thời báo Kinh tế Việt Nam: “Một là, những thủ tục vay vốn của ngân hàng đặt ra như tài sản thế chấp, kinh doanh liên tục có lãi, bảng tổng kết tài sản, thậm chí phải có kiểm toán hoặc muốn vay phải có dự án..., đã trở thành rào cản trong việc tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp dân doanh. Hai là, các ngân hàng chưa hề có một chính sách tín dụng riêng cho cộng đồng này. Điều kiện cho vay đối với trang trại kinh tế, hộ kinh doanh cá thể hay doanh nghiệp vừa thoát thai từ hộ kinh doanh cá thể đều áp dụng giống như các "ông lớn" dầu khí, điện lực, than và khoáng sản, thép...”

Tương phản với những khó khăn mà các Doanh Nghiệp Tư Nhân đang đối đầu, các Doanh Nghiệp Nhà Nước được dễ dãi vây vốn nhờ những quan hệ, áp lực chính trị, là chủ nhân của nhiều dự án đầu tư kém hiệu quả, những khoản nợ to lớn khó đòi.

Luật và thi hành luật là những rào cản quan trọng khác.

Bà Corien Wortmann Kool, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thương mại Quốc tế (Nghị viện châu Âu), qua cuộc gặp báo chí tại Việt Nam tháng 10/2007, đã nhận định: “Rào cản lớn nhất của Việt Nam hiện nay vẫn là vấn đề luật và thực thi luật. Ở Việt Nam, hiện có nhiều văn bản pháp lý quy định về lĩnh vực này nhưng quá trình thực hiện lại không theo một hướng thống nhất, gây ra nhiều tranh cãi giữa các cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Họ nêu ra một số cam kết từ năm 1995 nhưng đến nay vẫn chưa được thực hiện, trong đó nổi bật là những thắc mắc liên quan đến sở hữu công ty.

Vấn đề này được phân tích rõ nét hơn qua phần tham luận của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, trong cuộc hội thảo doanh nghiệp tư nhân tháng 6/2006, được tường thuật trên tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ngày 16/6/2006: “Chỉ với Luật Doanh nghiệp thì không thể bảo đảm có môi trường cạnh tranh bình đẳng theo đúng nghĩa. Vì vẫn còn nhiều luật, quy định khác, kể cả những luật bất thành văn, mà khối doanh nghiệp nhà nước có thể dựa vào để giành lấy ưu thế cho mình”. Theo ông Doanh, lợi thế lớn nhất của doanh nghiệp nhà nước là có cơ quan chủ quản, do mối quan hệ giữa hai chủ thể này khá gần gũi. Hơn nữa, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp thường dựa vào mối quan hệ nhiều hơn là hệ thống luật pháp. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp nhà nước và một số đơn vị có vỏ bọc tư nhân nhưng thực chất là “sân sau” của một số cán bộ có chức, có quyền. Thế mạnh thứ hai của các doanh nghiệp nhà nước là quy hoạch ngành. Về hình thức, quy hoạch do các bộ ban hành, nhưng nó lại được soạn thảo bởi các tổng công ty nhà nước. “Họ đã đưa vào quy hoạch những quy định để hạn chế người khác nhằm tạo thuận lợi cho mình. Chẳng hạn, bản quy hoạch phát triển ngành xi măng quy định không cho nước ngoài đầu tư vào dự án xi măng mới trước cuối năm 2008”, ông Lê Đăng Doanh nói .

Những mâu thuẫn trên việc hoạch định và thực thi chính sách cải cách cũng chính là những quan ngại hàng đầu của các tổ chức kinh tế tài chính thế giới đang hỗ trợ công cuộc cải cách tại Việt Nam. Tình trạng cục bộ của các cấp chính quyền địa phuơng và đặc biệt các bộ được Báo cáo Kinh tế năm 2007 cảnh báo: “Chính quyền địa phương có thể muốn khuyến khích các chi nhánh ngân hàng thương mại tại địa phương mình cấp tín dụng cho các doanh nghiệp mà họ sở hữu một phần, còn các bộ chủ quản lại muốn thiết kế các qui định của ngành sao cho có lợi cho các doanh nghiệp có vốn Nhà nước, có thể tác động xấu đến nền kinh tế nhiều hơn là quản lý vi mô của các doanh nghiệp.”

Tệ trạng giấy phép con, một trở lực chủ yếu khác đối với các doanh nghiệp tư nhân, là một minh chứng của tính cục bộ và sự tuỳ tiện trong việc thực thi chính sách và luật pháp. Trả lời cuộc phỏng vấn của Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 26/09/2007, TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) nhấn mạnh: “Điều đáng lưu ý là các giấy phép con không ngừng xuất hiện trong thời gian vừa qua, trong khi hiện không có cơ chế, quy chuẩn hay cơ quan nào để rà soát, đánh giá và kiểm soát vấn đề này”. Nhiều giấy phép con là những qui định của các bộ và trong nhiều trường hợp đã vi phạm luật, nghị định chính phủ. Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư trong hơn một năm qua đã rà soát, đánh giá gần 300 loại giấy phép được quy định trong khoảng 400 văn bản. Tổ đã kiến nghị bãi bỏ 42 giấy phép; kiến nghị cụ thể về bổ sung, sửa đổi các quy định đối với 247 loại giấy phép khác. Nghị định 139/2007/NĐ-CP vừa ban hành đã qui định vô hiệu hoá 42 loại giấy phép này sau ngày 1/9/2008.

Bảng xếp hạng của Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2008 dưới đây cho thấy: mặc dù Việt Nam đã phần nào cải thiện môi trường kinh doanh, tăng 13 hạng bậc so với năm trước, song vị trí trên thương trường quốc tế vẫn còn rất yếu thế: Singapore (hạng 1/178), Thái Lan (15), Malaysia (24), Trung Quốc (83), Việt Nam (91), Indonesia (123), Philippines (133).

Những cản trở vô hình, tiềm ẩn khác cũng không kém phần quan trọng:

Sự tồn đọng của nếp tư duy cũ kỹ của thời kỳ kinh tế tập trung và bao cấp đối với doanh nghiệp tư nhân được Thời báo Kinh tế Sài Gòn nhận xét: “Ở Việt Nam, thời kỳ bao cấp đã làm hằn sâu trong tâm trí con người quan niệm về một nền kinh tế được coi như một phần của hệ thống hành chính công… Cung cách chủ quản hành chính theo kiểu thượng cấp - thuộc quyền đối với doanh nghiệp được duy trì đến nay, thậm chí, còn bao trùm cả khu vực kinh tế tư nhân… Cho đến nay, những cụm từ “tư thương”, “thương lái”, vẫn được dùng để chỉ những cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại không do Nhà nước lập ra và được hiểu là một loại người xấu, cơ hội trong kinh doanh, chuyên lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người khác, nhất là của bà con nông dân, để đầu cơ, trục lợi. Cách gọi mang tính phân biệt đối xử đó thậm chí có thể được ghi nhận trong các hoạt động giao tiếp có tầm ảnh hưởng sâu rộng, như các bản tin, bài báo phổ biến trên các phương tiện truyền thông của nhà nước, các phát biểu mang tính công vụ của những người giữ trọng trách trên các diễn đàn chính thức”.

Thứ đến là tâm lý è dè của doanh nhân trong kế hoạch khuếch trương doanh nghiệp phản ảnh cách đối xử phân biệt của Nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân đã có giảm đi nhiều trên mặt chính sách, song vẫn còn nặng nề trong thực tế. Qua cuộc phỏng của Đài BBC thực hiện tháng 10/2007, tiến sĩ kinh tế Vũ Thành Tự Anh, Phó Giám đốc phụ trách nghiên cứu thuộc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright ở TP. HCM, đã bày tỏ ý kiến: “Yếu tố thứ nhất chính là các doanh nghiệp phải có khát vọng trở thành công ty lớn. Khi anh hỏi nhiều doanh nghiệp VN có muốn lớn không, họ bảo thôi, thế này là được rồi. Không hẳn là họ không muốn, nhưng khi phát triển lên thì gặp rất nhiều trục trặc, thí dụ về cạnh tranh hay là bị sự chú ý từ cơ quan quản lý… Có công ty chia nhỏ doanh nghiệp của mình thành nhiều công ty khác nhau để tránh dòm ngó của cơ quan quản lý và đối thủ.”

Và sau cùng, những cảnh báo của GS David qua tiểu luận kinh tế ấn hành tháng 6/2006 cũng cần được nhắc lại: “Nếu sự độc quyền và kinh doanh kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước được thay thế bằng sự độc quyền và kém hiệu quả của doanh nghiệp tư nhân, là những doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với các viên chức cao cấp, thì lợi ích kinh tế của sự thay đổi cũng không đáng kể. Thậm chí, mối quan ngại sẽ còn lớn hơn về lâu về dài; tai ương này đã thật sự xảy ra trong một số nền kinh tế châu Á” .

Kết luận

Một câu hỏi rất lý thú GS David đã đặt ra cho riêng ông song cũng chính là mối ưu tư chung của nhiều người đang quan tâm đến thời cuộc, sự hưng vong của đất nước: “Một người hoài nghi (với những chỉ trích) sẽ nói rằng bất cứ khu vực kinh tế nào đang phát triển với tốc độ 20% mỗi năm, tức là nó đã tìm ra được phương cách tránh né những rào cản đang tồn tại. Vậy thì chừng nào sản lượng và lực lượng lao động của khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh, và hoạt động xuất khẩu của các khu vực này vững mạnh, hà cớ gì phải lo ngại đến những rào cản?” Trên bình diện rộng lớn hơn, một câu hỏi tương tự cũng thường được nêu lên: Nếu Việt Nam được các tổ chức kinh tế tài chính thế giới công nhận là một trong số các quốc gia đang phát triển có mức tăng trưởng kinh tế nhanh, chỉ đứng sau Trung Quốc, từ hơn một thập niên qua, vậy thì có gì phải lo ngại đến viễn cảnh phát triển kinh tế của đất nước?

Nền kinh tế nói chung và khu vực tư nhân nói riêng dù phát triển nhanh chóng, nhưng theo David, việc tiếp tục đổ thêm vốn đầu tư vào khu vực công và mức độ hội nhập rất giới hạn của các doanh nghiệp tư nhân vào một số lãnh vực kinh tế trọng yếu là điều rất đáng quan ngại. Ông cho rằng với tiềm lực và thời cơ thuận lợi hiện nay, nếu giảm thiểu được những tổn thất do đầu tư kém hiệu quả vào khu vực công và phát huy mạnh tiềm năng của khu vực tư nhân, thì mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam lẽ ra phải là 9 - 10%, chứ không phải 7 - 8% như hiện nay.

Những chuyển biến tích cực của nền kinh tế, và đất nước hôm nay đang thay da đổi thịt, thể hiện sức sống, khát vọng vươn lên của một dân tộc cần cù và năng động. Song những thành tựu đã đạt được cũng chỉ mới là bước đầu của một tiến trình phát triển lâu dài, với vô vàn thách thức trước mặt. Trên chặng đường đã đi qua, một bộ phận lãnh đạo theo đuổi chính sách cải cách dựa trên cơ chế thị trường, đẩy nền kinh tế tiến về phía trước, thì đồng thời cũng có một bộ phận khác luôn tìm cách trì kéo cuộc cải cách lại phía sau, hầu đục nước béo cò, tiếp tục đục khoét ngân sách nhà nưóc, tài sản quốc gia.

Chừng nào giặc nội xâm tham nhũng còn tiếp tục lộng hành (TICP - 123/179), môi trường kinh doanh còn ngổn ngang những hạn chế (WB - 91/178), và năng lực cạnh tranh kinh tế vẫn yếu kém (WEF – 76/127), thì con đường công nghiệp hoá đất nước, hướng đến một nền kinh tế phát triển, bền vững còn gập ghềnh sỏi đá .

Chừng nào khu vực nhà nước vẫn tiếp tục bành trướng, khống chế nền kinh tế, lệ lấn lướt luật, quan hệ và luật bất thành văn trấn át pháp lý, và vẫn tồn tại tình trạng nhị thập sứ quân (20 Bộ), thì hải trình ra khơi của các doanh nghiệp tư nhân sẽ còn gặp nhiều sóng gió.

Sự chọn lựa cơ chế kinh tế làm nền tảng và động lực cho công cuộc phát triển, giữa một bên là khu vực kinh tế nhà nước hiệu năng thấp, ổ sinh sản, dung dưỡng tham nhũng, và bên kia là khu vực kinh tế tư nhân năng động và cạnh tranh, hiển hiện như giữa đêm và ngày.

Xin mạn phép mượn lời của ông Đỗ Mạnh Hồng, nghiên cứu viên Viện nghiên cứu công nghiệp trường Đại học Obirin Tokyo, đăng trên Thời báo Sài Gòn ngày 27/7/2006, thay lời kết:

Trả lại sân chơi cho doanh nghiệp tư nhân còn là phải thúc đẩy nhanh, triệt để việc cải cách doanh nghiệp nhà nước theo hướng điều chỉnh để bộ phận này tập trung vào những hàng hóa dịch vụ mang tính công cộng, còn những hoạt động sản xuất kinh doanh khác cần tư nhân hóa càng nhanh càng tốt. Lý do rất rõ ràng: sân chơi chỉ có một, nếu còn chủ trương doanh nghiệp nhà nước là trụ cột chính của nền kinh tế thì có hô hào phát triển kinh tế tư nhân mấy cũng chỉ là khẩu hiệu suông .

Trần Bình