NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nền kinh tế Việt Nam : Sức Mạnh Cứng và Sức Mạnh Mềm - GS TS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật Bản

Năm 2006 đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển của Việt Nam. Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và nhận Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ, thị trường lớn nhất thế giới, đã đưa Việt Nam lên vị trí một thành viên chính thức, đầy đủ của cộng đồng quốc tế và với những cam kết để gia nhập WTO, Việt Nam sẽ chuyển nhanh hơn vào kinh tế thị trường. Nhìn chung, từ nay kinh tế nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, khác về chất so với giai đoạn trước, và hy vọng sẽ đạt được một hiệu suất cao hơn.

Cùng với các sự kiện kể trên, kinh tế tăng trưởng liên tục ở mức khá cao và việc tổ chức thành công Hội nghị APEC 14 làm cho hình ảnh Việt Nam trên vũ đài quốc tế sáng hẳn ra, thu hút sự quan tâm của thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2006 tại Việt Nam đã đạt kỷ lục mới. Cùng với thị trường thế giới ngày càng rộng mở, FDI kéo theo tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh tiên tiến đang trở thành những ngoại lực thuận lợi cho Việt Nam.

Trong khung cảnh đó, xã hội Việt Nam bao trùm một không khí phấn chấn, hồ hởi, tự tin. Đây là một động lực, một yếu tố tích cực trong nội lực để thúc đẩy đất nước tiến nhanh hơn. Dù trong nội lực còn nhiều vấn đề phải giải quyết (như giáo dục, đào tạo, sử dụng nhân tài,...) nhưng với thời cơ hiện nay, kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển ở mức cao trong nhiều năm tới.

Năm 2006 trong nước cũng bàn tán sôi nổi về bản báo cáo mới của Goldman Sachs vì dự báo của bản báo cáo này góp phần làm tăng niềm tin vào tương lai của người Việt Nam. Tập đoàn tài chính này vào năm 2003 đã phân tích tiềm năng của bốn nước mà họ gọi là BRICs (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) và đưa ra dự báo về khả năng ảnh hưởng đến kinh tế thế giới của các nước này trong tương lai. Trong bản báo cáo cuối năm 2005, Goldman Sachs cho rằng tiếp theo BRICs có 11 nước đang phát triển đáng được chú ý (mà họ gọi là Next-11) trong đó có Việt Nam. Dưới các giả định về tiềm năng tăng trưởng, kinh tế Việt Nam được dự báo tăng bình quân 7,9%, 7,6%, 6,9% và 6,4% trong các giai đoạn năm năm từ 2005 đến 2025. Trong dài hạn, kinh tế tăng trưởng thường đi kèm với việc tăng giá đồng tiền nước mình. Tổng sản lượng trong nước (GDP) tính bằng đô la Mỹ do đó sẽ tăng nhiều hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Theo tính toán của Goldman Sachs, tốc độ tăng trưởng đóng góp hai phần ba và việc tăng giá đồng tiền sẽ đóng góp một phần ba vào GDP của các nước đi sau. Với các tiền đề này, vào năm 2025, GDP của Việt Nam ( theo giá lúc đó ) sẽ là 436 tỉ đô la Mỹ ( năm 2005 là 51 tỉ đô la Mỹ ), và Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới, sau bảy nước tiên tiến hiện nay (Âu Mỹ và Nhật Bản), bốn nước BRICs và năm nước khác (Hàn Quốc, Mexico, Indonesia, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ).

Cách tính toán của Goldman Sachs nhìn chung có thể chấp nhận được. Với dân số hơn 100 triệu vào năm 2020 và với các tiềm năng khác, Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành một nền kinh tế có trọng lượng trên thế giới. Nhưng ta có nên xem đây là mục tiêu duy nhất để phấn đấu trong giai đoạn phát triển sắp tới? Mấy năm gần đây chúng ta cũng đã bàn đến chất lượng của sự phát triển hoặc phát triển bền vững, mà hai nội dung chính là phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường và tạo cơ hội bình đẳng để mọi người có thể tham gia quá trình phát triển, để thành quả phát triển lan tỏa đến các giai tầng xã hội. Tôi đã có dịp bàn kỹ vấn đề này. Tuy nhiên, lần này tôi muốn đưa vấn đề vào một khung lớn hơn, và nhân các sự kiện quốc tế dồn dập đến với Việt Nam trong năm cũ, nhân chuyện kinh tế nước ta được xếp hạng trong tương lai, ta thử đặt vấn đề chất lượng phát triển trong bối cảnh quốc tế. Ở đây tôi liên tưởng đến thuật ngữ sức mạnh mềm của Joseph Nye, Giáo sư Đại học Harvard.

Cho đến nay sức mạnh về kinh tế và quân sự thường ảnh hưởng đến nước khác qua các quan hệ quốc tế về chính trị, quân sự, kinh tế. Có thể gọi đó là sức mạnh cứng (hard power). Còn một nguồn sức mạnh khác cũng có thể nâng cao địa vị quốc tế của một nước, đó là sức mạnh mềm (soft power). Thuật ngữ này nguyên được áp dụng trong lĩnh vực ngoại giao, quan hệ quốc tế, nhưng cũng có thể áp dụng trong phạm vi rộng hơn để phân tích sức mạnh văn hóa, uy tín quốc tế, sự lôi cuốn, hấp dẫn của một quốc gia, một dân tộc đối với thế giới.

Về lâu dài, Việt Nam có thể tăng sức mạnh mềm qua các sản phẩm văn hóa như phim ảnh, thơ văn, ca nhạc... hoặc qua hoạt động thể thao, ngoại giao... trên vũ đài thế giới. Lĩnh vực kinh tế thường được nói đến trong sức mạnh cứng, nhưng nếu tăng hàm lượng văn hóa của chính sách, chiến lược phát triển và đạt được chất lượng cao của thành quả phát triển thì sức mạnh mềm cũng phát sinh. Việt Nam có thể lôi cuốn sự quan tâm của thế giới, hấp dẫn khách du lịch nước ngoài đến tham quan, hấp dẫn người nước ngoài đến kinh doanh, tạo ra sự khâm phục, đồng tình của dư luận quốc tế bằng chiến lược chú trọng chất lượng phát triển, thực hiện phát triển trong sự hài hòa với thiên nhiên và xã hội, và có thái độ tự trọng, tự lập song song với việc tiếp thu thành quả phát triển nước ngoài. Cụ thể hơn, có thể nêu ra ba điểm dưới đây.

Thứ nhất, song song với phát triển nếu ưu tiên tạo môi trường sống hài hòa, thân thiện với thiên nhiên và tử tế, ưu ái với con người thì không những chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam tăng lên mà còn hấp dẫn người nước ngoài đến nhiều hơn. Ở các đô thị, những điểm này thường ít được chú ý. Chính sách ưu tiên tăng tốc độ phát triển và tính tự phát của quá trình phát triển thường phá hoại môi trường và làm suy đồi đạo đức, làm giảm nếp sống văn hóa của người đô thị. Phải làm cho cuộc sống của người dân ở các đô thị được bảo đảm tối đa về cả hai mặt an ninh xã hội và an toàn giao thông, và được thỏa mãn trong môi trường xã hội lành mạnh, có văn hóa.

Thứ hai, Việt Nam còn phải vay mượn và nhận viện trợ ( gọi chung là ODA ) nhiều trong thời gian trước mắt, một thái độ tự trọng và có trách nhiệm trong việc dùng ODA là rất cần thiết. Mọi người Việt Nam, nhất là các quan chức nhà nước, cần ý thức rằng vay mượn và nhận viện trợ là để phát triển nhanh hơn và để không còn phải nhận ODA trong một tương lai không xa. Thái độ tự trọng và có trách nhiệm được thể hiện trong việc quản lý vốn ODA, trong việc bài trừ tham nhũng và tránh lãng phí. Tham nhũng và lãng phí, kể cả những vụ không liên quan trực tiếp đến vốn ODA, cũng nằm trong phạm trù tự trọng đối với nước ngoài trong việc vay mượn và nhận viện trợ.

Thứ ba, Việt Nam đang trong quá trình rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước, đang trong nỗ lực xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu và tiến lên một nước công nghiệp hiện đại. Trên thế giới hiện nay thật ra còn có hơn một trăm quốc gia cũng đang hoặc sẽ bắt đầu một quá trình tương tự như ta, trong đó không ít quốc gia đang mò mẫm tìm mô hình tối ưu để phát triển trong thời đại toàn cầu hóa. Nếu Việt Nam thực hiện thành công mô hình kết hợp hiệu quả nội lực và ngoại lực, và phát triển trong sự hài hòa với thiên nhiên và xã hội, tự nó sẽ trở thành một tài sản quý giá của thế giới mà nhiều nước sẽ tham khảo.

Sức mạnh mềm như phân tích ở trên vừa có tác dụng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vừa lôi cuốn được sự mến mộ của thế giới. Song song với đầu tư cho phát triển kinh tế, cần chú trọng đầu tư nhiều hơn cho vốn văn hóa, vốn xã hội là con đường vừa tăng sức mạnh cứng vừa tăng sức mạnh mềm của Việt Nam.

GS TS Trần Văn Thọ

Đại học Waseda, Tokyo