NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Có thể kỳ vọng gì ở Công Nghệ Sinh Học - GS TS Nguyễn Lân Dũng

Nhà nước Việt Nam coi Công Nghệ Sinh Học là khoa học mũi nhọn, là Công nghệ ưu tiên trên chặng đường Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên không dễ dàng gì để hiểu được Công Nghệ Sinh Học đang ở giai đoạn phát triển như thế nào và chúng ta có thể kỳ vọng gì vào ngành khoa học đang được coi là ưu tiên hàng đầu trên thế giới này ?

Gần đây tôi được đến thăm nhiều Công ty Công Nghệ Sinh Học tư nhân ở một số nước phát triển và tôi thực sự ngỡ ngàng khi thấy dù chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ nhưng thu hoạch của các nhà máy Công Nghệ Sinh Học chắc là còn lớn hơn cả đồng bằng châu thổ sông Hồng hay sông Cửu Long (!). Quả thật như vậy, với các nồi lên men dung tích từ nửa triệu đến 1 triệu lít người ta nuôi cấy các vi sinh vật hay các tế bào động vật mang gen tái tổ hợp ( nghĩa là đã được mang một gen quý chuyển vào nhờ kỹ thuật di truyền ) người ta đang sản xuất ra các viên thuốc, các enzym mà giá thành rất cao. Doanh thu của các nhà máy này là hàng tỷ USD mỗi năm. Nguồn gen quý hiếm được lấy từ đâu. Phần lớn là từ vi sinh vật. Trong khi số loài động , thực vật hầu như đã được biết hết rồi thì thế giới vi sinh vật còn đầy bí mật. Dù đã định tên được khoảng 200 000 loài vi sinh vật nhưng số loài chưa biết đến trong tự nhiên còn lớn hơn thế rất nhiều lần. Việt Nam là một trong những địa điểm dễ dàng tìm thấy các loài vi sinh vật mới- đó là nhận xét của các chuyên gia châu Á đang cộng tác nghiên cứu với nhau trong tổ chức ACM (Asian Consortium for the Conservation and Sustainable Use of Microbial Resources). Nguồn gen phong phú và quý hiếm dễ dàng tìm thấy ở vi sinh vật là do chúng có mặt ở khắp mọi nơi trên Trái đất,kể cả trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt mà không loại sinh vật nào khác có thể sinh tồn được ( về nhiệt độ, pH, ôxy, phóng xạ, hóa chất độc hại, thiếu các nguồn thức ăn thông thường...). Vi sinh vật lại dễ dàng gây đột biến để tạo thêm ra các đặc điểm trao đổi chất mới hoặc làm nâng cao mạnh mẽ các hoạt chất sinh học vốn có. Ngày nay nhiều loài vi sinh vật đã được biết rất rõ bản đồ từng gen và có thể dùng chúng để tiếp nhận các gen hữu ích khác trước khi đưa vào sản xuất. Các gen quý hiếm hày cũng có thể đưa được vào cơ thể động vật hoặc thực vật . Ngày nay có thể phá thành tế bào thực vật để tạo ra các tế bào trần. Trộn hai tế bào trần cỉa hai loài thực vật khác xa nhau có thể tạo ra một tế bào mới mang gen của cả hai loài này ( có khi khác họ, khác bộ với nhau ), sau đó nhờ kỹ thuật nuôi cấy mô người ta có thể tạo ra các cây hoàn toàn chưa hề có trên đời. Công nghệ sinh học đang như làm trò ảo thuật trên các cơ thể sống và tạo ra các sản phẩm có giá trị rất cao vì đó là các sản phẩm hết sức có ích.

Thành ra không nên nhầm lẫn giữa Công Nghệ Sinh Học truyền thống ( nấu rượu, muối dưa, làm tương, làm giấm, ủ phân...) và Công Nghệ Sinh Học cận đại ( sản xuất văcxin cổ điển, vitamin, axit hữu cơ, dung môi hữu cơ, bột ngọt và các axit amin khác...) với Công Nghệ Sinh Học hiện đại. Công Nghệ Sinh Học hiện đại phải gắn liền với các cơ thể mang gen tái tổ hợp ( recombination gene ).

Chúng ta hãy điểm qua về các mốc đáng nhớ làm dần dần dẫn đến Công Nghệ Sinh Học hiện đại :

5000 năm trước Công Nguyên - Người Ai Cập đã biết nấu bia, 2000 năm trước Công Nguyên - người Ai Cập và người Sumerian đã làm được pho-mát. Năm 1276 lần đầu tiên chưng cất được rượu Whiskey, khoảng năm 1500 dùng kỹ thuật lên men để sản xuất sữa chua, năm 1750 dùng vi sinh vật để làm nở bột mỳ và các nước uống lên men. Năm 1797 dùng vi sinh vật sống làm văcxin. Năm 1864 Louis Pasteur chứng minh vai trò quan trọng của vi sinh vật và bác bổ thuyết “tự sinh” ( ông được coi là ông tổ của Vi sinh vật học ). Năm 1865 Gregor Mendel nêu lên các định luật Di truyền (và ông được coi là ông tổ của Di truyền học) .Năm 1869 Johann Meischer tách được ADN từ nhân của bạch cầu. Năm 1893 Koch và Pasteur khám phá bản chất các quá trình lên men. Năm 1902 Walter Sutton đưa ra thuật ngữ Gene và chứng minh các nhiễm sắc thể mang các gen khác nhau. Năm 1910 Thomas H.Morgan nghiên cứu về gen trên nhiễm sác thể ở ruồi giấm (Nobel 1933), cũng năm này xuất hiên thuật ngữ Công Nghệ Sinh Học ( biotechnology). Năm 1918 các nhà khoa học Đức sản xuất được glyxerin nhờ nấm men và dùng bùn hoạt tính để xử lý nước thải. Năm 1927 Herman Mueller dùng tia X để tăng đột biến ở ruồi giấm . Năm 1928 Frederick Griffith chứng minh nguyên tắc biến nạp ( transforming principle ) . Năm 1928 Alexander Fleming khám phá ra penicillin từ dịch nuôi cấy nấm sợi (Nobel 1945). Năm 1938 các nghiên cứu nhiễu xạ tia X đối với ADN và protein, xuất hiện thuật ngữ Sinh học phân tử. Năm 1940 Oswald Avery tách được ADN thuần khiết. Năm 1941 George Beadle, Joshua Lederberg và Edward Tatum nêu lý thuyết một gen-một enzym (Nobel 1958). Năm 1952 Martha Chase và Alfred Hershey dùng đồng vị 35S và 32P để chứng minh ADN là cơ chất di truyền khi tái tạo thực khuẩn thể trong tế bào vật chủ ( Hershey nhận giải Nobel năm 1969 ). Năm 1944 Oswald Avery lặp lại thí nghiệm biến nạp của Griffith trên phế cầu khuẩn. Năm 1950 Erwin Chargaff chứng minh tỷ lệ 1:1 của adenin và thymin trong ADN. Năm 1953 James Watson và Francis Crick khám phá ra mô hình ADN xoắn kép (nhận giải Nobel cùng Maurice Wilkins năm 1962, tiếc rằng cô Rosalind Franklin cũng có công rất lớn nhưng mất trước đó 4 năm ). Năm 1958 Coenberg khám phá ra enzym ADN-polymerase. Năm 1959 Arthur Kornberg và Severo Ochoa nhận giải Nobel về nghiên cứu cơ chế sinh tổng hợp ARN và ADN. Năm 1960 tách được ARN thông tin (mARN). Năm 1965 Francois Jacob, André Lwoff và Jacques Monod nhận giải Nobel về công trình kiểm soát di truyền nhờ enzym và sự tổng hợp ở virút. Năm 1966 Marshall Nirenberg xác định được trình tự của 3 nucleotid, Severo Ochoa tìm thấy các base xác định từng loại trong số 20 axit amin. Năm 1968 Robert W. Holley, Gobind Khorana và Marshall W. Nirenberg khám phá ra Mật mã di truyền và cơ chế tổng hợp protein. Năm 1969 Max Delbruck, Alfred D.Hershey và Salvador E.Luria nhận giải thưởng Nobel về việc khám phá ra cơ chế sao chép và cấu trúc di truyền của virút. Năm 1970 Norman Borlaug nhận giải Nobel Hòa bình về những đóng góp về tạo giống lúa mỳ mở ra cuộc Cách mạng Xanh. Năm 1973 Standley Cohen và Herbert Boyer khám phá ra công nghệ Tái tổ hợp ADN, khai sinh ra nền Công Nghệ Sinh Học hiện đại ( modern biotechnology ), Cohen nhận giải Nobel 1986. Năm 1975 David Baltimore, Renato Dulbecco và Howard M. Temin nhận giải Nobel về nghiên cứu tác dụng tương hỗ giữa virút ung thư và vật liệu di truyền của tế bào. Năm 1978 lần đầu tiên tổng hợp được Insulin từ vi khuẩn E.coli mang gen tái tổ hợp, công ty Công Nghệ Sinh Học đầu tiên thành lập ở New York, lần đầu tiên chuyển gen ở động vật có vú; phát hiện ra enzym restrictase. Năm 1979 Tập đoàn Genetech Inc. sản xuất được Kích tố sinh trưởng người HGH và 2 loại Interferon, tìm ra phương tiện để phân tích gen ung thư. Năm 1981 các nhà khoa học Trung Quốc lần đầu tiên lai tạo được cá chép với cá vàng. Năm 1982 Insulin sản xuất nhờ Công Nghệ Sinh Học được bán rộng rãi ở Mỹ. Năm 1983 lần đầu tiên chuyển được một gen xa lạ vào cây trồng, mở ra khả năng tạo các nồi phản ứng sinh học ( bioreactor ) trên thực vật. Năm 1986 lần đầu tiên gieo trồng loại cây chuyển gen (GMC) đề kháng được với sâu bọ, vi khuẩn và virút. Năm 1989 sử dụng thành công vi khuẩn để xử lý tai nạn dầu loang ở bờ biển Alaska. Năm 1990 lần đầu tiên cải tiến thực phẩm bằng Công Nghệ Sinh Học - sản xuất pho-mát nhờ enzym và thức ăn chức năng từ nấm men. Năm 1993 Kích tố sinh trưởng bò (BST) được sử dụng ở Mỹ. Năm 1994 cà chua chuyển gen FlaVTSaVT được bán rộng rãi. Năm 1995 ba loại thuốc chống AIDS và chống ung thư ra đời nhờ công nghệ Sinh dược học ( Biopharmaceutical ). Năm 1996 các loại GMC như ngo,khoai tây... được bán trên thị trường. Năm 1997 raq đời cừu Dolly chứng tỏ có thể sinh sản vô tính từ nhân tế bào soma.Năm 2000 Mỹ sản xuất nhiều loại GMC như bông, đậu tương, củ cải đường, ngô, đu đủ, khoai tây, cà chua...Năm 2001 xuất hiện giống Lúa vàng (Golden rice) giàu vitamin A và sắt xuất hiện và cứu cho hầng triệu người khiếm thị. Năm 2002 Sydney Brenner, H.Robert Horvitz và John E. Sulston nhận giải Nobel về công trình Điều khiển di truyền sự phát triển cơ quan và chương trình hóa sự chết của tế bào. Năm 2003 Paul C.Lauterbur và Peter Mansfield nhận giải Nobel về việc khám phá hình ảnh của cộng hưởng từ. Năm 2005 Barry J. Marshall và J.Robin Warren nhận giải Nobel vì khám phá ra vai trò của vi khuẩn Helicobacter pylory trong bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng và từ đó thay đổi phương thức điều trị. Năm 2006 Andrew Z.Fire và Craig C. Mrllo về nghiên cứu sự can thiệp của ARN để điều hòa hoạt động của gen, dẫn đến khả năng sử dụng kỹ thuật gen trong điều trị.

Kỹ thuật tái tổ hợp gen ( hay tái tổ hợp ADN ) được thực hiện thành công từ năm 1972 và sau đó có bước phát triển nhảy vọt trong các lĩnh vực Công Nghệ di truyền, Công Nghệ enzim/protein và Công Nghệ vi sinh vật. Năm 1982 Công ty Eli và Lilly lần đầu tiên đưa Insulin sản xuất từ tế bào vi khuẩn mang gen tái tổ hợp vào sản xuất lớn với tên thương phẩm là Humulin. Tiếp đó là trên 50 dược phẩm quý giá được ra đời từ các tế bào mang gen tái tổ hợp được phê chuẩn trong điều trị: Intron A, Roferon-A, 1986; Orthoclone, 1986; TPA, 1987; Humatrope,1987; Alferon N Injection,1989; Epogen,1989; Actimmune, 1990; Geref, 1990; Adagen,1990; Leukine, Neupogen, 1991 ;Novolin, 1991 ;Proleukin, 1992 ;Bioclate, Kogenate, 1993; Pulmozyme,1993; Helixate,1994;Abciximab, 1994; Cerezyme, 1994; Biotropin, 1995; Avonex, 1996; Retavase,1996; Humaloy , 1996; Nủttopin, 1996; Serostim, 1996; Myoscint, 1996; Infliximabe, 1996; Vistide, 1996; Ceprate, 1996; Infergen, 1997; Neumega, 1997; Regranex, 1997; Benefix, 1997; Follistim, 1997; Ritiximab, 1997; Daclizumab, 1997; Carticel, 1997; Thyrogen, 1998; Gonal- F, 1998; Refludan, 1998; Glucagen, 1998; Thymoglobulin, 1998; Herceptin, 1998; Basiliximab, 1998; Palivizumab, 1998; Enbrel, 1998; Etanercept, 1998; Apligraf, 1998; Novoseven, 1999; Ontak, 1999; DACS, 1999; Omcospar, 1999; Refactor, 2000; Pacis, 2000; TNKase, 2000; Alemtuzumab, 2001; PEG-Intron, 2001; Aranesp, 2001; Kineret, 2001; Xigris, 2001; Ibritumomab, 2002; Adalimumab, 2002; Neulasta, 2002; Rebif,2002; Elitek, 2002; Pegasys, 2002...Đó là tên thương phẩm của hàng loạt sản phẩm quý giá có bản chất là Interferon, Nhân tố kích thích tập lạc tế bào tạo máu - CSF, Interleukin, Nhân tố hoại tử ung thư TNF, Chemokine, Nhân tố chuyển hóa sinh trưởng  hay TGF-, Nhân tố sinh trưởng - GF...

Lợi nhuận thu được riêng từ các dược phẩm Công Nghệ Sinh Học năm 1997 là 15 tỷ USD, năm 2000 là 30 tỷ USD, năm 2003 là 60 tỷ USD.

Tôi đã có dịp đến thăm nhà máy dược phẩm Công Nghệ Sinh Học của hãng Roch ở Munich (Đức) và tận mắt nhìn thấy các nồi lên men sản xuất dược phẩm CNSH có chiều cao bằng tòa nhà 5 tầng (lên đến tầng thứ 5 mới nhìn thấy qua cửa kính nóc của nồi lên men). Tại đây người ta đang nuôi cấy các tế bào động vật mang gen tái tổ hợp và vì các tế bào này phát triển chậm cho nên đòi hỏi cả phân xưởng phải tuyệt đối vô khuẩn. Nhìn qua kính thấy các kỹ thuật viên được trang bị như các nhà du hành vũ trụ- để cho ngay các vi khuẩn, siêu vi khuẩn nếu có trên người họ cũng không thể lọt vào môi trường của phân xưởng. Họ đầu tư lớn như vậy nhưng sản phẩm tạo ra từ những nồi lên men khổng lồ này toàn là các dược phẩm đắt tiền, cho nên hiệu quả kinh tế vẫn là rất lớn. Tôi cũng đã đến thăm nhiều viện nghiên cứu Công Nghệ Sinh Học ở Trung Quốc, chỉ với các nồi lên men 50 lít người ta cũng đã có thể sản xuất ra các dược phẩm đủ dùng cho cả nước và vì vậy họ đều tự trả lương cho cả đơn vị với mức lương rất cao (!)

Trong khi sốt rét đang là bệnh của 500 triệu trường hợp nhiễm ký sinh trùng sốt rét hàng năm thì người ta phát hiện được chất Artemisinin trong cây Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua). Cây này đã được trồng rộng rãi tại Trung Quốc, Việt Nam để chiết rút Artemisinin. Công trình nghiên cứu này tại Việt Nam đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên hiện nay người ta thấy giá thành của thuốc chiết rút từ Thanh hao hoa vàng là quá đắt và người ta đã tách được 2 gen từ cây này liên quan đến việc tổng hợp ra acid artemisinic. Acid này chỉ qua vài phản ứng hóa học sẽ dễ dàng chuyển thành Artemisinin. S au đó người ta đã chuyển thành công 2 gen này vào tế bào men rượu ( Saccharomyces cerevisiae ). Việc đưa chủng nấm men mang gen tái tổ hợp sinh Artemisinin vào sản xuất trong các nồi lên men đã làm hạ giá thành xuống chỉ còn 10% so với phương pháp tách chiết từ Thanh hao hoa vàng và không còn cần tới đất để sản xuất cây này nữa (!). Đó là một thành tưu tuyệt vời của nhóm nghiên cứu ở trường Đại học Berkeley ( California, Hoa Kỳ ) mới công bố tháng 4-2006 ( Dae-Kyun Ro, et al., Production of the antimalarial drug precursor artemisinic acid in engineered yeast, Nature, Vol. 440, 13 April 2006, 940-943; Towie, Narelle, Malaria breakthrough raises spectre of drug resistance, Nature, Vol 440, 13 April 2006, 852-853).Phương pháp này đang được thử nghiệm sản xuất trong kỷ nghệ công ty thuốc phi vụ lợi Institute for OneWorld Health ( Viện sức khoẻ cho một thế giới ) hợp tác với công ty Amyris Biotechnologies với sự trợ giúp tới 42.6 triệu USD của tổ chức Bill and Melinda Gates Foundation. Hy vọng với sự sản xuất ở quy mô công nghiệp này thì nhiều bệnh nhân ở các nước nghèo mới có cơ hội được chữa trị dễ dàng bệnh sốt rét. Ông Jay Keasling và đồng nghiệp của nhóm nghiên cứu này đã dùng 3 giai đoạn để tạo nấm men rượu mang gen tái tổ hợp: giai đoạn đầu là thay đổi một số gen của nấm men bằng phương pháp gây đột biến để gia tăng việc sản xuất farnesyl pyrophosphate (FPP), giai đoạn hai là đưa gen amorphadiene synthase (ADS) của cây Thanh hao hoa vàng vào tế bào nấm men để tổng hợp FPP thành amorphadiene, và giai đoạn cuối là đưa gen cytochrome P450 của cây Thanh hao hoa vàng vào nấm men để oxid hóa qua 3 bậc chuyển amorphadiene thành artemisinic acid. Phương pháp sản xuất artemisinin băng kỹ thuật tái tổ hợp gen này rất bảo đảm, lai rẻ tiền và không phụ thuộc vào việc trồng cây Thanh hao hoa vàng. Sản phẩm Công Nghệ Sinh Học đi từ các tế bào mang gen tái tổ hợp không chỉ được dùng để làm thuốc mà còn được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực khác.

Công Nghệ Sinh Học hiện đại không chỉ phục vụ cho công nghiệp dược phẩm với các sản phẩm nói trên mà còn phục vụ cho nhiều mục tiêu y học khác ( như giúp chẩn đoán nhanh bệnh tật, sản xuất các thuốc kháng sinh mới, sản xuất các vacxin thế hệ mới...). Việt Nam sản xuất được hai loại văcxin quan trọng là văcxin chống viêm gan B và văcxin chống viêm não Nhật Bản cũng là nhờ sử dụng các vi sinh vật mang gen tái tổ hợp.

Công Nghệ Sinh Học hiện đại còn phục vụ đắc lực cho nông nghiệp. Nếu như cây trồng chuyển gen (GMC) vào năm 1996 chỉ mới được trồng thử trên 1,7 triệu ha thì đến năm 2003 đã được trồng trên diện tích 67,7 triệu ha ( bao gồm thuốc lá, đậu tương, bông, ngô, cải dầu, khoai tây...). Trong tổng số diện tích gieo trồng GMC (1998) thì Hoa Kỳ chiếm 72,8%, Argentina - 15,3% ; Canađa - 9,9% ; Trung Quốc - 0,7% ; Australia - 0,4% ; Mexico - 0,4% ; các nước khác - 0,5%. Về đặc tính chuyển gen thì chủ yếu nhằm mục tiêu đề kháng với thuốc trừ cỏ- 71,0%; đề kháng với sâu hại- 27,6%; đề kháng với cả hai- 1,1%; chỉ có 0,3% là nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm.

Hiện nay rất nhiều nước đã sử dụng rộng rãi kỹ thuật nuôi cấy mô ( tissue culture ) để tạo ra các dòng cây sạch bệnh (ví dụ khoai tây sạch virut) hoặc nhân nhanh các giống quý hiếm , các giống cây có giá trị kinh tế cao (ví dụ cây hông, cây sung Mỹ, nhân sâm, tam thất…). Việc nuôi cấy tế bào (cell culture) có thể dùng làm nơi lưu giữ nguồn gen, có thể gây đột biến để dùng trong chọn giống. Việc nuôi cấy tế bào động vật còn để dùng làm môi trường sản xuất nhiều loại vacxin virut. Để nuôi cấy tế bào có thể dùng phương pháp nuôi cấy bề mặt, nuôi cấy chìm, nuôi cấy lắc, nuôi cấy huyền phù, nuôi cấy phân đợt, nuôi cấy liên tục, nuôi cấy phân đoạn- liên tục, nuôi cấy fedbatch…

Sử dụng kỹ thuật dung hợp tế bào (cell fusion) có thể tạo ra một tế bào lai, thông qua kỹ thuật nuôi cấy mô có thể tạo ra một cây lai khác loài, ví dụ cây khoai-cà (pomato) trên mặt đất cho quả cà chua, dưới mặt đất cho củ khoai tây (!).

Trong công nghệ tế bào cần nhắc đên thành tựu đột xuất về kỹ thuật chuyển nhân ( nuclear transplantation ) và sự ra đời con cừu Dolly của Wilmut vào năm 1997. Đó là thành công mở đầu cho việc sinh sản vô tính (cloning) động vật có vú. Do không thông qua thụ tinh nên có thể thu được cá thể con giống y hêt cá thể cho nhân tế bào. Về sau các nhà khoa học khác đã liên tiếp tạo ra bằng phương pháp sinh sản vô tính này các con chuột, dê, cừu, bò, lợn…Nếu thành công trong việc chuyển vào lợn những gen của người để chống lại sự đào thải sau khi ghép phủ tạng rồi cho sinh sản vô tính để tạo ra hàng loạt các con lợn quý giá này thì hoàn toàn có thể mở ra một tiền đồ rộng lớn trong việc dùng phủ tạng của lợn (thận, gan, tim…) để ghép cho người bệnh, một nhu cầu rất lớn ở tất cả các nước hiện nay.

Người ta cũng đã thành công trong việc nuôi cấy các tế bào gốc của phôi thai ( embryonic stem cell ) và sử dụng chúng vào mục tiêu điều trị các bệnh hiểm nghèo, kể cả các bệnh di truyền.

Công Nghệ Sinh Học hiện đai phục vụ tích cực cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường sống. Công nghệ sinh học môi trường ( Environmental biotechnology ) đã trở thành một ngành khoa học phát triển. Hàng loạt các biện pháp xử lý môi trường ngày nay đã trở thành kinh điển ở nước ngoài , chẳng hạn như như các công nghệ Kích thích sinh học- biostimulation, Phân giải sinh học- biodegradation, Xử lý ô nhiễm sinh học -bioremediation, land farming, Nồi phản ứng sinh học- bioractor, Lọc sinh học- biofiltration, Màng sinh học- biofilm, Tẩy độc sinh học- biodetoxification, Bùn hoạt tính- activated sludge.... Người ta đã bắt đầu sử dụng có hiệu quả các vi sinh vật mang gen tái tổ hợp để phân giải các hợp chất gây ô nhiễm môi trường (như các hợp chất Alkanes, Anthracene, Benzene…) Các vi khuẩn được chuyển gen thường thuộc về các chi Pseudomonas Nitrosomonas, Alcaligenes, Methylosinus,...Nhà máy rác Thủy Phương (Huế) nhờ áp dụng thành tựu Công Nghệ Sinh Học mà đã chuyển hóa được phần lớn rác thải hữu cơ thành loại phân bón chất lượng cao được nông dân rất hoan nghênh.

Công Nghệ Sinh Học hiện đại còn phục vụ cho công nghiệp luyện kim, công nghiệp thực phẩm , công nghệ quân sự, công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ hải dương...

Công Nghệ Sinh Học hiện đại gắn liền với việc khai thác nguồn gen từ vi sinh vật. Lý do thật dễ hiểu: vi sinh vật có tính đa dạng cực kỳ phong phú mà con người mới chỉ biết đến khoảng 1-2 % số loài, vi sinh vật có thể phân hủy hầu hết các loại sản phẩm hữu cơ, có thể sống được trong những điều kiện cực kỳ bất lợi đối với mọi sinh vật khác (về nhiệt độ, áp suất, độ axit, độ kiềm, độ muối, độ phóng xạ,...). Nguồn gen trong các loài vi sinh vật mới được phát hiện mở ra một kho tàng quý hiếm để có thể hoặc trực tiếp khai thác hoặc dùng để chuyển vào các cơ thể động vật, thực vật. Tôi đã có dịp đến làm việc với các trung tâm khai thác và lưu giữ nguồn gen ở Hoa Kỳ và Nhật Bản và không khỏi kinh ngạc về tốc độ phát hiện và khai thác nguồn gen tại các cơ sở này. Nhiều nơi đã sử dụng công cụ robot để thay cho bàn tay của con người nhằm đẩy nhanh tốc độ chọn lọc các nguồn gen quý hiếm và điều kiện sử dụng chúng. Các nguồn gen đều được quốc tế hóa về thông tin và trở thành sản phẩm thương mại để trao đổi rộng rãi giữa mọi quốc gia.

Đã đến lúc phải hiểu rằng muốn phát triển Công Nghệ Sinh Học hiện đại thì phải đẩy mạnh hiểu biết về vi sinh vật học và lấy việc tìm kiếm, bảo quản , khai thác nguồn gen từ vi sinh vật là mục tiêu chủ chốt.