NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

WTO hay chính sách gây lạm phát - Chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản , Kiều bào Thụy Sĩ

Đã từng là « Việt Kiều hãnh diện vì Việt Nam hội nhập WTO » ( phỏng vấn 11/2007 đăng trên bao điện tử Đảng CSVN, Quê Hương, đài Tiếng nói Việt Nam ), người viết cố gắng viết thêm về lạm phát,mặc dầu cũng đã cảnh báo về những nguy cơ gây lạm phát trong những bài viết về « WTO, bước ngoặt của Việt Nam từ chiến trường vào Thương trường Thế giới» ( VNNet-NVX 2/2/2007 ) «Việt Nam cần gì ở Việt Kiều ?» ( NVX 26/5/2007 ),« Ngày Xuân nhớ Bác » ( 22/2/08 ),và vì hiên nay cũng đã có nhiều hội thảo, cùng các bài thảo luận ( của cả Việt Kiều ) về lạm phát ở Việt Nam, Vỉ vậy người viết chỉ tìm nguyên nhân của lạm phát ( không phải vì, và từ khi Việt Nam vào WTO ) để xem chính sách chống đối có hiệu quả ngăn chặn nguy cơ này cho nền kinh tế Việt Nam.

Nguyên nhân rõ ràng của lạm phát ở Việt Nam là sai lầm của chính sách tiền tệ từ cuối thế kỷ 20, mà đầu những năm 90 khi « Việt Nam không có đồng USD nào trong dự trữ ngoại tệ » ( theo tuyên bố cùa 1 Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước trên mạng báo « Đấu tư chứng khoán » 21/8/2007 ).Khi đó « chính sách tiền tệ khó,vì chưa có tiền tệ! » ( rồi bây giờ cũng khó, vì có nhiều quá ! ): lần đầu tiên có được 60 triệu USD vay của 1 ngân hàng nước ngoài. Và đến năm 2006 con số đó đã được tăng lên tới « 9 tuần nhập khẩu của nền Kinh Tế », rồi chỉ sau 5 tháng đầu năm 2007,lượng mua USD vào đã nâng khả năng dự trữ chung lên 20 tuần nhập khẩu», mà sau này mới « bật mí » ra là bằng 6 hay 7 tỷ USD! Vẫn theo ông Phó Thống đốc này thí « Đây cũng là hiện thực sớm của mục tiêu (?) đề ra cho năm 2010…Việc nâng cao dự trữ ngoại tệ,gián tiếp nói về tiềm lực của 1 quốc gia. Tuy nhiên trước 1 nguồn vốn chẩy vào mạnh chưa từng có trong tiền lệ, Ngân Hàng Nhà Nước buộc phải có những ứng xử, điều hòa thị trường NGOẠI HỐI,và KHÓ vẹn cả đôi đường».

Trước đấy Ngân Hàng Nhà Nước lại bị « giảm » giá trị dự trữ ngoại hối 174,1 triệu USD ,vì quản lý điều hành kém việc mua bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế năm 2005,mặc dầu ( hay chỉ vì ? ) Ngân Hàng Nhà Nước đã xử dụng 1 ông Vụ trưởng quản lý Ngoại hối,nguyên Tổng Giám đốc 1 ngân hàng cổ phần thương mại ( là nơi ông coi trọng kiều hối hơn kiều bào! ) chạy qua « quản lý » ngoại hối ở Ngân Hàng Nhà Nước ,để làm nhà nước mất tiền,và ông mất chức xuống làm giám đốc sở giao dịch,rồi hình như cũng mất luôn chức này ?!

Như vậy đề làm dự trữ ngoại tệ, Ngân Hàng Nhà Nước đã tung ra 105 tỷ VNĐ để mua vào 6,5 tỷ USD trong nửa đầu năm 2007 ( theo Hải lý trên Thời báo KT Sàigòn số 10/2008 ),và sau đó lại tung thêm 40 ngàn tỷ VNĐ để mua thêm 2,5 tỷ USD.Con số 40.000 tỷ VNĐ đã được Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn văn Giầu xác nhận trước các đại biểu QH : «Từ lúc ông ngồi vào ghế Thống đốc , Ngân Hàng Nhà Nước lại xuất thêm 50.000 tỷ VNĐ để mua ngoại tệ,và phát hành tín phiếu Ngân Hàng » ( = 90.000 tỷ VNĐ là lần đầu tiên của Ngân Hàng Nhà Nước mắc nợ các Ngân Hàng thương mại,để can thiệp vào tổng phương tiện thanh toán ).

Tựu chung, tồng số tiền mà Ngân Hàng Nhà Nước «tung» ra mua 9 tỷ USD là 145.000 tỷ VNĐ, trừ vào 90.000 tỷ VNĐ mà Ngân Hàng Nhà Nước rút về ( bằng phát hành tín phiếu ), thì số tiền «in» thêm tung ra thị trường là 55.000 tỷ VNĐ + 50.000 tỷ VNĐ mà Ngân Hàng Nhà Nước «xuất» thêm từ khi ông Giầu «ngồi vào ghế Thống Đốc » ,thì vẫn còn 105.000 tỷ VNĐ vẫn chưa được «hút» về, mặc dầu 1 Phó Thống đốc đả khẳng định là « trong 6 tháng vừa qua,lượng tiền kéo về đã lên tới 30.000 tỷ VNĐ »và hiệu quả đến thời điểm này ( 21/8/2007 ) là 82% lượng tiền đưa ra mua ngoại tệ đã được hút về (?).Thật là lúng túng trong điều hành « bí đâu, gỡ đấy », vì chính số lượng tiền « in thêm » này còn bị kẹt lại trong lưu thông đã gây nên áp lực lạm phát.

Ngoài 9 tỷ USD mà Ngân Hàng Nhà Nước đã mua vào trong nửa năm đầu 2007, còn nửa năm sau thì sao? Cơ quan nào ( Ngân Hàng Nhà Nước hay Bộ Tài chính ? ) mua rồi giữ ngoại tệ khi nước ngoài chuyển vào mua cổ phiếu,hay đầu tư trực tiếp ? Theo bài viết của Hải Lý trên Thời báo KT Sàigon ( và 1 bài khác « Tiền đang ở đâu ?» ) thì chính là BTC đã mua và giữ 1 khối lượng ngoại tệ lớn cho tới đầu năm 2008 thì BTC tới Ngân Hàng Nhà Nước.

Ngày 15/2/2008, Ngân Hàng Nhà Nước công bố quyết định phát hành (từ 19/3/08) 20.300 tỷ đồng tín phiếu Ngân Hàng Nhà Nước ( lãi xuất 7,58% ,thời hạn 12 tháng ) bắt buộc các Ngân Hàng cồ phần thương mại mua, để Ngân Hàng Nhà Nước rút 20.300 tỷ đồng ra khỏi lưu thông,và tiếp tục rút về 50.000 tỷ đồng mà Ngân Hàng Nhà Nước gửi ở kho bạc).Sự khan hiếm VNĐ ( vì bị tích trữ ở đâu ? ) dẫn tới lải suất tăng nhanh và mạnh.Nên chỉ 1 tuần sau, Ngân Hàng Nhà Nước lại phải «bơm» ra 39.000 tỷ đồng. Phải chăng Ngân Hàng Nhà Nước lấy lại độc lập trong vấn đề tiền tệ,theo như ông Cao sỹ Khiêm, nguyên Thống đốc trong cuộc hội luận trên «Tuần VN»của VNNet là «nhà nước có cho, Ngân Hàng Nhà Nước củng không dám độc lập,vì chỉ tiêu Kinh Tế đan sen, chỉ tiêu Ngân Hàng phụ thuộc vào nhiều chỉ tiêu khác. Do đó độc lập chỉ trong từng vấn đề». Dù sao Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước là thành viên chính phủ - ngang hàng bộ trưởng,và thành viên thường trực của «Hội đồng tư vấn chính sách tài chính,tiền tệ quốc gia»,cùng với nhiều cựu thống đốc ( như các ông Khiêm , Lê đức Thúy ) cũng được bổ nhiệm vào hội đồng này.

Ngoài ra còn có 2 tổ chức là Ủy ban giám sát tài chính quốc gia nhằm tư vấn cho Thủ tướng về giám sát thị trường ở 3 lĩnh vực: ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Ủy Ban này do ông cựu Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Lê đức Thúy làm Phó chủ tịch, và Tổ giám sát thị trường tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước ( do 1 phó thống đốc làm Tổ trưởng ) để tham mưu cho Thống đốc các biện pháp xử lý. Như vậy thật là đầy đủ,chỉ thiếu mặt kinh tế gia Việt kiều thôi!

Nhưng khâu phồi hợp có vẻ có vấn đề, như Jonathan Pincus kinh tế trưởng của UNDP tại Việt Nam đã tuyên bố trên báo Financial Times (4/3/08) là «chính sách tài chính không hỗ trợ chính sách tiền tệ tại Việt Nam… Chúng tôi thấy trong vài tháng qua đã không có sự phối hợp chung giữa các cơ quan của Việt Nam…. Tức là nếu Ngân Hàng Nhà Nước và Ủy Ban tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc Gia muốn siết nguồn cung về tiền đồng,trong khi bộ tài chính và bộ kế hoạch, đầu tư cứ tăng chi ngân sách,và chi cho đầu tư,thì chẳng khác gì người ta vừa nhận ga,vừa đạp phanh cùng một lúc!»

Như vậy chính sách sai lầm cũng 1 phần vì chồng chéo giữa Ngân Hàng Nhà Nước và các bộ mà ông Pincus đưa ra thí dụ như Bộ Tài chính quản lý ngân sách định kỳ của chính phủ, còn Bộ Kế hoạch, đầu tư lại quản lý đầu tư khu vực công.Về dự báo kinh tế thì có vẻ cơ quan,hay bộ nào cũng làm cả, măc dầu ông Bộ trưởng Tài chính mới thừa nhận ( ngày 29/2/08 trên báo Tuổi trẻ )là: « có yếu kém trong dự báo, nhưng không có sai lầm về chính sách ».Ông Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần văn Tá cũng đã thừa nhận ( trong cuộc họp báo thường kỳ từ ngày 30/11/07 của Văn phòng chính phủ ) thiếu sót trong công tác dự báo « không lường trước được những biến động thị trường thế giới » khiến giá trong nước cũng tăng cao,cũng vì giá dầu hỏa tăng nhanh từ 70 lên 100USD/thùng. Nhưng nhiều nước trong khu vực cũng phải trả giá dầu đắt như vậy, mà vẫn có lạm phát thấp hơn 12,63% của VN,chỉ thua Miến Điện có lạm phát kỷ lục 40% !?

Vẫn theo ông Bộ trưởng Tài chính « năm qua, chúng ta dự báo về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ban đầu là 12 tỷ USD, sau tăng lên 16 tỷ, đến cuối năm dự đoán là 20 tỷ, nhưng thực tế cuối cùng là 21 tỷ USD . Dự báo yếu, khiến công tác chuẩn bị hấp thụ vốn chưa tốt,..Chính vì không lường trước, nên chưa đưa ra được những biện pháp đi trước ».Thực sự dự báo FDI chì dựa vào hứa hẹn ( gần 21 tỷ USD ) của giới đầu tư nước ngoài, không dựa vào vốn thực tế ( giải ngân là 4,8 tỷ USD ) họ thực hiện thì mới quan trọng, vì từ hứa hẹn trên bàn «vong lục» ( Memory of Understanding ) hay trên giấy phép Việt Nam cấp, cũng phải mất nhiều năm mới tới khâu thưc hiện. Như vậy dự báo có yếu ở đây cũng không gây ra lạm phát ngay tức thì! Có lẽ vỉ vậy mà ông Pincus khen khéo rằng « Việt Nam có nhiều chuyên gia rất tự tin về khả năng chuyên môn tại các cơ quan quản lý cấp nhà nước», Nhưng Thủ tướng chính phủ lại tâm sự với Tổng Biên tập VietnamNet là ông sợ nhất tính tự mãn, và ông Lương văn Tư, cựu trường đoàn đàm phán WTO cho là Việt Nam bị «bội thực» về vốn đầu tư vì thiếu cán bộ có tầm để làm chính sách ( Nhân dân 5/2/08 «Phía sau cuộc đàm phán gia nhập WTO» ).Ông Pincus cũng cho biết là Việt Nam thực sự không dựa quá nhiều vào lời khuyên bên ngoài, mà tự đưa ra quyết định về chính sách quản lý Kinh Tế,vì đó là việc nội bộ.Còn hiệu quả của chính sách thì là chuyện khác.

Sự chồng chéo chính sách giữa Ngân Hàng Nhà Nước và các bộ mà ông Pincus nêu ra có phài vì Việt Nam không có bộ Kinh tế để phụ trách luôn cả chính sách và dự báo Kinh Tế, thay vì chia sẻ cho nhiều bộ,ngành. Phải chăng ở Việt Nam khi nói là đi «làm» Kinh Tế ,người dân nghĩ đến đi buôn bán, thậm chí «đầu cơ» ?

Nhiều người không phải kinh tế gia vẩn hỏi là tại sao Ngân Hàng Nhà Nước phải in thêm tiền VNĐ ra để mua 9 tỷ USD ( mà có lẽ chỉ có 3 tỷ đầu tư sản xuất, còn lại đưa vào thị trường chứng khoán và bất động sản ) làm tăng lạm phát trong nước Việt Nam ? Giảng giải để ai cũng hiểu ( đó cũng là mục đích của bài viết này ) là khi người nước ngoài chuyển tiền vào Việt Nam với mục đích :

1) Mua hàng hóa Việt Nam, mà nếu Việt Nam không sản xuất thêm lượng hàng để bán, thì« cung » hàng vẫn vậy, mà « cầu » hàng từ ngoại tệ đổi ra Đồng ( qua Ngân Hàng Nhà Nước ) sẽ tăng cao hơn cung, và gây ra lạm phát. Trong trường hợp này thì cần phải tăng lượng hàng sản xuất để bán để tránh gây lạm phát.

2) Trong trường hợp người nước ngoài chuyển ngoại tệ vào Việt Nam để đầu tư chứng khoán thì họ cũng phài đổi ra đồng VND ( nhưng mới đây Thủ tướng lại cho phép CT.Brooker (CK) Mỹ Morgan Stanley đầu tư bằng USD không phải đổi ra đồng để tránh ảnh hưởng vào lạm phát) .Nếu sau khi đổi ngoại tệ ra VND mà họ chưa mua cổ phiếu chứng khoán , thi Ngân Hàng Nhà Nước có thể áp dụng biện pháp thị trường mở bằng phát hành những trái phiếu công trình, trái phiếu chính phủ…để hút tiền về, mà nếu không hút hết, thì Ngân Hàng Nhà Nước sẽ phát hành những công cụ của Ngân Hàng Nhà Nước như tín phiếu, hối phiếu cũng để thu tiền vê.

Tiền rút về bằng hối, tín phiếu thì Ngân Hàng Nhà Nước không thể mang đi đầu tư lấy lời, mà phải nằm trong Ngân Hàng Nhà Nước để điều hòa dòng tiền lưu thông trong nước,và chống lại lạm phát ( hay thiểu phát ), trong khi đó, Ngân Hàng Nhà Nước phải chịu lỗ để chi trả lãi xuất cho người đầu tư đã mua nhửng công cụ này của Ngân Hàng Nhà Nước.

Dư trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Nhà Nước quá lớn thì có thể mang gửi vào ngân hàng nước ngoài để hưởng lãi suất trung bình 4 - 4,5%/năm, trong khi đó chính phủ Việt Nam đi vay ở thị trường nước ngoài ( mà họ có thể cho vay bằng vốn của Việt Nam gửi trong ngân hàng nước họ !) hàng trăm triệu USD cho các dự án của doanh nghiệp nhà nước, như vay cho Vinashin đóng vỏ tầu, thì phải chịu trả lãi suất tới 7,5%/năm, mà cũng không biết Vinashin có được lời bằng lãi suât đi vay này không ? Ngân Hàng Nhà Nước cũng xử dụng một phần dự trữ ngoại tệ để tăng vốn cho các Ngân Hàng quốc doanh, hay xóa các khoản nợ «xấu» của những Ngân Hàng này. Như vậy thì đến khi nào khả năng cạnh tranh mới khá lên được ? Trong khi đó thì phân nửa ( khoảng 30 ) Ngân Hàng cổ phần Thương Mại đả bị «thanh lọc» ( trong những năm 90 ) cũng vì« nợ xấu », nay lại cho thêm .

Trung quốc dùng dự trữ ngoại tệ khổng lồ ( 1680 tỷ USD ) cho doanh nghiệp nước này mua lại doanh nghiệp nước ngoài ( như Công Ty làm máy tính xách tay của IBM ) để thừa hưởng danh hiệu, và công nghiệp cao của nước tiền tiến, vì họ thừa biết là «không ai chuyển giao miễn phí công nghiệp tiền tiến cho nước khác cả », nên họ không đi xin sỏ, hay hy vọng hão huyền, mà họ luôn tin tưởng vào «chất xám» công nghiệp, và kinh nghiệm của những Hoa kiều ở nước ngoài.

Tóm lại « con đường lạm phát » của Việt Nam gồm có những ngõ ngách sau :

1) Nền Kinh Tế của Việt Nam còn kém hiệu quả mà năm 2007 đã phải hấp thụ tổng lượng vốn rất lớn ( gồm FDI : 21 tỷ USD, xuất khẩu lao động : 2 tỷ USD, kiều hối chính thức là 5 tỷ USD ) khoảng 28 tỷ USD,tương đương hơn 30% GDP.

2) Nguồn cung ứng tiền, tín dụng và đầu tư cũng tăng vọt, phần lớn ( 60% tổng vốn Đầu Tư toàn xã hội ) được dành cho các doanh nghiệp nhà nước ( làm ra 40% của cải hàng năm ), mà hoạt động rất kém hiệu quả ( chỉ số ICOR trung bình là 5,2/năm, trong giao đoạn 1998 - 2007, so với 2 - 3/năm của các nước trong khu vực ) để tạo thêm hàng hóa, dịch vụ.

3) Tình trạng quá nhiều tiền, và ít hàng, hay cầu nhiều hơn cung đã dẫn đến lạm phát.

Thật vậy, trong 3 năm ( 2005/2006/2007 ), nguồn cung ứng tiền ờ Việt Nam tăng 135% ( GDP chỉ tăng 27% ), mà 1 phần quan trọng đã dùng mua ngoại tệ ( nhiều nhất vào năm 2007 ), nhưng TRƯƠC đó không có kế hoạch thắt chặt hợp lý tăng trưởng tiền tệ và tín dụng,nên đã gây ra lạm phát 12,63% .

4) Ngoài ra thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã tới tình trạng báo động ở 5,8% GDP, vì theo kinh nghiệm quốc tế, thâm hụt 3% đã đáng lo ngại. Và thâm hụt thương mại của Việt Nam ước chừng 12 tỷ USD, vào khoảng 16% GDP, so với mức thâm hụt quốc tế đáng lo tư 5 - 10% .

5) Thêm vào đó, vì nguồn cung vốn dồi dào đổ vào thị trường chứng khoán, và bất động sản ở Việt Nam để nhanh chóng tạo lợi nhuân cao hơn là «đầu tư sản xuất» trong lãnh vực nòng cốt của mỗi doanh nghiệp ( đã được viết trong bài : WTO, bước ngoặt của Việt Nam từ chiến trường vào thương trường Thế giới), sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của họ, mà 2 thị trường này còn có tiềm ẩn «bong bóng đầu cơ»,nếu bị nổ vỡ thì kéo theo hệ thống ngân hàng cho vay vốn đầu tư vào bất động sản. Riêng ở Tp.HCM có tới 35.000 tỷ VND được đầu tư vào Bất Động Sản , hay 10% tổng dư nợ của các Ngân Hàng thương mại.

Ngày 3-3-2008 chính phủ Việt Nam đả ra công văn số 319 để chống lạm phát bằng những biện pháp đáp ứng được phần lớn nhửng nguyên nhân của lạm phát phác họa ( không chắc đầy đủ hết ) trong bài này, nhưng cũng cần thêm vài nhận xét bổ túc sau :

- Chính sách chống lạm phát như chính sách tài khóa ( thí dụ : giảm thuế 1 số mặt hàng được thấy là tăng nhanh nhất, như vì giảm thuế 3 lần năm 2007 cho ôtô chở người, nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm 2008 đã đạt 9.721 xe, tăng 647,2% về lượng, và 424,8% và giá cả so với cùng kỳ năm 2007 ),hay chính sách hành chính ( đốc thúc doanh nghiệp Nhà Nước , kêu gọi hưởng ứng của người dân ) chỉ mang tính cách thỏa hiệp tạm bợ, với chi phí cao hơn hiệu quả, mà còn có thể che đậy bản chất thực của lạm phát.

- Chính sách tiền tệ chống lạm phát như giảm tốc độ tăng lượng tiền lưu thông , và tín dụng bằng tăng dự trữ bắt buộc cùa các Ngân Hàng Thương Mại ( làm ngành này phài chi phí nhiều hơn các ngành Kinh Tế khác ), hay phát hành tín phiếu, thì nên coi là cấp thời, và cục bộ thôi, và phải nhanh chóng áp dụng cho tất cả các thành phần Kinh Tế khác, để san sẻ bình đẳng chi phí chống lạm phát, mà không làm «tê liệt» ngành ngân hàng !

- Nên bỏ quan điểm là lạm phát thấp hơn mức tăng trường GDP là tốt,vì chưa có căn cứ khoa học Kinh Tế cho quan điểm này !

- Lạm phát ở Việt Nam cũng một phần được nhập khẩu từ Mỹ, vỉ tỷ giá giữa USD/VND rất ít thay đổi trong nhiều năm ( trung bình 1% - 2%/năm ), nên lạm phát Mỹ cũng kéo lạm phát ở Việt Nam lên cao. Cũng như tỷ giá NDT/VND ít thay đổi, mà từ giữa 2005 đến nay, Nhân Dân Tệ (NDT) đã lên hơn 10% so với USD.Khi Việt Nam xuất khẩu qua Trung Quốc thì thu về bằng USD, khi Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc lại phải trả bằng Nhân Dân Tệ Vậy Việt Nam cũng cần đổi chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn giửa VND và USD, Nhân Dân Tệ để giảm lạm phát, nếu VND tăng cùng chất lượng xuất khẩu.