NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Lãi Suất và Đồng Đô La

Một mối nguy đang đe dọa Âu Châu và các nền kinh tế nhỏ trên thế giới. Đó là tiền Mỹ lên giá quá mạnh khiến tư bản chảy ngược về Hoa Kỳ. Nếu Ngân hàng Trung ương Mỹ lại tăng lãi suất làm tiền Mỹ càng lên giá thì tình hình còn nguy ngập hơn nữa. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện ấy qua cuộc phỏng vấn sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa .

Xin chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sáu tháng về trước, ông phân tích việc Mỹ kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nói rằng việc đó có thể dẫn đến nhiều biến động cho các nền kinh tế đang phát triển trong năm 2015 này. Quả nhiên là chúng ta thấy ngay một vụ khủng hoảng về ngoại hối vào tháng 10 năm ngoái khi Liên bang Nga đột ngột tăng lãi suất để vực giá đồng bạc mà tiền Nga vẫn rớt giá. Tuần qua, người ta còn chứng kiến việc tư bản Âu Châu cùng nhiều xứ khác tiếp tục chảy về Mỹ và chiều hướng này sẽ gia tăng khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ nâng lãi suất trong mấy tháng tới. Vì vậy, kỳ này, chúng ta tìm hiểu về việc vì sao Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất và hậu quả sẽ là những gì cho các nước khác.

Tôi xin được bắt đầu với chuyện Âu Châu, rồi mình sẽ theo dõi tình hình các nước khác, sau đó mới phân tích chuyện lãi suất tại Hoa Kỳ.

Trước hết, Âu Châu chưa ra khỏi khủng hoảng và hồ sơ Hy Lạp đe dọa sự vẹn toàn của đồng Euro khi xứ này đã cạn tiền mà phải trả nợ theo một lịch trình rất khắt khe từ nay đến cuối năm. Tình trạng đó đã là một mối nguy khiến tiền Âu Châu mất giá so với tiền Mỹ và sẽ còn mất giá nữa.

Chuyện thứ hai là khi các thị trường quốc tế đều theo dõi từng lời phát biểu của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ để dự đoán về quyết định tăng lãi suất hay không và bao giờ sẽ tăng thì Ngân hàng Trung ương Âu châu vẫn duy trì lãi suất thấp và khởi sự chương trình bơm tiền để kích thích kinh tế. Hai chiều hướng đó khiến giới đầu tư tìm nơi có tiềm năng sinh lời cao hơn và đấy là thị trường Hoa Kỳ. Họ đổi tiền qua đô la để đầu tư vào nước Mỹ.

Thưa ông, Liên hiệp Âu châu có 28 quốc gia và chỉ có 19 nước là sử dụng đồng Euro, còn nhiều xứ khác tương đối vẫn còn vững mạnh. Thế thì vì sao giới đầu tư không rót tiền về các xứ đó mà lại chọn thị trường Mỹ?

Việc tư bản Âu châu ra khỏi khối Euro để dồn vào các nước Âu châu khác đã xảy ra, như khi người ta mua đồng Phật lăng của Thụy Sĩ hay đồng Krone của Đan Mạch. Nhưng hậu quả là lại làm các đồng bạc Âu châu ngoài khối Euro lên giá và gây bất lợi cho việc xuất khẩu nên các xứ này cũng ráo riết cắt lãi suất, bơm thêm tiền, thậm chí còn bắt giới ký thác phải trả thêm tiền thay vì được thưởng khi đem tiết kiệm bỏ vào ngân hàng. Vì thế mà tư bản mới tháo khỏi Âu Châu mà chảy về Mỹ. Ngoài ra, nhiều xứ Trung Đông hay Đông Á cũng tính như vậy và dồn tiền về Mỹ cho an toàn và có lời hơn. Mà điều ấy cũng gây bất lợi cho Hoa Kỳ vì làm cho đồng đô la và Công khố phiếu càng lên giá.

Bây giờ ta mới trở lại chuyện nước Mỹ có thể tăng lãi suất. Sự thể ấy là như thế nào ?

Đầu tiên, ta cần phân biệt lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn.

Tại Hoa Kỳ, lãi suất dài hạn được thả nổi cho thị trường quyết định theo quy luật cung cầu. Đấy là “phân lời” hay yield của tờ Trái phiếu là tờ giấy nợ. Nó tăng hay giảm là do thị trường. Nếu tiền nhiều và đi vay dễ thì trị giá trái phiếu sẽ tăng mà phân lời lại giảm. Đấy là điều bất lợi cho ai có tiết kiệm vì được trả tiền lời quá thấp. Khi theo dõi tin tức thị trường, ta nên nhớ đến quy luật đó, giả dụ như qua đề tựa của bản tin là “Trái phiếu lên giá” thì có nghĩa là tiền lời giảm. Ngược lại, khi có tin là “Trái phiếu sụt giá”, điều ấy có nghĩa là phân lời tăng.

Thưa ông, đấy là lãi suất dài hạn. Còn lãi suất ngắn hạn thì sao ?

Lãi suất ngắn hạn là thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Trung ương Mỹ.

Đây là định chế độc lập có quyền quyết định về lãi suất ngắn hạn theo hai yêu cầu là 1) ổn định tiền tệ, là không để lạm phát xảy ra tại Hoa Kỳ và 2) là tạo điều kiện phát triển kinh tế cho dân Mỹ có công ăn việc làm, tức là giảm thiểu nạn thất nghiệp. Định chế này có một ủy ban hữu trách về chính sách tiền tệ và tín dụng, gọi tắt là FOMC, thường thì sáu bảy tuần lại họp một lần, một năm tám lần, để rà soát tình hình kinh tế và quyết định về lãi suất ngắn hạn nếu thấy cần.

Lãi suất ấy được gọi là “federal funds rate”, hay Fed Fund, hay lãi suất liên ngân hàng mà các ngân hàng tính cho nhau khi nhất thời thiếu thanh khoản hay bạc mặt. Từ lãi suất nền đó, các ngân hàng tính thêm nhiều nấc tiền lời cho thân chủ đi vay tùy mức rủi ro. Nếu lãi suất cơ bản này mà thấp thì người ta vay tiền rẻ và dễ hơn nên sẽ nâng mức lưu hoạt kinh tế. Ngược lại, nếu tiền quá rẻ thì dễ gây ra lạm phát nên lãi suất có thể tăng, làm lượng tiền lưu hành trong kinh tế lại giảm.

Thưa ông, khi người ta nói rằng Ngân hàng Trung ương Mỹ bơm tiền hoặc in bạc thì chuyện ấy có nghĩa cụ thể như thế nào ?

Khi ta nghe tin Ngân hàng Trung ương bơm tiền hoặc in tiền thì đấy không là việc có ai vào nhà máy in của viện phát hành bấm nút để in ra vài tỷ bạc rồi đưa cho ai đó xài. Việc “phát hành tiền tệ” là do hành động của các ngân hàng và người đi vay để tiêu thụ hay sản xuất. Mỗi nghiệp vụ đi vay hay chi tiêu lại là một quyết định phát hành tiền tệ của thị trường và lãi suất cao thấp là quyết định của Ngân hàng Trung ương để điều tiết lượng tiền hút vào hay bơm ra của thị trường. Lãi suất ấy có thể chỉ nhích vài điểm – một điểm cơ bản là một phần trăm của 1% – là ảnh hưởng đến nhiều tỷ bạc và đến trị giá của đồng đô la. Tức là một cách gián tiếp và trong lâu dài sau nhiều tháng thì lãi suất ngắn hạn ấy cũng chi phối phân lời trái phiếu, là lãi suất dài hạn của thị trường.

Bây giờ ta mới tìm hiểu về yếu tố quyết định của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Như ông vừa trình bày thì có phải là định chế này tập trung chú ý vào tình hình vật giá hay thất nghiệp tại Hoa Kỳ chứ chẳng mấy quan tâm đến hậu quả rộng lớn cho các nước khác ?

Câu hỏi rất hay vì cho thấy cơ quan chuyên môn này có chức năng phục vụ các mục tiêu viết trên giấy trắng mực đen dưới sự giám sát của Quốc hội. Nội việc đó cũng đã không dễ, mà Ngân hàng Trung ương Mỹ còn hay bị phê phán theo hai hướng. Xu hướng thiên tả thường muốn có lãi suất hạ và tiền nhiều mà chẳng sợ lạm phát. Xu hướng hữu khuynh bảo thủ thì cho là nên canh chừng lạm phát và nâng lãi suất để giới tiết kiệm có lời khi gửi tiền vào ngân hàng cho người khác vay. Cả hai xu hướng này đều không mấy quan tâm đến hiệu ứng cho xứ khác.

Điều ấy cho thấy là nhiều người có thể nghĩ sai khi lý luận rằng Hoa Kỳ có âm mưu tăng lãi suất hay nâng giá đồng bạc để đánh gục kinh tế của một xứ nào khác, thí dụ như Nga hay Tầu!

Ra khỏi lập luận thiên về chính trị như ông vừa giải thích mà chỉ lưu tâm vào quyền lợi của Hoa Kỳ theo hai mục tiêu là ổn định vật giá và giảm thiểu thất nghiệp với hậu quả lâu dài là làm hạ lãi suất dài hạn, thì giới chức Ngân hàng Trung ương Mỹ họp hành tính toán ra sao ?

Định chế này có cả chục trung tâm nghiên cứu rất có uy tín của hệ thống ngân hàng dự trữ ở 12 khu vực trên toàn quốc và tại trung ương họ cũng có bộ phận thường xuyên theo dõi tình hình kinh tế Hoa Kỳ để dự đoán về tương lai. Từ nhiều năm nay, họ thông báo là sẽ áp dụng một chính sách linh động để thứ nhất duy trì mức lạm phát ở khoảng 2% mà thôi và thứ hai là đạt tỷ lệ thất nghiệp trong dài hạn ở khoảng từ 5% đến 5,5%. Sau mỗi kỳ họp của Ủy ban Tiền tệ FOMC thì Thống đốc cũng có một thông báo ngắn gọn về quyết định của Ủy ban.

Vì lãi suất ngắn hạn được duy trì quá lâu ở gần số không, khi thất nghiệp tại Mỹ đã giảm tới mức 5,5%, các thị trường tài chính tại Hoa Kỳ và quốc tế đều cho là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng. Họ theo dõi các thống kê kinh tế lẫn từng lời phát biểu của Ngân hàng Trung ương để dự đoán là tăng bao nhiêu điểm qua mấy đợt, vào thời điểm nào, như Tháng Sáu hay Tháng Chín, Tháng 10 năm nay hay năm tới. Các phát biểu và bình luận ấy đều tác động ngay vào thị trường theo kiểu biện chứng.

Thí dụ như hôm Thứ Sáu mùng sáu đầu tháng, khi Bộ Lao động cho biết thất nghiệp đã giảm thì lập tức cổ phiếu tại Mỹ sụt giá mạnh. Tức là một tin vui về kinh tế dẫn tới kết luận là lãi suất sẽ tăng, mà lãi suất tăng thì doanh lợi giảm nên thị trường chứng khoán mất giá. Cùng lúc ấy, thị trường hối đoái hay ngoại hối cũng biến động vì lãi suất tăng sẽ làm đô la lên giá nữa và nếu đô la lên giá thì các tập đoàn thiên về xuất khẩu sẽ khó bán hàng hơn và mất lời, nên cổ phiếu của các doanh nghiệp này cũng sụt giá từ một tin vui!

Phải theo dõi từng loạt tin tức và những chuỗi lý luận theo kiểu liên hoàn mắc mứu với nhau như vậy thì ông dự đoán ra sao về lãi suất ngắn hạn tại Hoa Kỳ, và về đồng đô la ?

Chúng ta thật khó biết trước được vì hoàn cảnh tôi xin gọi là “tranh tối tranh sáng” hiện nay. Quả thật là thất nghiệp đang trở lại mức bình thường trên bề mặt, nhưng bên dưới thì phẩm chất vẫn rất kém vì số người thật sự tham gia thị trường lao động còn ở mức thấp nhất từ mấy chục năm nay. Xét theo một khía cạnh khác thì lợi tức của lực lượng lao động này, đo ở mức lương bình quân, thì cũng còn quá thấp mà đa số thành phần kiếm ra việc đều có lương thấp nên hy vọng có thể tăng mức tiêu xài và kích thích sản xuất thật ra vẫn còn mong manh. Vì thế, chưa chắc là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng vào Tháng Ba này như một số người dự báo.

Huống hồ là ta nhìn vào tình hình vật giá tại Mỹ. Lãi suất có thể tăng khi lạm phát lên gần tới 2%, nhưng các chỉ số đều cho thấy vật giá của nhu yếu phẩm như lương thực và xăng dầu lại giảm. Việc dầu thô sụt giá có góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát nên Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa vội tăng lãi suất. Vì thế người ta thiên dần về kịch bản lãi suất tại Hoa Kỳ chỉ tăng rất nhẹ từ Tháng Chín, Tháng 10, qua tới năm sau mới nhúc nhích. Nhưng chẳng vì vậy mà đô la sẽ ngừng lên giá vì hối suất hay tỷ giá đồng bạc này còn tùy vào các nền kinh tế và ngoại tệ khác.

Kết luận ở đây là Hoa Kỳ lấy quyết định là vì quyền lợi của mình, nhưng các quyết định ấy đều có thể chi phối xứ khác và người ta nên mở tầm nhìn thật rộng để hiểu ra các yếu tố có thể tác động vào lợi tức, tài sản hay sự an toàn của mình.

Nguyễn Xuân Nghĩa

Mối nguy Mỹ kim lên giá

Nửa đêm rạng sáng Thứ Ba 16 , Liên bang Nga bất ngờ nâng lãi suất ở mức rất cao là từ 10,5% lên 17% để chặn đà tuột dốc quá nặng của đồng Rúp. Vậy mà khi thị trường tài chính mở cửa tại New York báy tiếng sau, đồng bạc Nga tiếp tục mất giá. Một vụ khủng hoảng ngoại hối vừa xảy ra trước mắt chúng ta và có thể là bước đầu của cơn chấn động cho các nước đang phát triển. Một trong nhiều nguyên do chính là việc Mỹ kim lên giá làm dầu thô mất giá còn nặng hơn nữa. Giữa loạt tổng kết về kinh tế năm 2014 và dự đoán cho năm 2015, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ phân tích nguyên nhân và hậu quả của việc Mỹ kim lên giá qua phần trao đổi cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa

Tiền Mỹ tăng giá, giá dầu sụt nặng hơn

Xin chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong nhiều chương trình liên tiếp từ đầu tháng, tiết mục chuyên đề về kinh tế của chúng ta đang làm loạt tổng kết về năm 2014 để dự báo cho năm 2015. Với độc giả của chúng ta thì cách nay hai tháng, ông phân tích việc Mỹ kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nói rằng việc đó có thể dẫn đến nhiều biến động cho các nền kinh tế đang phát triển. Quả nhiên là chúng ta thấy ngay một vụ khủng hoảng về ngoại hối khi vào đêm Thứ Ba Liên bang Nga đột ngột tăng lãi suất để vực giá đồng Rúp mà tiền Nga tiếp tục rớt giá khi các thị trường mở cửa. Để tiếp tục loạt bài tổng kết, xin đề nghị ông phân tích cho độc giả của chúng ta thấy nhiều khía cạnh khác nhau của việc Mỹ kim lên giá, với phần kết luận tập trung vào Việt Nam.

Cuối năm nay, ta đang thấy hai biến động tiên báo nguy cơ khủng hoảng cho các nền kinh tế đang phát triển vào năm tới. Trước hết là việc dầu thô sụt giá nặng vì lý do cung cầu, trong sáu tháng mất gần phân nửa và gây họa cho các nước xuất khẩu dầu, trong đó có Việt Nam. Nhồi vào đấy là việc Mỹ kim lên giá mạnh so với các ngoại tệ khác, và vì Mỹ kim là ngoại tệ chính để tính giá dầu, khi tiền Mỹ tăng giá thì lại càng làm giá dầu sụt nặng hơn.

Là quốc gia lấy dầu khí làm lực đẩy cho nền kinh tế lạc hậu, Nga bị suy trầm kinh tế, nguồn thu sa sút và đồng bạc mất giá đi cùng nạn tẩu tán tài sản vì các đại gia lật đật ôm tiền tháo chạy. Hậu quả là tiền sụt giá hơn phân nửa khiến chính quyền mất gần trăm tỷ đô la trong dự trữ để can thiệp vào thị trường ngoại hối hầu bảo vệ đồng Rúp mà không xong. Biện pháp tăng lãi suất đến 6,5% là mức chỉ thấy năm 1998 khi chấn động từ Đông Á khiến Liên bang Nga bị khủng hoảng tài chính và vỡ nợ. Bây giờ thì chỉ còn biện pháp kiểm soát ngoại hối là cấm trao đổi mua bán ngoại tệ mà thôi. Đầu năm nay, Nga gây ra vụ khủng hoảng Ukraine khi chiếm bán đảo Crimea, đến cuối năm, họ bị khủng hoảng vì tác động của thị trường hơn là vì phản ứng của Tây phương.

Việc Mỹ kim lên giá mạnh so với các ngoại tệ khác, và vì Mỹ kim là ngoại tệ chính để tính giá dầu, khi tiền Mỹ tăng giá thì lại càng làm giá dầu sụt nặng hơn.

Xin hỏi ông một câu rất thường thức là khi kinh tế bị suy trầm thì người ta thường phải hạ lãi suất để kích thích kinh tế như trường hợp vừa xảy ra tại Trung Quốc, Nam Hàn hay Việt Nm, Thái Lan, Singapore, chứ vì sao Nga lại tăng lãi suất ?

Thưa là câu hỏi ấy rất hay vì cho thấy sự tuyệt vọng của Chính quyền Nga. Trong luồng giao dịch giữa các nước thì tỷ giá ngoại hối hay hối suất phản ảnh sự sai biệt về sức mua, đà lạm phát hay lãi suất giữa hai nền kinh tế. Liên bang Nga muốn thu hẹp sai biệt bằng cách nâng lãi suất thì cũng tựa như leo lên ghế treo sợi dây xiết cổ để mình cao hơn người.

Bây giờ ta mới đi vào phần chính là những rủi ro của việc Mỹ kim lên giá khi ta nghĩ đến trường hợp Việt Nam.

Tôi nghĩ Việt Nam có thấy vấn đề khi kín đáo thu hẹp luồng giao dịch bằng ngoại tệ nên ngược lại cũng sẽ phải trả giá cao hơn. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu vụ này.

Cách nay sáu năm, khi khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Mỹ giữa chu kỳ suy trầm kinh tế thì Hoa Kỳ đã tăng chi, hạ lãi suất và ào ạt bơm tiền để kích thích kinh tế. Hậu quả là tiền nhiều và rẻ khiến đô la sụt giá và tràn qua các nền kinh tế khác để tìm cơ hội kiếm lời cao hơn. Đồng tiền đó không có chân và tự nhiên chạy qua xứ khác mà do quyết định vay nợ, đầu tư buôn bán giữa các nước, và khi ấy ai cũng nghĩ mình khôn khi vay tiền Mỹ với giá rẻ để kiếm lời nơi có lãi suất cao hơn. Vì trong vụ Tổng suy trầm năm 2008-2009, ba khối kinh tế công nghiệp hoá là Âu, Mỹ, Nhật đều gặp khó khăn cho nên luồng tư bản nóng chủ yếu chảy vào các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Turkey hay cả Việt Nam, v.v....

Thế rồi đồng Mỹ kim đụng đáy từ năm 2010 mà ít ai chú ý. Và khi Nhật Bản cùng Âu Châu chưa ra khỏi khó khăn thì kinh tế Mỹ lại hồi phục tương đối khá hơn cả nên đô la bắt đầu lên giá và còn tăng giá mạnh, khi Ngân hàng Trung ương Mỹ loan báo quyết định "vuốt nhọn chính sách tiền tệ" kể từ Tháng Năm năm 2013. Cụ thể là sẽ giảm dần mức bơm tiền qua các biện pháp bất thường gọi là QE, là "tăng mức lưu hoạt có định lượng". Mùa Thu vừa qua, Hoa Kỳ chính thức chấm dứt việc bơm tiền và Mỹ kim tăng vọt so với các ngoại tệ chính yếu khác.

Tiền Mỹ tăng đến đâu thì dừng ?

Xin được hỏi ngay rằng tiền Mỹ đã tăng, nhưng sẽ tăng đến mức nào và tới đâu thì dừng ?

Thật ra khó ai biết là đô la sẽ tăng đến đâu nhưng vẫn có cơ sở dự đoán với ít nhiều chính xác, là điều mà những người nghiên cứu phải theo dõi hàng ngày.

Người ta thường đo sức mạnh của Mỹ kim với các ngoại tệ chính qua một chỉ số gọi là DXY. Nếu nhìn vào đường tuyến biểu hiện chỉ số này trong lâu dài thì ta thấy ra hiện tượng là trong đà lên xuống của tiền Mỹ, thì từ nhiều năm nay, mỗi lần xuống lại đụng một đáy cao hơn rồi khi lên lại đụng trần cao hơn và hiện nay đang mấp mé ở số 88. Theo phép phân tích gọi là "kỹ thuật" thì đấy là chỉ dấu tiên báo đà gia tăng rất cao và nếu chỉ số DXY bung khỏi mức chặn là 100 thì Mỹ kim còn tăng vọt và có thể lên tới cái đỉnh 120 đã từng thấy năm 2002. Tức là so với hiện nay, đô la Mỹ còn có thể lên giá thêm từ 35 tới gần 40% nữa!

Đấy là kịch bản đáng sợ nhất cho các nước đang phát triển quá lệ thuộc vào đồng Mỹ kim. Kết hợp với việc dầu thô sụt giá và mối quan hệ giữa giá dầu có thể còn sụt với đồng đô la sẽ còn lên thì ta thấy ra mối nguy còn cao hơn của các nước bán dầu đang lệ thuộc vào tiền Mỹ, là trường hợp Việt Nam. Thực tế thì chúng ta đang gặp một nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu và những gì vừa xảy ra tại Nga chỉ là dấu hiệu đầu tiên.

Thưa ông, ngoài cái khía cạnh rất chuyên môn về đường tuyến biểu hiện giá trị của đô la như ông vừa trình bày thì thính giả của chúng ta có cơ sở gì khác để theo dõi và dự đoán không ?

Trong tiết mục tuần trước của chương trình này, chúng ta đã nói đến viễn ảnh tôi gọi là "toàn cầu dị biệt" vì hoàn cảnh và chính sách khác biệt của từng nền kinh tế. Trước đó, cũng diễn đàn này có nói tới nguy cơ của một trận chiến toàn cầu về ngoại hối khi nhiều nước thi đua phá giá đồng bạc bằng biện pháp tiền tệ để kích thích kinh tế qua xuất khẩu. Bây giờ, ta lại gặp những chuyển động trái chiều khi Mỹ kim lên giá thật mạnh. Điều đáng sợ là lắm người, kể cả giới đầu tư hay quản lý kinh tế các nước nghèo, lại ít để ý tới chuyển động ấy.

Bây giờ, khi cần theo dõi tình hình chung để suy ra hoàn cảnh riêng của mình thì tôi cho là ta nên nhớ đến một quy luật. Là khi đô la lên giá quá lâu thì hậu quả sẽ tai hại cho các nước đang phát triển bị mắc nợ quá nhiều bằng tiền Mỹ. Lý do là Mỹ kim lên giá càng làm đồng bạc của họ mất giá và đánh sụt luôn mức tín nhiệm của quốc gia khi cần vay tiền trên thị trường trái phiếu quốc tế. Hậu quả là nhiều nước nghèo sẽ hụt ngoại tệ và kinh tế bị họa. Nếu xứ này lại xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu là các sản phẩm mất giá khi kinh tế thế giới suy trầm và đô la lên giá thì họ bị thiệt ở cả hai đầu, đó là trường hợp Việt Nam với giá dầu sụt giá.

Tình hình Việt Nam

Năm 2014 là năm có quá nhiều tai ương trong 12 tháng liền, e rằng năm tới sẽ còn nguy khốn hơn vậy cho các nước đang phát triển, kể cả Việt Nam.

Thưa ông, nói về Việt Nam thì cuối Tháng Tám vừa rồi, Việt Nam vừa vay một tỷ đô la khi phát hành trái phiếu yết giá bằng đô la với hy vọng trả phân lời thấp hơn để dùng tiền đó trả lại các khoản nợ đã vay từ năm 2010 với phân lời cao hơn. Ba tháng sau thì tình hình ra sao ?

Thưa rằng đấy là kỹ thuật người ta gọi là "đảo nợ", nôm na là vay nợ rẻ để thanh toán nợ đắt và chúng ta đã có một chương trình về vụ đi vay để đảo nợ như vậy.

Khi ấy, chúng ta có cảnh báo, rằng "Khi đi vay thì một đô la trị giá hai vạn, khi phải trả lại phải mất hai vạn rưởi mới mua được một đô la thì ngoài chuyện phân lời đắt đỏ hơn, Việt Nam còn đỏ mắt để có ngoại tệ trả nợ đáo hạn." Chuyện ấy đang xảy ra, cho nên ngân hàng nhà nước phải hạn chế việc cho vay bằng ngoại tệ cho doanh nghiệp, và sẽ lại gây ra vấn đề khác cho năm tới! Người ta có thể tin là tài khóa 2014 đang kết thúc với ngân sách của Việt Nam tương đối quân bình, nhưng qua năm tới thì tình hình sẽ khác. Nguồn thu nhờ dầu khí sẽ sụt vì dầu thô mất giá mà khoản nợ bằng ngoại tệ lại tăng vì Mỹ kim lên giá, trong khi đó, số công trái là nợ nần của khu vực công đã cao gần bằng ngân sách quốc gia. Năm 2015 vì vậy sẽ là năm cực kỳ khó khăn.

Câu hỏi cuối, thưa ông, trong hoàn cảnh nguy ngập như vậy của Việt Nam, xin đề nghị ông mở ra bối cảnh chung của các nước khi Mỹ kim lên giá.

Một trong những điều nên theo dõi để thấy ra bối cảnh bất trắc của thế giới là ta nên đọc báo cáo mới đây của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS, một loại ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương trên thế giới.

Người ta cứ nghĩ rằng sau khi tưởng Mỹ kim sụt giá các nước đua nhau đi vay bằng tiền Mỹ rất rẻ và khoản nợ toàn cầu bằng tiền Mỹ lên tới từ hai ngàn cho đến năm ngàn tỷ đô la. Báo cáo của ngân hàng BIS vừa cho biết thêm khoản nợ ngoài hệ thống ngân hàng lại lên tới 9.000 tỷ đô la nữa. Bây giờ khi đô la lên giá thì các khách nợ xoay trở ra sao? Tức là khủng hoảng tài chính đang chờ đợi toàn cầu, kể cả Trung Quốc đang bơi giữa dòng xoáy. Khi đó ai sẽ cứu ai với những đối sách khác biệt như vậy? Năm 2014 là năm có quá nhiều tai ương trong 12 tháng liền, e rằng năm tới sẽ còn nguy khốn hơn vậy cho các nước đang phát triển, kể cả Việt Nam.