NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hiệu quả kinh tế biển : vẫn là nhặt nhạnh

Sau khi có kết luận về chiến lược biển đến năm 2020, nhiều cuộc hội thảo về kinh tế biển được tổ chức, nhưng mới chỉ là một cái nhìn cục bộ, chưa có tính hệ thống về kinh tế biển, đâu là kinh tế - gồm những ngành công nghiệp nào, đâu là tài nguyên có giá trị thị trường tức thời, đâu là tài nguyên tiềm năng. “Hội thảo về quản lý và phát triển kinh tế biển” cuối tuần trước tại Đà Nẵng cũng vẫn là những ý kiến cũ… Và cư dân sống dựa vào nền kinh tế giàu tiềm năng này vẫn cứ nghèo

Theo PGS TS Nguyễn Chu Hồi, Viện trưởng Viện Kinh tế và quy hoạch thuỷ sản (Bộ Thuỷ sản), năng lực khai thác biển của Việt Nam chỉ bằng 1/7 Hàn Quốc, 1/20 Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/260 của thế giới. Trong khi Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển.

Hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng ven bờ và thềm lục địa, chiếm khoảng 80% lượng thuỷ sản khai thác toàn quốc. Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ tiến hành ở vùng ven bờ biển đóng góp gần 90% tổng sản lượng thuỷ sản toàn quốc, đáp ứng gần 40% lượng chất đạm (protein) của cả nước. Chưa kể với một diện tích rừng ngập mặn lớn, theo GS Nguyễn Tác An - chủ tịch Uỷ ban quốc gia chương trình Hải dương học liên chính phủ (IOC) - nếu biết cách khai thác, giá trị của rừng ngập mặn của Việt Nam lên khoảng hơn 100.000 USD/ha/năm.

Ông An cho rằng, giá trị cụ thể của lượng vật chất khai thác từ biển mà con người vẫn cân đong đo đếm như hiện nay là rất nhỏ so với giá trị thực tế của biển. Biết khai thác, nguồn thu nhập có thể lên đến hàng nghìn lần so với những gì mà người dân ven biển nhặt nhạnh hiện nay. Đó chính là lý do tại sao ở gần “bạc” mà bao đời nay vẫn nghèo. Ở những quốc gia khác, trung bình 1km2 biển, giá trị khai thác lên đến 100.000 USD, trong khi con số này ở Việt Nam chỉ là 20.000 USD.

Khai thác bừa bãi...

Ông Bùi Văn Tiếng, Bí thư quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng nói: "Việt Nam không thể phát triển kinh tế biển nếu vẫn còn tư duy theo kiểu sợ biển". Chỉ ở gần bờ, khai thác đơn lẻ những gì có sẵn theo kiểu “tận diệt” biển, môi trường biển ngày càng suy thoái, chắc chắn sự giàu có của tài nguyên biển sẽ không còn. Sự giàu có và đa dạng các nguồn tài nguyên biển là tiền đề phát triển đa ngành (multi-sectoral management), nhưng thực tế biển Việt Nam chủ yếu được quản lý theo ngành (sectoral management). Tình trạng này xảy ra, khi các cơ quan quản lý chưa quy hoạch chi tiết tổng thể, không có tầm nhìn chiến lược đã vội vã cấp phép những dự án đầu tư phát triển kinh tế biển.

Đây chính là mâu thuẫn lợi ích giữa các ngành đang khai thác tài nguyên từ biển. “Không thể phát triển kinh tế biển theo kiểu, sở này thì phát động du lịch sinh thái biển, sở kia lại cấp phép và cổ xuý cho việc đóng tàu biển gây ô nhiễm vùng biển ven bờ”. Ông Nguyễn Chu Hồi nói. Nếu các cơ quan quản lý không sớm áp dụng cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý biển sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế biển bền vững.

Với hơn 3.260 ki lô mét bờ biển; 112 cửa sông, lạch; 4.000 đảo lớn, nhỏ và hơn 1 triệu cây số vuông vùng biển. Bên cạnh các giá trị cảnh quan, quanh đảo còn quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, đối với phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển. Tuy nhiên các đảo của Việt Nam đang được khai thác một cách tự phát, “mạnh ai nấy làm”, “thấy có cái gì thì khai thác cái đó”, hoàn toàn trực quan, thiếu quy hoạch và thiếu cơ sở khoa học.

Ông Trần Đình Thiên, Viện phó Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho rằng, việc phát triển manh mún, khai thác tự nhiên, không có tầm nhìn chiến lược đã gây lãng phí lớn trong việc phát triển kinh tế biển.

Giải pháp nào ?

Việt Nam không thể tiến ra biển theo lối tư duy nhỏ lẻ, với một hạm đội “thuyền thúng” mà phải chấp nhận đầu tư lớn và khai thác biển cũng phải được xây dựng thành một nghề thật sự, một nền công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cần xây dựng một nền khoa học kinh tế biển hiện đại.

Phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả bền vững và có khả năng hội nhập quốc tế. Cần có một phương thức quản lý biển tổng hợp đảm bảo được an ninh sinh thái và an sinh xã hội ở vùng biển đảo và ven biển.

Theo ông Hồi, quy hoạch phát triển kinh tế biển là cụ thể, nhưng cần đặt trong tư duy tổng thể phát triển hệ thống đảo và từng vùng biển. Đối với các cụm đảo nhỏ hoang sơ, nên phát triển kinh tế đảo với bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái biển đảo. Đối với các cụm đảo lớn, nên xây dựng các trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện có bán kính ảnh hưởng rộng ra cùng xung quanh và là những cực tiếp nối quan trọng trong bình đồ tổ chức không gian biển.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển bằng cách tận dụng nguồn lực và công nghệ hiện đại về khai thác biển từ nước ngoài cũng là ý kiến mà các đại biểu đưa ra tại buổi hội thảo.

Nhiều chuyên gia cho rằng điều quan trọng nhất là cả Nhà nước và người dân buộc phải thay đổi cách tư duy về quản lý và khai thác tài nguyên biển. Tư duy này không có nghĩa là ở bên cạnh biển mà phải đối mặt với biển, phải có bản năng chinh phục biển và chế ngự biển khơi. Có như vậy, mục tiêu “Việt Nam phải là một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển vào năm 2020” của Chính phủ mới có khả năng thành hiện thực.

Sơn Nghĩa

Biển Việt Nam là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển của thế giới, là nơi sinh kế trực tiếp của 300 triệu cư dân các nước quanh biển Đông và khoảng 20 triệu dân thuộc 28 tỉnh thành và thành phố ven biển. Biển Đông là khu vực có tuyến đường biển nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới.

Kinh tế biển đóng góp 12% GDP và khoảng 50% giá trị xuất khẩu của cả nước. Riêng sản lượng hải sản ven bờ biển khai thác đã chiếm tới 80% tổng sản lượng. Trữ lượng cá toàn vùng biển Việt Nam ước tính khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó khoảng 1,7 triệu tấn ở ngoài khơi với ngưỡng khai thác bền vững từ 1,4 triệu tấn đến 1,7 triệu tấn.

Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ước đạt hơn 3,2 tỉ USD. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt hơn 3,7 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 1,7 triệu tấn. Biển Việt Nam cũng đã cung cấp khoảng 35 loại khoáng sản với quy mô trữ lượng khai thác khác nhau thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý, khoáng sản lỏng... Biển cũng là nơi chứa đựng những tiềm năng phát triển ngành công nghiệp dầu khí.

Mục tiêu, đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53% đến 55% GDP, 55% đến 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển".

Kinh tế biển gồm những gì ?

Theo những số đo sơ bộ, kinh tế biển đóng góp khoảng 12% GDP cả nước. Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 đưa giá trị kinh tế biển chiếm từ 53 - 55% GDP, tức là 458% trong vòng 12 năm. Nếu coi số đo hiện nay là 12% GDP là chính xác, thì đây là một mục tiêu đầy tham vọng so với mức xuất phát còn thấp.

Sở dĩ mục tiêu đề ra cao, có lẽ căn cứ vào những đánh giá cao về tài nguyên, dẫu rằng những số đo trong một hệ thống đo về kinh tế biển chưa được đặt ra.

Hiện nay thế giới thống nhất kinh tế biển là nền kinh tế tổng thành của các ngành công nghiệp do môi trường biển đem lại. Môi trường biển được định nghĩa là những vùng biển Việt Nam có chủ quyền: mặt nước ven bờ, lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền. Môi trường biển là một chức năng gồm cả công nghiệp và địa lý.

Nhưng trong các báo cáo tổng kết về kinh tế biển hiện nay, ta chỉ thấy một bức tranh không toàn cục, chủ yếu là đánh bắt, dầu khí và vận tải. Tại các hội thảo về kinh tế biển, người ta vẫn thấy những cái nhìn rời rạc, chưa có một nghiên cứu tổng thể để từ đó lên kế hoạch cụ thể cho từng ngành công nghiệp biển vừa nêu. Ở các nước, vẫn có nhiều tranh cãi trong các phép đo của từng ngành công nghiệp biển, cũng như sự đối kháng/xung đột của các ngành, cần phải có một sự điều phối thật nhịp nhàng bởi càng ít “cửa” càng tốt.

Định nghĩa kinh tế biển

Trước tiên, kinh tế biển phải được định nghĩa bằng cách tách ra giữa hoạt động biển và phi biển. Một số hoạt động như đánh bắt và vận chuyển tàu phà dứt khoát là lệ thuộc vào biển. Nhưng có những hoạt động khác lại khó phân loại. Chẳng hạn như du lịch chỉ một phần lệ thuộc biển, có những hoạt động mua sắm trên bờ hoàn toàn không lệ thuộc vào biển.

Từ đó có thể mở rộng từng ngành kinh tế nêu ở trên như sau.

1. Khoáng sản biển khơi bao gồm các tài nguyên khoáng sản như dầu khí, muối, cát và các loại khoáng khác khai thác từ biển.

2. Đánh bắt và nuôi trồng bao gồm bán cá trên tàu, chế biển hải sản, hoạt động bán buôn, nuôi trồng và các dịch vụ về đánh bắt nuôi trồng.

3. Vận tải tàu biển bao gồm vận tải hàng hoá và hành khách, bến du thuyền và hoạt động bến cảng.

4. Nhà nước và quốc phòng bao gồm các căn cứ hải quân, bến tàu, và các chiến dịch tuần tra bảo vệ duyên hải, và hoạt động quản lý biển.

5. Du lịch và giải trí biển bao gồm du lịch các địa phương duyên hải của du khách trong nước hoặc ngoài nước.

6. Các dịch vụ biển các dịch vụ khác liên quan tới biển.

7. Nghiên cứu và giáo dục bao gồm nghiên cứu biển, giáo dục biển.

8. Chế tạo bao gồm các loại máy móc thiết bị phục vụ cho khai thác biển.

9. Xây dựng biển bao gồm đóng tàu và xây dựng cơ sở hạ tầng, cảng biển

Định nghĩa này chỉ tính đến các hoạt động đo lường được và diễn ra trên thị trường. Chẳng hạn, các cá nhân thường không phải trả phí để hưởng thụ cái đẹp của bờ biển Việt Nam, tuy cái đẹp, cái không khí đó có đem lại chất lượng cho cuộc sống của họ (không khác gì các chi phí trực tiếp như ăn ở, điện nước, v.v...).

Thứ hai, chọn ra những đơn vị đo phù hợp cho phép đối chiếu so sánh giữa các ngành công nghiệp của nền kinh tế với nhau.

Những xung đột

Bản thân các ngành kinh tế biển có những xung đột nhất định cũng như trong nội bộ ngành. Chẳng hạn đánh bắt và nuôi trồng xung đột với nhau vì một bên gây ô nhiễm môi trường, làm cho cá không sinh sản trong những vùng nước gần bờ được. Chẳng hạn khai thác dầu khí, khoáng sản thường gây ô nhiễm nước ảnh hưởng đến đời sống hải sản…

Ngoài ra, phát triển với quy mô tăng trưởng hàng năm là 38% là một tốc độ tăng trưởng nóng, nếu không tính đến bài toán phát triển bền vững qua bảo vệ môi trường một cách hữu hiệu, biển sẽ trở thành sa mạc nước.

Các nền công nghiệp từ kinh tế biển Việt Nam bao gồm:

1. Khoáng sản biển khơi.

2. Đánh bắt và nuôi trồng .

3. Vận tải tàu biển.

4. Nhà nước và quốc phòng.

5. Du lịch và giải trí biển.

6. Các dịch vụ biển.

7. Nghiên cứu và giáo dục.

8. Chế tạo – chế biến.

9. Xây dựng biển .