NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những suy tư về nền Kinh Tế hiện đại - Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành , Kiều bào Mỹ

Một đất nước mà không có thị trường nội địa mạnh, chỉ lo đi xuất khẩu thì không thể tự chủ được về kinh tế. Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế tài chính cao cấp ở Việt Nam đã nhận định như vậy trong buổi giao lưu với cán bộ công ty InvestConsult Group, tháng 8/2008).

Tôi cho rằng, những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, về cơ bản chúng ta sẽ giải quyết được, nhưng vấn đề là chúng ta làm như thế nào?. Hiện nay, ngay cả nền kinh tế Mỹ đang bước vào giai đoạn rất khó khăn và có thể gọi là suy giảm. Có thể nói, nền kinh tế Mỹ quyết định đến 60% nền kinh tế thế giới, do đó, nếu nền kinh tế Mỹ ho thì nền kinh tế thế giới cũng bị cảm, mà nền kinh tế thế giới bị cảm thì sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam, vì Việt Nam xuất khẩu đến 60% GDP. Không nước nào trên thế giới xuất khẩu đến 60% GDP, Trung Quốc chỉ xuất khẩu gần 35% GDP thôi. Do đó, khi thị trường thế giới suy thoái thì Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chúng ta muốn bán sản phẩm ra nước ngoài nhưng bên Mỹ họ giảm nhập khẩu, không chỉ có Mỹ mà các nước khác họ cũng giảm nhập khẩu thì sao ?

Tôi được biết, có một doanh nhân người Hồng Kông nhận được một đơn đặt hàng 2 triệu chiếc áo sơ mi đối với hàng xuất khẩu Việt Nam, nhưng Việt Nam không sản xuất nổi 2 triệu chiếc. Anh ta là người quyết định chỗ nào sẽ sản xuất cái gì để gom lại và xuất khẩu sang bên Mỹ. Rõ ràng chúng ta không có quyền quyết định việc xuất khẩu đi đâu và xuất khẩu bao nhiêu, quyền đó nằm trong tay các thương gia nước ngoài, chúng ta chỉ xuất khẩu gián tiếp.

Ngoài ra, Việt Nam còn là một nền kinh tế gia công, có thể nói là gia công tới 60 - 70%. Khi nền kinh tế thế giới suy thoái thì một đất nước gia công không thể phát triển mạnh được. Một đất nước không có thị trường nội địa mạnh, chỉ lo xuất khẩu thì không thể có được tự do, độc lập về kinh tế. Các nước khác nhìn vào thị trường nội địa Việt Nam với 85 triệu dân là một thị trường rất tiềm năng, họ đến để khai thác thị trường nội địa của chúng ta, còn chúng ta thì chưa tập trung vào việc khai thác thị trường nội địa. Đây là bức tranh chung, nhưng câu hỏi đặt ra là, tại sao Hoa Kỳ, Nhật Bản trở thành cường quốc về kinh tế, tại sao Hàn Quốc và Singapore phát triển mạnh như vậy, mà tại sao Việt Nam cứ chậm phát triển như thế ?

Tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay khó khăn ở chỗ, các tập đoàn kinh tế nhà nước chiếm hơn 50% tín dụng của hệ thống ngân hàng, nhưng họ sản xuất ra những sản phẩm nhiều khi không phù hợp, làm cho nền kinh tế bị trì trệ, không phát triển được. Vậy nền kinh tế của Việt Nam bây giờ đang ở đâu? Khi anh nắm hơn 50% tín dụng mà anh không làm ăn được thì có phải là anh làm hỗn loạn cả nền kinh tế không? Bây giờ nhà nước nói, vì lạm phát lên đến hơn 20%, nên một trong những giải pháp để kiềm chế lạm phát là thắt chặt tín dụng. Nhưng thắt chặt tín dụng mà đưa lãi suất lên 14% lãi suất cơ bản và cho phép các ngân hàng cho các xí nghiệp vay với lãi suất 21% thì nền kinh tế Việt Nam sẽ như thế nào, nó sẽ là nhất thời, trung hạn hay dài hạn ?

Tôi vừa nghe một báo cáo, ở Đồng bằng Sông cửu long có 80.000 tấn cá ba sa đang bị đói. Những nhà nuôi cá đem bán nhưng các công ty chế biến không mua vì họ không có tiền. Công ty chế biến Nam Việt mỗi ngày sản xuất 2.000 - 3.000 tấn cá ba sa nhưng không vay được tiền của ngân hàng để mua, mà nếu vay ngân hàng với lãi suất 21% thì cũng không dám vay. Anh chế biến không vay thì những người nuôi cá sẽ chết, hàng ngày anh phải cho cá ăn nhưng cá đã đến lúc phải bán, bây giờ không bán được thì lại phải nuôi, nhưng họ không có tiền để mua thức ăn cho cá, họ cho cá ăn cầm chừng, cá mà cho ăn cầm chừng thì sẽ không đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu. Khi đó những anh chế biến nói rằng, với chất lượng cá như vậy thì họ không mua được, vậy những cá đấy để làm gì. 40.000 tấn ngày hôm nay phải bán, 40.000 tấn đang ở trong lồng cần phải ăn để lớn lên, nhưng 40.000 tấn kia lớn lên rồi cũng không ai mua, như vậy đến lứa sau họ không nuôi nữa. Lứa sau không nuôi nữa thì sẽ không có cá để xuất khẩu, như vậy thì lĩnh vực nội xuất khẩu cá ba sa sẽ như thế nào? Quyết định của một chính sách tiền tệ là như vậy. Khi đưa ra quyết định họ có nghĩ rằng sẽ tiêu diệt một số xí nghiệp kinh doanh cần phải có vốn để sản xuất hay không?

Qua chuyện này tôi liên tưởng tới hình ảnh, chúng ta có một đám ruộng rất tốt, ở trong đó có mấy đám cỏ dại, vấn đề đặt ra làm sao diệt được đám cỏ dại đó thì chúng ta ra một chính sách là rút hết nước ra cho cỏ chết, chính sách vĩ mô là như vậy. Đất nước ta không thiếu nhân tài, chúng ta có khoảng 1.200.000 trí thức và kỹ sư ở trong tổ chức Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam do ông Trần Đại Nghĩa thành lập, chúng ta có nhiều người tài nhưng bố trí người không đúng chỗ. Việc bố trí người không đúng chỗ là do tổ chức nhân sự của chúng ta không hợp lý, vì vậy, nhiều khi người có chức có quyền thì kém tài năng, không làm được việc, còn người có tài thì không được bố trí vào đúng chỗ.

Cách đây hơn 20 năm, khi làm việc với anh Sáu Dân, anh Phạm Hùng ở trong Nam, tôi nói, vấn đề của các anh là bố trí người không đúng chỗ. Trong một môn kinh tế chúng tôi học ở trong trường, có một cái gọi là cái ưu thế tương đối, ví dụ như một anh thợ đóng giày và một anh thợ may. Anh thợ may giỏi hơn anh thợ đóng giày trong việc may mặc, anh thợ đóng giày giỏi hơn anh thợ may trong việc đóng giày. Vấn đề của các anh là bố trí anh thợ may sang đóng giày và bố trí anh đóng giày sang làm thợ may. Không đúng người đúng chỗ, anh thợ may thì không thể đóng giày được và ngược lại, tức không có sản xuất ở trong nền kinh tế. Một nền kinh tế mà không có sản xuất, không có trao đổi thì không thể phát triển mạnh được. Cho nên, mọi việc là phải bố trí đúng người đúng chỗ để có thể khai thác tối đa cái ưu thế tương đối của mình, cái đấy áp dụng cho nhân sự ở trong nước cũng như áp dụng cho mọi quốc gia. Chúng ta có ưu thế tương đối gì với thế giới thì chúng ta phát triển tối đa ưu thế đó, và không nên đi làm những việc chúng ta làm không tốt bằng họ.

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang trong tình trạng học việc nhưng lại không học đến nơi đến chốn, có những người học được một chút thì không cho họ làm. Có rất nhiều người đã đi học ở Harvard, đi học Fulbright, đi học MBA ở bên Mỹ. Nhà nước cử đi học từ năm 91, 92, họ học rất tốt, nhưng khi về nước thì không được bố trí làm việc đúng chỗ.

Nền kinh tế của chúng ta như thế này là do ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế của Mỹ, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trên toàn thế giới, nhưng trong nội bộ của chúng ta mới là vấn đề cốt lõi. Chúng ta rất giỏi trong nhiều vấn đề. Những vấn đề thuộc trí tuệ Việt Nam để nghĩ ra những giải pháp trong thời kỳ chiến tranh rất siêu việt, nhưng chúng ta lại không dùng đến trí tuệ đó để giải quyết những vấn đề hiện nay, nguyên nhân là do chúng ta không bố trí đúng người, đúng chỗ. Chúng ta vẫn ở trong tình trạng đang học hỏi để tiến vào nền kinh tế thị trường, nhưng chúng ta chưa chấp nhận quy luật hoạt động và chưa áp dụng đầy đủ quy luật hoạt động của nền kinh tế thị trường. Vấn đề của chúng ta không chỉ tập trung vào trong một số dữ liệu hay những phân tích của các chuyên gia nước ngoài. Những phân tích của họ rất hợp lý, rất logic nhưng thiếu cái thực tế của Việt Nam, bởi họ không hiểu được tình hình của Việt Nam. Ở bên Mỹ, ông chủ tịch một công ty có quyền cho ông phó chủ tịch nghỉ việc vì không đáp ứng được yêu cầu công việc, nhưng ở Việt Nam thì không thể giải quyết được như vậy. Những phân tích của các chuyên gia nước ngoài khi đọc chúng ta thấy rất có lý, nhưng cần phải cân nhắc xem có thể đem một trái táo Mỹ xuống trồng ở dưới đồng bằng sông Cửu Long được không, hay đem thả một con cá mập vào trong sông Tiền Giang, Hậu Giang, liệu nó nó có quậy nổi hay không, những vấn đề đó chúng ta cần phải suy nghĩ.

“ Nhiệm vụ của ngân hàng là tư vấn cho khách hàng biết cách sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả và theo dõi việc thực hiện những dự án kinh doanh. Còn việc nâng lãi suất cơ bản lên 14% và huy động tới 19% thì cũng không thu hút được bao nhiêu tiền nhàn rỗi của nhân dân, mà thực ra chỉ là chạy từ ngân hàng này qua ngân hàng kia.”

Ở Mỹ, tổng thống có quyền đề cử thống đốc của ngân hàng nhà nước, tức cục dự trữ liên bang Mỹ, nhưng tổng thống chỉ có quyền đề cử và Quốc hội phê duyệt, với nhiệm kỳ là 14 năm. Khi Quốc hội đã phê duyệt thì tổng thống không có quyền can thiệp vào công việc của thống đốc ngân hàng. Ngân hàng nhà nước làm gì? Chúng ta dùng từ ngân hàng nhà nước là không đúng với vai trò của ngân hàng, phải gọi là ngân hàng trung ương mới đúng. Ngân hàng trung ương có trách nhiệm cung ứng đầy đủ tiền bạc, tín dụng cho nền kinh tế phát triển bền vững, đồng thời có nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, không để lạm phát làm lũng đoạn sự phát triển kinh tế bền vững.

Nhiệm vụ của tổng thống là điều hành cơ quan hành pháp , còn mọi việc của Quốc hội là do Quốc hội quyết định. Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán nhà nước cũng là do tổng thống đề cử và Quốc hội phê duyệt, có nhiệm kỳ 5 năm. Trong 5 năm đó không ai có quyền can thiệp vào công việc của Ủy ban chứng khoán nhà nước. Ở đây tôi muốn nói rằng, một đất nước muốn phát triển tốt và bền vững thì phải có những cơ chế như thế nào để mỗi người, mỗi bộ phận làm hết phận sự của mình và không bị những bộ phận khác khống chế...

Theo tôi, chúng ta muốn tìm đường để ra khỏi rừng thì phải biết ai có thể dẫn chúng ta ra được, còn nếu chúng ta cứ loay hoay, chạy lòng vòng ở trong đấy thì không thể nào ra được. Tôi cho rằng, tình hình kinh tế của Việt Nam hiện nay rất khó khăn. Ở đây tôi có một báo cáo của Tập đoàn điện lực. Hiện nay, Tập đoàn điện lực trước áp lực việc các ngân hàng ngừng giải ngân do thiếu tính thanh khoản và lãi suất gia tăng, cho nên đã đình hoãn 400 hạng mục công trình trong tổng giá trị.

Hiện có 10 nhà máy thủy điện không được giải ngân và sẽ phải giãn công trình ra, và đến năm 2009 - 2010 thì 10 nhà máy thủy điện này sẽ không đi vào hoạt động được, và như vậy nền kinh tế sẽ thiếu điện rất nhiều... Tiếp theo, những dự án đang được nghiên cứu để thực hiện cũng phải ngưng lại vì không tìm được giải pháp cho vấn đề tài chính, mà ngân sách thì không đủ.

"Mỗi năm chúng ta cần tối thiểu 3 tỷ đô la để phát triển điện năng" Về vấn đề điện năng, mỗi năm chúng ta phải cần tối thiểu 3 tỷ đô la để phát triển, cái đó về nguồn, còn vấn đề phân phối hiện giờ ta không giải quyết được. Vấn đề dầu khí và những lĩnh vực khác, 9 tổng công ty 91 cũng ở trong tình trạng như thế. Với một chính sách tiền tệ mà huy động vốn tiết kiệm của nhân dân từ 17 đến 18% nó có tác động gì, có hiệu quả gì, và khi cho vay với lãi suất 21% thì nó sẽ như thế nào ?

Vậy ngân hàng nhà nước sẽ giải quyết như thế nào? Hiện tại, mảng kinh tế tư nhân lãnh trách nhiệm cho hơn 50% tổng sản phẩm quốc nội cũng phải ngưng lại các dự án không phải chỉ do lãi suất cao mà là không vay được vốn. Trước tình trạng như vậy chúng ta phải giải quyết thế nào để lĩnh vực tài chính, lĩnh vực sản xuất kinh doanh có đủ máu trong người để làm việc. Trong người mỗi ngày mất một ít máu, từ áp suất bình thường 12,7 xuống còn 10,6 hay 9,5 thì anh xỉu, anh không còn máu huyết để làm việc... Trước tình hình như vậy chúng ta sẽ giải quyết như thế nào?

Theo tôi vấn đề cũng không khó khăn gì, quan trọng là chúng ta phân biệt được đối tượng. Nếu muốn tập trung vào sản xuất kinh doanh thì những đối tượng nào cần dùng tài chính tín dụng cho sản xuất kinh doanh thì cung ứng đủ tín dụng cho họ làm việc. Hồi năm 1956, khi ở bên Mỹ, tôi đến làm việc với một ngân hàng, họ nói họ nhận được một đề nghị tài trợ cho dự án của hai anh kỹ sư trẻ. Trong túi hai anh kỹ sư đó chỉ có 2,5 nghìn đô la nhưng họ muốn làm dự án sản xuất đèn lái ô tô, lúc đó đèn lái ô tô được làm bằng thủy tinh, nó rất đắt, 2,5 - 3 đô la một cặp, nhưng hai anh này muốn làm bộ đèn lái ô tô bằng nhựa với giá trị chỉ hơn 50 xu một bộ, như vậy mỗi chiếc xe sẽ tiết kiệm được từ 2 - 3 đô la. Họ tới nói chuyện với ngân hàng thì ngân hàng nói, dự án của các anh có thị trường, có sản phẩm, có hiệu quả kinh tế, vậy anh cứ về rồi cho tôi biết anh cần bao nhiêu tiền để xây dựng nhà máy, bao nhiêu tiền để mua trang thiết bị tôi sẽ tài trợ cho anh 100%. Về tài chính tôi sẽ quản cho anh, tôi mở sổ cho anh mấy trăm nghìn đô la, khi anh cần gì tôi chi cho anh, lương của nhân viên tôi trả cho anh. Khách hàng sẽ đóng tiền vào tài khoản của anh, đến cuối năm anh sẽ biết anh lời được bao nhiêu, anh kiểm tra lại với kế hoạch kinh doanh của anh.

Ngân hàng là vậy. Ngân hàng là nơi tài trợ cho các kế hoạch có hiệu quả kinh tế và không phải cầm cố bất cứ thứ gì. Ở Việt Nam, khi tới ngân hàng, anh chưa biết anh làm gì với tiền, anh mang sổ đỏ ngôi nhà tới để cầm cố, anh mang cổ phần tới để cầm cố, ngân hàng đưa tiền cho anh, anh về làm gì ngân hàng cũng không biết, như vậy thì làm sao quản lý được hiệu quả của tín dụng ngân hàng.

Do đó, nhà nước phải có chính sách đối với các ngân hàng là, những dự án nào có hiệu quả kinh tế thì có thể tài trợ, không cần phải tới 21%, không cần huy động vốn trong nhân dân, Ngân hàng trung ương sẽ chiết khấu hoặc ứng tiền với lãi suất thấp. Ngân hàng Việt Nam không phải là ngân hàng mà mới chỉ là tiệm cầm đồ để cho vay. Nhiệm vụ của ngân hàng là tư vấn cho khách hàng biết cách sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả và theo dõi việc thực hiện những dự án kinh doanh.

Còn việc nâng lãi suất cơ bản lên 14% và huy động tới 19% thì cũng không thu hút được bao nhiêu tiền nhàn rỗi của nhân dân, mà thực ra chỉ là chạy từ ngân hàng này qua ngân hàng kia. Do đó, việc tăng lãi suất sẽ làm tăng áp lực lạm phát, vì khi đi vay với lãi suất 21% thì các doanh nghiệp sản xuất phải tính cái đó vào giá trị sản phẩm, khi đó giá thành sẽ cao, bán ra với giá cao, thành ra phản tác dụng.

Vấn đề này rất quan trọng, nhưng những cán bộ của nhà nước đi kêu gọi đầu tư báo cáo đăng ký được hơn 30 tỷ đầu tư nước ngoài mà không biết rằng 30 tỷ đó là gì. Trong số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có đến 80% là vốn vay. Tại sao chúng ta lại hoan hô tín dụng nước ngoài ào ạt vào Việt Nam trong khi đi khoá tín dụng ở trong nước để các xí nghiệp không có vốn để sản xuất kinh doanh.

Trong ngân hàng nhà nước chúng ta có hơn 20 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ, vậy hơn 20 tỷ đô la đó sẽ giải quyết vấn đề gì trong thời kỳ khủng hoảng tiền tệ? Cho tới bây giờ chúng ta nhập siêu rất nhiều, nhập siêu tới mấy chục phần trăm GDP, nhưng theo thống đốc ngân hàng nhà nước nói thì không vấn đề gì, cái đó sẽ do đầu tư nước ngoài và kiều hối bù vào. Nhưng chúng ta phải suy nghĩ việc này dưới một khía cạnh khác...

Vấn đề đối với nhà nước Việt Nam bây giờ là, muốn bênh vực tỷ giá đồng bạc thì ước lượng chúng ta phải chi ra bao nhiêu nếu thiên hạ mua, mà thiên hạ ở đây không chỉ là người nước ngoài mà là cả người trong nước. Trong các bạn ngồi đây, nếu ai có 2 - 3 tỷ đồng, các bạn định đầu tư vào cái gì thì cũng không lãi bằng gửi ngân hàng, vì lãi suất hiện nay của ngân hàng là 17 - 18%, nhưng nguy cơ rủi ro cũng cao. Hiện giờ thể chế Việt Nam chưa có bảo hiểm cho tài khoản của ngân hàng, nó chỉ có giới hạn. Những người có tài sản ở Việt Nam bây giờ hoặc là họ mua vàng hoặc mua đô la để tích trữ, thì liệu chúng ta có đủ lượng để giải quyết vấn đề này hay không ?

Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài, họ đưa tiền vào Việt Nam thì đến lúc nào đó họ cũng phải rút ra, vậy lúc đó chúng ta sẽ giải quyết ra sao. Do vậy, tới một mức nào đó nếu chúng ta quản lý tiền tệ không tốt thì đồng bạc Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trên thị trường thế giới và chúng ta bắt buộc phải giải quyết. Vừa rồi, trong một cuộc hội thảo, một vị nghiên cứu của UNDP ra một đề xuất với chính phủ Việt Nam là, chính phủ Việt Nam phải định một tỷ giá nào đó và phải quyết tâm bảo vệ tỷ giá đó.

Một đề nghị như vậy có hợp lý không, chúng ta có đủ sức để bảo vệ cho một tỷ giá nào không? Nếu không đủ sức thì bắt buộc chúng ta phải kêu gọi sự hỗ trợ của IMF, kêu gọi sự hỗ trợ của IMF đến mức nào thì tuỳ theo mức độ. Đầu tư nước ngoài hiện nay cũng tương đối nhiều, do đó, chúng ta chưa bị phá giá đồng bạc trầm trọng đến mức phải đi cầu cứu IMF. Vấn đề của chúng ta là, hiện chúng ta có những hợp đồng với IMF và World bank là không đi huy động vốn nước ngoài, vay nợ nước ngoài quá một mức nào đó. Nếu chúng ta vay quá một mức nào đấy thì IMF họ sẽ nói rằng, quá sức của các anh thì các chương trình của IMF tài trợ sẽ bị ngưng lại, cái đấy làm cho chúng ta có một lượng trần khi đi vay mượn nước ngoài.

Đến lúc nào đó Việt Nam cần đi vay mượn nước ngoài hay chính phủ Việt Nam cần phải bảo lãnh, ví dụ, có một tổ chức muốn vào xây dựng nhà máy điện ở Việt Nam, trong khi đó các ngân hàng đầu tư yêu cầu phải có sự bão lãnh của nhà nước thì nhà nước không bảo lãnh được vì đã có cam kết với IMF và World bank về việc không bảo lãnh quá một mức nào đó. Đến lúc đó chúng ta cần thương lượng lại với IMF và World Bank về mức trần để bảo lãnh chứ cũng chưa cần phải thương lượng để vay tiền để trang trải cho những cái gọi là đầu cơ đồng bạc của chúng ta.

“ Trong vòng 10 năm nữa, nếu chúng ta làm giỏi thì chúng ta là một vận động viên tốt trên thị trường thế giới, nếu chúng ta làm dở thì chúng ta chỉ đi làm thuê cho nước ngoài”

Vừa rồi, chính phủ đưa ra 8 giải pháp để kiềm chế lạm phát trong đó có giảm 10% chi phí công, nhưng có những nơi không giảm được. Giảm chi phí dàn trải của các tập đoàn cũng vậy. Muốn giải quyết những giải pháp của nhà nước đưa ra thì phải có sự đồng thuận của ban lãnh đạo, nhưng hiện nay sự đồng thuận ấy không có, việc đấy là do cơ chế quyền lực của chúng ta. Khi chúng ta tổ chức lại cơ chế quyền lực cho hợp lý vì quyền lợi của đất nước, vì quyền lợi của dân tộc thì chúng ta sẽ giải quyết được vấn đề một cách thông thoáng hơn, hiện nay chúng ta chưa đạt được cái đấy. Vì chưa đạt được cho nên những giải pháp nhà nước đưa ra xét về cơ bản là hợp lý, nhưng nó không được đưa vào từng phần.

Không phải là không có giải pháp, có những người đưa ra giải pháp rất hợp lý, nhưng khi đưa vào áp dụng thì đụng chạm đến quyền lợi của một nhóm người nào đấy. Vấn đề nguy hiểm của chúng ta là cơ chế, chúng ta đi một chiếc thuyền ra ngoài biển, đi vào trong sóng gió rất lớn của xu thế hội nhập nhưng không có dự báo thủy văn, phía trước cơn bão cách bao nhiêu và gió giật cấp mấy chúng ta cũng không biết. Bên Hoa Kỳ vấn đề dự báo của họ rất hay, ngân hàng trung ương có một ban nghiên về kinh tế vĩ mô, quốc hội có uỷ ban nghiên cứu về tình hình kinh tế, trong dinh tổng thống có hội đồng tư vấn cho tổng thống. Trong tất cả các trường đại học, các ban nghiên cứu, các ngân hàng đầu tư đều có ban dự báo, cho nên họ thấy nền kinh tế của họ tương đối rõ ràng. Việt Nam như đứng trên chiếc tàu ra khơi, ở trước là sương mù dày đặc mà không biết. Chúng ta không có dự báo thì anh thuyền trưởng giỏi cách mấy cũng không sao lái được.

Nghiên cứu Trung Quốc họ làm như thế nào, họ thu hút nhân tài như thế nào. Người Trung Quốc ở nước ngoài khi về nước làm việc, không cần biết anh có là đảng viên đảng cộng sản hay không họ cũng bố trí cho anh làm việc đúng chỗ. Họ khuyến khích những người Trung Quốc ở trên khắp thế giới về nước làm việc bất cứ lúc nào, nhà nước tạo mọi điều kiện khi họ về làm việc. Người ở nước ngoài làm được việc gì thì nhà nước cũng ủng hộ nhiệt tình. Anh ngồi tại bất cứ một ban nghiên cứu nào của Mỹ, có cái gì hay anh cung cấp cho Trung Quốc miễn là không vi phạm luật về vấn đề gián điệp của nhà nước Mỹ, cho nên họ huy động được rất nhiều lực lượng để làm việc.

Các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng, Trung Quốc là một cái xe lửa chạy ào ào và có lẽ không có gì ngăn cản nổi. Trong thời gian không lâu nữa có lẽ Trung Quốc sẽ là một đối tác chiến lược cạnh tranh với Mỹ về lãnh đạo kinh tế. Nhưng Trung Quốc có nhiều ưu thế hơn so với Mỹ, họ có ưu thế về văn hóa, ưu thế về dân số, ưu thế về nhân sự trên toàn thế giới.

Vấn đề hội nhập quốc tế là việc hiển nhiên chúng ta phải làm. Nhưng chúng ta chuẩn bị như thế nào, và sau khi ký thì phải thực hiện những hiệp ước như thế nào để bảo vệ được quyền lợi của chúng ta, vấn đề đấy chúng ta làm chưa tốt. Ví dụ, Hiệp định song phương Việt - Mỹ được ký từ 2001, họ cho chúng ta 12 năm để chuẩn bị những mảng nào mà chúng ta thấy yếu, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa chuẩn bị xong. Khi gia nhập WTO cũng vậy, chúng ta phải sửa đổi 87 đạo luật khác nhau. Chẳng hạn như lĩnh vực ngân hàng, chúng ta cam kết đến 2010 thì ngân hàng 100% vốn nước ngoài có thể hoạt động ở Việt Nam, hay các siêu thị của Mỹ có thể vào Việt Nam để tố chức hệ thống phân phối bán lẻ. Hai cái đấy rất quan trọng nhưng không được chúng ta quan tâm đúng mức.

Trong tình hình khủng hoảng kinh tế tài chính như hiện nay, các xí nghiệp Việt Nam không vay được tiền của các ngân hàng trong nước, họ bắt đầu gõ cửa các ngân hàng nước ngoài. Từ trước, các ngân hàng nước ngoài không tham gia nhiều vào thị trường tín dụng trong nước, bây giờ họ xem lại chiến lược và bắt đầu tham gia. Họ sẽ mở những chi nhánh ngân hàng ở các nơi và ký những hợp đồng hợp tác chiến lược với một số ngân hàng Việt Nam để khai thác mạng lưới của ngân hàng Việt Nam, từ đó họ có thể tham gia mạnh vào mạng lưới ngân hàng bán lẻ của Việt Nam. Nếu những ngân hàng lớn như vậy họ vào làm việc mà ngân hàng Việt Nam chỉ tập trung vào chuyện cho vay cầm cố thì ngân hàng nước ngoài sẽ chiếm lĩnh được thị trường và chi phối thị trường tài chính của chúng ta rất mạnh. Họ có tiền đi vào trực tiếp cũng như có tiền đi vào gián tiếp. Họ đi mua ở trên thị trường chứng khoán, nếu nói thị trường chứng khoán của chúng ta ước chừng khoảng 50 tỷ đô la thì họ cũng mua được. Cái đấy rất nguy hiểm, chúng ta rất dễ bị mất chủ quyền tài chính và kinh tế.

Chúng ta không chuẩn bị được thị trường nội địa, đặc biệt là chuỗi siêu thị bán lẻ. Siêu thị bán lẻ có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế chúng ta cũng chưa thấy rõ. Hiện nay chúng ta có những chuỗi siêu thị như Saigon Coop hay Fivimart, nhưng chúng ta làm còn rất sơ đẳng. Vào BigC hay METRO chúng ta thấy rõ hình ảnh hệ thống siêu thị bán lẻ như thế nào. Họ trả tiền cho các xí nghiệp bán hàng cho họ sớm nhất là 60 ngày, không thì 90 ngày, 120 ngày, thậm chí là 180 ngày, tức là những xí nghiệp sản xuất kể như tài trợ tài chính cho các siêu thị để họ mua hàng về và phát ra. Các siêu thị đó chỉ dựng lên cái nhà và những cái quầy, còn sản phẩm là do các xí nghiệp sản xuất đem đến bỏ vào để bán. Bán sữa tươi họ cũng trả sau 60 ngày, mà sữa tươi thường là hôm trước giao thì hôm sau đã bán hết, số tiền ấy vào trong tài khoản của siêu thị, họ dùng số tiền ấy trong 60 ngày mới trả. Chính sách tài chính của các siêu thị của họ là như vậy. Các xí nghiệp sản xuất của chúng ta muốn bán cho siêu thị của họ để có được 20 - 30% nền về vấn đề sản xuất, chỗ đó bán có lẽ không có lời nhưng nó là cái nền về vấn đề Economy of scale. Nếu chúng ta sản xuất tốt thì sẽ lời trong 70% còn lại, các siêu thị họ mua 30 - 40% hàng hoá của các cơ sở sản xuất kinh doanh với giá rẻ mạt, và họ lại cạnh tranh với các cơ sở bán lẻ của chúng ta. Những cơ sở bán lẻ của chúng ta không thể cạnh tranh với họ bằng giá cả được thì chạy tới họ để mua, lúc đó những cơ sở bán lẻ của chúng ta sẽ chết nếu không tổ chức tốt. Nếu chúng ta không khéo thì hệ thống phân phối của nước ngoài họ vào một mạch, một mặt họ nắm vấn đề tài chính, mặt khác họ nắm vấn đề phân phối, chúng ta suốt đời đi làm thuê cho họ.

Cho nên, nếu hội nhập kinh tế mà không nắm được cái đó thì rất nguy hiểm, vô hình chung chúng ta đi bán chủ quyền kinh tế của đất nước một cách rẻ mạt. Trong vòng 10 năm nữa, nếu chúng ta làm giỏi thì chúng ta là một vận động viên tốt trên thị trường thế giới, nếu chúng ta làm dở thì chúng ta chỉ đi làm thuê cho nước ngoài. Tôi nghĩ bản lĩnh của nhân dân Việt Nam nếu thấy rõ vấn đề thì có thể làm tốt được, việc này tới mức nào thì những người lãnh đạo cũng hiểu, hiểu rồi nhưng có làm gì hay không. Tôi nghĩ đã là nhân dân Việt Nam thì sẽ nghĩ đến quyền lợi của đất nước Việt Nam, nhưng làm sao đừng quá chậm, vì khi đã đến mức chậm rồi thì không đi ngược chiều lại được nữa.