NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Lao Động : Cỗ Máy Vắt Kiệt Sức Lao Động ở Châu Á

Một chiếc máy có thể bay với một chiếc công tắc trên bộ điều khiển, nó sẽ biến 1.500 giạ đậu nành thành một chiếc ôtô mui kín bốn cửa.

Thậm chí, khi được cài đặt một chương trình thích hợp, nó có thể biến phần mềm Windows thành loại rượu vang Pháp hảo hạng nhất, hay một chiếc Boeing 747 thành hoa quả và rau tươi đủ nuôi sống một thành phố trong nhiều tháng. Nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất về phát minh này là người ta có thể tạo ra nó ở bất cứ nơi nào trên thế giới và lập trình để biến bất cứ thứ gì được trồng hay sản xuất thành những thứ khó sản xuất hơn rất nhiều.

Phát minh này đặc biệt hữu ích cho những nước nghèo. Các quốc gia đang phát triển có thể dùng chiếc máy này để biến những thứ họ sản xuất ra như hàng hóa, vải dệt rẻ, các hàng hóa cơ bản thành những hàng hóa tối quan trọng với cuộc sống như thực phẩm, thuốc men, những hàng hóa tiên tiến hơn. Rõ ràng là, những nước có khả năng tiếp cận với chiếc máy này sẽ tăng trưởng nhanh hơn những nước không có khả năng đó. Chúng ta hy vọng việc thúc đẩy khả năng tiếp cận chiếc máy này của những nước nghèo sẽ là một phần trong chiến dịch đưa hàng tỷ người trên khắp toàn cầu thoát khỏi đói nghèo, trì trệ.

Và, phát minh này thật sự đã tồn tại. Nó có tên là thương mại.

Starbucks, một trong những tấm gương thành công nhất trong thập kỷ qua, không đi lên từ bất kỳ một thành tựu công nghệ vĩ đại nào. Bí quyết thành công của nó nằm ở một phát hiện rất đơn giản: Những người bận rộn sẵn sàng trả vài đôla cho một cốc cà phê, hơn là tự pha cho mình một cốc hay uống thứ nước tệ hại đã để ở văn phòng nhiều giờ.

Cách đơn giản nhất để đánh giá đúng các ích lợi của thương mại là tưởng tượng ra một cuộc sống thiếu vắng nó. Bạn sẽ thức dậy trong một ngôi nhà nhỏ và bụi bặm do mình tự xây nên. Bạn sẽ mặc những bộ quần áo tự dệt sau khi xén lông hai con cừu gặm cỏ ở sân sau nhà. Bạn lấy hạt cà phê khỏi những bụi cây mọc lởm chởm cằn cỗi ở Minneapolis, và hy vọng sáng nay con gà của bạn đã đẻ một quả trứng để bạn có thức ăn cho bữa sáng. Điểm mấu chốt là mức sống của chúng ta cao vì chúng ta có thể tập trung vào những nhiệm vụ mà mình có khả năng làm tốt nhất và đổi lấy những thứ khác.

Tại sao loại hình giao dịch lại khác nhau nếu một sản phẩm hay dịch vụ có nguồn gốc từ Đức hay Ấn Độ? Thực chất, chúng không hề khác nhau. Chúng ta có các ranh giới chính trị, nhưng kinh tế học không thay đổi mạnh mẽ như thế. Các cá nhân và công ty giao dịch với nhau bởi vì việc đó mang lại sự giàu có cho cả hai bên. Điều đó đúng với một công nhân ở nhà máy của Nike tại Việt Nam, một công nhân ở nhà máy sản xuất ô tô của Detroit và một người Pháp ăn một chiếc bánh mỳ kẹp thịt của McDonald ở Bordeaux hay một người Mỹ uống một cốc rượu vang đỏ Burgundy ở Chicago. Bất cứ thỏa thuận thương mại hợp lý nào đều phải bắt đầu bằng ý tưởng, những người sống ở Chad hay Togo hay Hàn Quốc không khác gì tôi và bạn. Họ tạo ra những thứ mà họ hy vọng sẽ khiến cuộc sống tốt đẹp hơn. Và thương mại chính là một trong những thứ đó.

Paul Krugman nhận định: “Chúng ta có thể khẳng định, toàn cầu hóa không bị điều khiển bởi lòng nhân ái mà bởi động cơ lợi nhuận. Nó làm lợi cho mọi người hơn bất kỳ chương trình cứu trợ nước ngoài hay những khoản vay lãi suất thấp do các chính phủ hay cơ quan quốc tế có thiện chí cung cấp.” Ông còn nói thêm đầy tiếc nuối: “Nhưng khi nói ra điều này, tôi biết từ chính kinh nghiệm của bản thân rằng tôi đã tự chuốc lấy những lời chỉ trích.”

Đây chính là bản chất của “toàn cầu hóa”, thuật ngữ thể hiện sự tăng lên, mở rộng của dòng hàng hóa và dịch vụ quốc tế. Người Mỹ và người dân của tất cả các quốc gia khác trên hành tinh này ngày càng có xu hướng mua những hàng hóa và dịch vụ từ một quốc gia khác và bán hàng hóa và dịch vụ sang nước ngoài.

Cuối thập niên 1980, trong chuyến đi thực tế ở châu Á để viết bài cho một tờ báo hàng ngày ở New Hampshire, tại một nơi rất xa Bali, tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy một nhà hàng Kentucky Fried Chicken và thế là tôi viết ngay một câu chuyện về nó.

Nhà hàng KFC kích thích trí tò mò của tôi đến độ tôi quyết tâm tìm hiểu về nó. Có một dấu hiệu rõ ràng về ý nghĩa mà những con số thống kê gợi ra: Thế giới đang trở nên tự do hơn về kinh tế. Tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới, một bộ phận của GDP toàn cầu, đã tăng từ 8% năm 1950 lên hơn 26% vào thời điểm hiện nay. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ cũng tăng từ 5% đến hơn 10% trong cùng thời gian trên. Đáng lưu ý là đại bộ phận nền kinh tế Mỹ vẫn bao gồm những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất cho tiêu dùng trong nước. Đồng thời, với quy mô khổng lồ của nền kinh tế, Mỹ xứng đáng là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới. Chúng ta xuất khẩu nhiều gấp hai lần giá trị hàng hóa và dịch vụ mà Nhật Bản xuất khẩu và gần bằng số lượng xuất khẩu của toàn Liên minh châu Âu. Mỹ cũng đã thu được rất nhiều lợi ích từ hệ thống thương mại tự do quốc tế. Một lần nữa, đây cũng là lợi ích đối với tất cả những nước còn lại trên thế giới.

Thương mại khiến chúng ta giàu có hơn.

Thương mại là một trong những khái niệm quan trọng nhất của kinh tế học và cũng là một trong những khái niệm ít gắn với trực giác nhất. Khi có người khuyên nên mua những thanh ray rẻ từ Anh để hoàn thiện tuyến đường xe lửa xuyên lục địa, Abraham Lincoln đã trả lời: “Nếu chúng tôi mua từ Anh, chúng tôi sẽ có những thanh sắt ấy, còn họ có tiền. Nhưng nếu tự mình sản xuất những thanh ray, chúng tôi sẽ vừa có những thanh ray, lại vừa có tiền”.

Ả Rập Xê út có thể sản xuất dầu rẻ hơn Mỹ. Ngược lại, Mỹ có thể sản xuất ngô và đậu nành rẻ hơn Ả Rập Xê út. Sự trao đổi ngô lấy dầu là một ví dụ về lợi thế tuyệt đối. Khi các nước sản xuất được những mặt hàng cho hiệu quả cao hơn, họ có thể tiêu dùng nhiều hơn bằng cách tập trung vào sản xuất những thứ mà họ có lợi thế nhất và tiến hành trao đổi. Những người ở Seattle không nên tự mình trồng lúa, mà nên sản xuất máy bay (Boeing), viết phần mềm (Microsoft) hay bán sách (Amazon.com) và để việc trồng lúa cho những người nông dân ở Thái Lan hay Indonesia. Ngược lại, những người nông dân đó có thể hưởng lợi từ gói phần mềm Microsoft Word, dù có thể họ không có công nghệ hay những kỹ năng cần thiết để sản xuất những phần mềm này. Các nước, cũng như các cá nhân, có những lợi thế tự nhiên khác nhau. Vì thế, sẽ thật là lãng phí và hoài công vô ích nếu để Ả Rập Xê út tự trồng rau hay Michael Jordan tự sửa ôtô.

Vậy còn những nước không có ưu thế nào vượt trội thì sao? Suy cho cùng, các nước đang phát triển nghèo là bởi vì năng suất lao động của họ rất thấp. Bangladesh có thể đòi hỏi gì từ Mỹ? Có lẽ là một thương vụ lớn, vì một khái niệm gọi là lợi thế cạnh tranh. Các công nhân ở Bangladesh không cần giỏi hơn các công nhân Mỹ, bởi vì cả hai phía đều có thể hưởng lợi từ thương mại. Đúng hơn là, họ cung cấp hàng hóa cho chúng ta để chúng ta có thể dành thời gian tập trung vào thứ chúng ta có khả năng làm tốt nhất. Đây là một ví dụ. Rất nhiều kỹ sư sống ở Seattle.

Những người đàn ông và phụ nữ này có học vị tiến sĩ, kỹ sư cơ khí và có lẽ họ biết nhiều về quy trình sản xuất giầy và áo sơ mi hơn bất cứ người dân nào ở Bangladesh. Vậy, tại sao chúng ta lại mua áo sơ mi và giầy nhập khẩu do những công nhân trình độ thấp ở Bangladesh sản xuất? Bởi vì những kỹ sư ở Seattle của chúng ta còn biết cả cách thiết kế và sản xuất máy bay thương mại. Trên thực tế, đó là việc họ có thể làm tốt nhất. Hay nói cách khác, chế tạo máy bay là công việc tạo ra nhiều giá trị nhất trong quỹ thời gian của họ. Nhập khẩu áo sơ mi từ Bangladesh giúp họ có thời gian để làm việc này và thế giới cũng nhờ thế mà giàu có hơn.

Khả năng sản xuất là nhân tố khiến chúng ta giàu có. Chuyên biệt hóa giúp chúng ta nâng cao năng suất. Thương mại cho phép chúng ta chuyên biệt hóa. Những kỹ sư ở Seattle có khả năng chế tạo máy bay với năng suất cao hơn may áo còn các công nhân dệt ở Bangladesh sản xuất áo sơ mi và giày với năng suất cao hơn khi họ làm những việc khác (nếu không, họ sẽ không sẵn lòng làm việc trong một nhà máy dệt). Hiện nay, tôi đang viết sách, còn vợ tôi đang điều hành một công ty tư vấn phần mềm. Một phụ nữ tuyệt vời tên là Clementine đang trông nom các cô con gái của chúng tôi. Chúng tôi không thuê Clementine vì lý do cô ấy nuôi con giỏi hơn chúng tôi (dù cũng có lúc tôi tin điều đó là sự thực). Chúng tôi thuê Clementine vì cô ấy cho phép chúng tôi tận dụng tối đa thời gian để làm những công việc sở trường của mình và đó có lẽ là sự sắp xếp hợp lý nhất cho gia đình tôi, cho Clementine, cho những độc giả của cuốn sách này và cho cả những khách hàng của vợ tôi.

Thương mại giúp chúng ta sử dụng những nguồn lực khan hiếm của thế giới hiệu quả nhất.

Thương mại tạo ra những kẻ chiến bại.

Nếu thương mại chuyển giao những lợi ích của cạnh tranh đến những ngóc ngách xa xôi nhất trên trái đất, thì những mảnh vụn tàn tích của xây dựng sáng tạo hẳn đang ở ngay sau lưng chúng ta. Hãy thử lý giải những lợi ích của toàn cầu hóa đối với những công nhân giày ở Maine, những người bị mất việc khi nhà máy của họ chuyển đến Việt Nam. Cũng giống như công nghệ, thương mại có thể tước đi việc làm, đặc biệt là những công việc không đòi hỏi nhiều kỹ năng.

Nếu một công nhân ở Maine kiếm được 14 đôla một giờ trong khi cũng với công việc tương tự ở Việt Nam, họ sẽ chỉ kiếm được 1 đôla một giờ, thì lẽ ra công nhân đó phải có năng suất lao động cao hơn 14 lần. Các nước nghèo cũng bị mất việc. Các ngành được bảo vệ khỏi cạnh tranh quốc tế trong nhiều thập kỷ, và vì vậy, đã nhiễm tất cả những thói hư tật xấu của một thương trường bình lặng, có thể bị tiêu diệt bởi sự cạnh tranh liên tục và hiệu quả từ nước ngoài. Có lẽ, bây giờ bạn đã hiểu mình sẽ thế nào nếu là nhà sản xuất Thumbs-Up Cola ở Ấn Độ khi Coca-Cola thâm nhập thị trường vào năm 1994 ?

Trong dài hạn, thương mại giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và một nền kinh tế đang tăng trưởng có thể thu hút những công nhân bị sa thải. Kim ngạch xuất khẩu tăng và người tiêu dùng trở nên giàu có hơn nhờ hàng nhập khẩu rẻ. Cả hai hoạt động này đều tạo ra cầu lao động mới ở mọi khu vực trong nền kinh tế. Tình trạng thất nghiệp do toàn cầu hóa ở Mỹ đang có xu hướng giảm xuống tương ứng với khả năng tạo ra việc làm mới của nền kinh tế.

Một nghiên cứu hậu NAFTA đã đưa ra kết luận, từ năm 1990 đến năm 1997, trung bình mỗi năm có 37 nghìn việc làm mất đi vì hoạt động tự do thương mại với Mexico, tuy nhiên, trong cùng giai đoạn đó, mỗi tháng, nền kinh tế cũng tạo ra 200 nghìn việc làm mới. Song, “trong dài hạn” là một trong những cụm từ tàn nhẫn nhất đi cùng với “chi phí chuyển giao” và “mất việc ngắn hạn”. Nó chỉ là một cách xoa dịu nỗi đau và sự suy sụp của con người. Những công nhân giầy ở Maine phải trả những khoản vay thế chấp trong ngắn hạn. Và thực tế đáng buồn là họ cũng không thể giàu hơn trong dài hạn. Những công nhân bị sa thải thường gặp vấn đề về kỹ năng và thường số lượng công nhân bị sa thải vì vấn đề công nghệ mới cao hơn nhiều số công nhân bị sa thải vì vấn đề thương mại. Nếu một ngành chỉ tập trung ở một khu vực địa lý, thì cộng đồng và lối sống của những công nhân bị sa thải sẽ bị mai một dần đi.

New York Times đã chứng minh bằng tài liệu vụ kiện Newton Falls, một cộng đồng sống ở New York làm việc trong một nhà máy giấy được thành lập năm 1894. Một thế kỷ sau, nhà máy đó đóng cửa vì lý do không thể cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài: Kể từ tháng 10, sau nỗ lực cuối cùng nhằm cứu nhà máy khỏi nguy cơ đóng cửa, Newton Falls ngày càng gần với hình ảnh một vùng quê đau thương: Một thành phố đang chết dần chết mòn, chỉ có rất ít người còn sống sót để viết lại những lời di chúc bi thương và chứng kiến cộng đồng của mình đang úa tàn đi, giống như một chiếc đồng hồ bị bỏ quên, kêu tích tắc vô cảm và cứ thế chạy đến điểm cuối cùng.

Lợi ích có được từ thương mại vượt xa những tổn thất, nhưng những kẻ chiến thắng chẳng mấy khi viết séc cho người thua cuộc. Và những người thua cuộc thường thua rất thảm hại. Một công nhân giầy ở Maine được những gì khi nhà máy sản xuất chuyển đến Việt Nam? Anh ta sẽ nghèo hơn và có thể sẽ chìm trong tình trạng đó mãi mãi. Ở đây, chúng ta đang quay trở lại chủ đề chủ nghĩa tư bản được thảo luận ở đầu cuốn sách và được nhắc lại trong Chương 8. Các thị trường tạo ra trật tự mới, hiệu quả hơn bằng cách phá vỡ trật tự cũ. Điều này chẳng có gì thú vị, đặc biệt đối với các cá nhân và công ty tuân theo trật tự cũ. Thương mại quốc tế giúp các thị trường được mở rộng hơn, có tính cạnh tranh hơn nhưng cũng dễ phá vỡ hơn. Mark Twain có một câu nói rất nổi tiếng dự đoán về tình thế tiến thoái lưỡng nan này: “Tất cả những gì tôi làm đều là vì sự tiến bộ; tôi chỉ không thích sự thay đổi mà thôi.”

Bảo hộ duy trì việc làm trong ngắn hạn nhưng lại làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.

Chúng ta có thể duy trì việc làm cho những công nhân ở Maine. Chúng ta có thể bảo vệ những nhà máy như Newton Falls. Chúng ta có thể làm cho những nhà máy thép ở Gary, Indiana sinh lợi. Chúng ta chỉ cần loại bỏ cạnh tranh nước ngoài. Chúng ta có thể dựng lên những rào cản thương mại, ngăn chặn sự phá hủy sáng tạo ngay tại biên giới. Vậy tại sao chúng ta lại không làm như vậy? Những lợi ích của bảo hộ đã quá rõ ràng. Nhưng chi phí cho bảo hộ lại khó nhận ra hơn. Chúng ta khó có thể chỉ ra những việc làm chưa từng được tạo ra hay những khoản thu nhập cao hơn mà người dân chưa từng kiếm được.

Để có thể hiểu rõ những chi phí do các rào cản thương mại gây ra, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về câu hỏi: Nước Mỹ có giàu có hơn nếu chúng ta cấm giao dịch thương mại qua sông Missisippi không? Lý thuyết về bảo hộ cho rằng chúng ta sẽ giàu có hơn. Đối với những người ở bờ đông của sông Missisippi như chúng ta, sẽ có thêm nhiều việc làm mới được tạo ra, vì chúng ta sẽ không còn tiếp cận với những thứ như máy bay Boeing hay các loại rượu của miền Bắc California. Nhưng gần như mọi công nhân có kỹ năng ở bờ đông sông Missisippi đều đang làm việc, và chúng ta đang làm những việc cho ra hiệu quả cao hơn là sản xuất máy bay hay rượu. Tương tự, những công nhân ở bờ tây, những người đang chế tạo máy bay và rượu rất hiệu quả, sẽ phải từ bỏ công việc của mình để làm ra những sản phẩm vẫn được sản xuất ở bờ đông. Họ sẽ không thể làm những việc này tốt bằng chúng ta. Rào cản thương mại giữa bờ bên này và bờ bên kia sông Missisippi sẽ quay ngược chiều kim đồng hồ chuyên biệt hóa.

Chúng ta sẽ không thể có những sản phẩm vượt trội và buộc phải làm những việc mà chúng ta không thật sự giỏi. Nói tóm lại, chúng ta sẽ nghèo hơn bởi vì xét trên tổng thể, năng suất của chúng ta sẽ thấp hơn. Đây là lý do các nhà kinh tế học không chỉ ủng hộ thương mại giữa hai bờ sông Missisippi, mà còn giữa hai bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Thương mại quốc tế quay chiếc kim đồng hồ chuyên biệt hóa theo đúng chiều, trong khi đó bảo hộ lại ngăn cản quá trình đó diễn ra.

Thương mại giúp người tiêu dùng cắt giảm chi phí cho hàng hóa, nhờ đó làm tăng thu nhập của họ.

Hãy tạm quên những công nhân sản xuất giầy trong chốc lát và nghĩ về những đôi giầy. Tại sao Nike lại sản xuất những đôi giầy này ở Việt Nam? Bởi vì sản xuất giầy ở Việt Nam rẻ hơn ở Mỹ, và điều đó có nghĩa là chúng ta có thể mua giầy rẻ hơn. Một nghịch lý của những cuộc thảo luận về thương mại quốc tế là những cá nhân đấu tranh cho sự chà đạp tinh thần lại hờ hững với thực tế rằng hàng hóa nhập khẩu rẻ rất phù hợp với những người tiêu dùng thu nhập thấp (và cho tất cả chúng ta). Hàng hóa rẻ hơn có tác động đến đời sống của tất cả bởi vì nó đẩy thu nhập tăng lên. Chúng ta có thể mua nhiều hơn. Và điều tương tự cũng đúng ở những nước khác.

Rào cản thương mại thường gặp nhất là thuế, bao gồm cả thuế gián tiếp. Giả sử chính phủ Mỹ cộng thêm 30 xu tiền thuế vào mỗi gallon nước cam bán ở Mỹ. Những lực lượng chống đối chính phủ bảo thủ sẽ kịch liệt phản đối. Những đảng viên Đảng Tự do, những người mặc nhiên coi các vấn đề liên quan đến thuế như vấn đề cơm ăn áo mặc hàng ngày, bởi vì những loại thuế như thế này là thuế lũy tiến, nghĩa là đối với những người chịu thua thiệt thì chúng chiếm chi phí nhiều nhất (1% trong thu nhập). Vâng, chính phủ đã thêm 30 xu vào giá của mỗi gallon nước cam, mặc dù không đánh thuế.

Chính phủ Mỹ đánh thuế vào cam và nước cam của Brazil ở mức khoảng 63%. Rất nhiều vùng của Brazil được coi là nơi lý tưởng để trồng cam quýt và đây cũng chính là lý do khiến nông dân Mỹ lo lắng. Vì thế, chính phủ đã bảo hộ cho những nông dân này. Các nhà kinh tế học cho rằng thuế đánh vào cam và nước cam của Brazil hạn chế cung của sản phẩm nhập khẩu và cũng vì vậy làm tăng giá mỗi gallon nước cam thêm ba xu. Hầu hết người tiêu dùng đều không biết rằng chính phủ đang lấy tiền khỏi túi họ và gửi số tiền đó đến cho những người trồng cam ở bang Florida. Hành vi này không hề được ghi trên biên lai.

Tương tự như cắt giảm thuế, giảm bớt các rào cản thương mại sẽ tác động đến người tiêu dùng. Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT). Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, GATT là cơ chế trong đó các nước đàm phán để cắt giảm thuế quan toàn cầu và mở đường cho thương mại tiến sâu hơn. Trong tám vòng đàm phán của GATT từ năm 1948 đến năm 1995, thuế quan trung bình ở các nước công nghiệp giảm từ 40% xuống 4%. Đây là mức cắt giảm “thuế” đáng kể cho tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu. Nó cũng buộc các nhà sản xuất trong nước phải tung ra những hàng hóa rẻ hơn và tốt hơn để có thể đứng vững trong cạnh tranh. Nếu ngày hôm nay, bạn bước vào một cửa hàng ô tô, bạn sẽ hạnh phúc hơn nhiều so với năm 1970 vì hai lý do: Thứ nhất, bạn có thể lựa chọn nhiều xe nhập khẩu với chất lượng tốt hơn; Thứ hai, Detroit cũng phản ứng bằng cách sản xuất những chiếc xe tốt hơn. Honda Accord khiến bạn giàu có hơn và cả Ford Taurus cũng tốt hơn so với trước kia.

Các nước nghèo cũng được hưởng lợi từ thương mại.

Nếu chúng ta kiên nhẫn giải thích những lợi ích của thương mại cho những người chống đối ở Seattle, Washington, Davos, hay Genoa, thì có lẽ họ sẽ đặt những ly cocktail Molotov của mình xuống. Được rồi, có thể là họ sẽ không làm thế. Những người phản đối phe chống toàn cầu hóa lập luận rằng thương mại thế giới là do những nước giàu áp đặt lên những nước đang phát triển. Trên lý thuyết, chúng ta nên nhận ra rằng lối tư duy tổng bằng không thường sai khi áp dụng vào kinh tế học. Trong trường hợp này cũng vậy. Đại diện của những quốc gia đang phát triển là những người phàn nàn gay gắt nhất về tình trạng không nhất trí trong những cuộc đàm phán của WTO ở Seattle.

Thương mại giúp các nước nghèo có khả năng tiếp cận với thị trường của các nước phát triển. Đó là nơi mà phần lớn người tiêu dùng trên thế giới sinh sống (hay ít nhất là những người có đủ tiền tiêu xài). Hãy xem xét ảnh hưởng của Đạo luật Tăng trưởng và Cơ hội cho châu Phi, một đạo luật được thông qua vào năm 2000 cho phép những nước nghèo nhất châu Phi xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ với mức thuế thấp hoặc được miễn thuế. Trong vòng một năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Madagascar sang Mỹ đã tăng lên 120%, và của Nam Phi tăng 47%. Như một nhà bình luận đã nhận xét, “những việc làm thật sự cho những người dân thật sự”.

Đáng chú ý là, những sản phẩm xuất khẩu rẻ đã mở đường cho sự thịnh vượng của “những con hổ” châu Á như Singapore, Hàn Quốc, Hong Kong và Đài Loan (và trước đó cho cả Nhật Bản). Trung Quốc đã sử dụng kim ngạch xuất khẩu như một bệ phóng cho tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, ba mươi tỉnh thành của Trung Quốc được xem như những quốc gia riêng. Trong danh sách hai mươi quốc gia tăng trưởng nhanh trên thế giới từ năm 1978 đến năm 1995, luôn có tên Trung Quốc. Để có cái nhìn toàn diện hơn về thành tựu kinh tế này, chúng ta hãy làm một phép so sánh. Anh đã mất 58 năm để GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi sau khi tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp. Trong khi đó, ở Trung Quốc, cứ sau mười năm, GDP bình quân đầu người lại tăng gấp đôi. Nicholas Kristof và Sheryl Wudunn, những phóng viên người châu Á của New York Times đã viết:

"Chúng tôi và nhiều phóng viên khác đã viết về vấn đề lao động trẻ em và môi trường làm việc nghiệt ngã ở cả Trung Quốc và Nam Phi. Nhưng, nhìn lại, những mối lo lắng của chúng tôi quá thừa thãi. Những nhà máy vắt kiệt sức lao động này được xây dựng với mục đích tạo ra của cải để giải quyết những vấn đề mà chúng gây ra. Nếu những người Mỹ phản ứng lại trước những câu chuyện bóc lột bằng cách hạn chế nhập khẩu sản phẩm của những nhà máy này, thì cả Trung Quốc lẫn Hàn Quốc sẽ không thể đạt được nhiều tiến bộ như ngày nay.

Trung Quốc và Nam Á không phải là những ví dụ duy nhất. Văn phòng Tư vấn AT Kearney đã tiến hành một nghiên cứu về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với 34 quốc gia phát triển và đang phát triển. Họ phát hiện ra rằng trong hai mươi năm qua, những nước có tốc độ toàn cầu hóa nhanh nhất có tốc độ tăng trưởng cao hơn khoảng 30 đến 50% so với những nước ít hội nhập với nền kinh tế thế giới. Những nước này cũng được hưởng tự do về chính trị nhiều hơn và nhận được những kết quả khả quan hơn khi xét đến Chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc. Theo những tác giả này, khoảng 1,4 tỷ người đã hoàn toàn thoát khỏi đói nghèo nhờ sự tăng trưởng kinh tế do toàn cầu hóa đem lại. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn vào những mặt trái: Mức độ toàn cầu hóa cao hơn kéo theo mức độ bất bình đẳng trong thu nhập, tham nhũng và sự suy thoái môi trường cao hơn. Vấn đề này sẽ được thảo luận kỹ hơn trong phần sau.

Nhưng chúng ta có thể nâng cao hiệu quả của toàn cầu hóa theo một cách khác. Nếu không phải là hội nhập thương mại và kinh tế sâu hơn, thì đó sẽ là gì? Những người phản đối thương mại toàn cầu cần phải trả lời một câu hỏi, dựa theo quan điểm do nhà kinh tế học Jeffrey Sachs của Đại học Harvard đưa ra: Có đất nước nào có thể phát triển thành công mà không tiến hành thương mại hay hội nhập nền kinh tế toàn cầu không ?

Câu trả lời là không.

Đây chính là lý do Thomas Friedman đã gợi ý nên đặt cho liên minh chống toàn cầu hóa cái tên “Liên minh duy trì sự nghèo đói của những người nghèo trên thế giới”.

Thương mại dựa trên trao đổi tự nguyện.

Tất cả những gì chúng ta làm đều là nhằm để cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, quan điểm này lại thường không được đề cập đến trong những cuộc thảo luận về toàn cầu hóa. McDonald’s không xây một nhà hàng ở Bangkok, rồi chĩa súng vào khách hàng buộc người ta đến ăn. Khách hàng đến McDonald’s vì họ muốn như thế. Nếu họ không muốn, họ không buộc phải ăn ở đó. Và nếu không có khách hàng nào, nhà hàng sẽ lỗ vốn và phải đóng cửa.

McDonald’s có khiến văn hóa địa phương thay đổi không? Có. Đây cũng là điều đã thu hút sự chú ý của tôi mười năm trước khi tôi viết về sự xuất hiện của Kentucky Fried Chicken ở Bali. Trong bài báo của mình, tôi đã viết: “Những người Indonesia có loại đồ ăn nhanh phù hợp với sở thích của họ những đồ hộp đóng sẵn của Colonel hay những đĩa Styrofoam. Một bữa ăn mua ở quầy thực phẩm được gói trong một chiếc lá chuối và một tờ báo. Chiếc lá to màu xanh giúp duy trì độ ấm của thức ăn, không thấm đối với thức ăn có dầu mỡ và có thể gói thành một gói rất gọn nhẹ.

Nhưng trên thế giới, những đồ ăn gói trong lá chuối không phổ biến bằng túi giấy. Cách đây không lâu, tôi đi cùng một đoàn công tác đến Puerta Vallarta, Mexico. Puerta Vallarta là một thành phố xinh đẹp nằm ở chân những ngọn núi bên bờ Thái Bình Dương. Điểm nổi bật của thành phố là một con đường lớn vòng quanh bờ biển. Gần khoảng giữa con đường là một trong những nhà hàng có giá trị nhất trên thị trường cổ phiếu, nhà hàng Hoosters. Một người trong nhóm chúng tôi reo lên khi nhìn thấy nhà hàng nổi tiếng này: ”Không thể tin được!”.

Một nhà hàng Hoosters ở những thành phố lớn trên thế giới có lẽ không phải là điều mà Adam Smith nghĩ tới. Marvin Zonis lưu ý: “Những khía cạnh nhất định của văn hóa phổ thông Mỹ - sự đồi bại và sự lỗ mãng, bạo lực và tình dục - đúng là rất đáng lên án.” Mối đe dọa của “đồng hóa” - mà tồi tệ nhất là sự đồng hóa xuất phát từ Mỹ - là một sự cản trở chủ yếu đối với toàn cầu hóa. Nhưng đó là một vấn đề dẫn chúng ta trở lại một điểm quan trọng trong Chương 1: Ai là người ra quyết định? Tôi không cảm thấy vui khi nhìn thấy một nhà hàng Hoosters ở Puerta Vallarta, nhưng như tôi đã nói trong chương trước, tôi không điều khiển cả thế giới. Quan trọng hơn, tôi không sống hay bầu cử ở Puerta Vallarta. Cả những người chống đối đang ném đá ở Seattle và Genoa cũng vậy.

Hiện nay, có một cửa hàng của McDonald’s ở Moscow và một cửa hàng Starbucks ở Tử Cấm Thành, Bắc Kinh. Stalin không bao giờ cho phép những việc trên diễn ra; Mao Trạch Đông cũng sẽ không bao giờ cho phép điều đó. Và đây quả là một điều rất đáng cân nhắc.

Những ý kiến về đồng hóa có thể không đúng. Văn hóa thâm nhập theo mọi hướng. Giờ đây, tôi có thể thuê những bộ phim Iran ở Blockbuster. Đài Phát thanh quốc gia gần đây đã phát một chương trình về những thợ thủ công ở những vùng xa xôi trên thế giới, những người bán tác phẩm của mình trên Internet. Chúng ta có thể đăng nhập vào novica.com và thấy ngay một thị trường toàn cầu ảo cho các tác phẩm nghệ thuật và thủ công. Katherine Ryan, một nhân viên của Novica, giải thích: “Có một cộng đồng ở Peru, mà gần như tất cả các nghệ nhân đều làm thợ mỏ. Nhờ thành công trên Novica, một nghệ nhân trong cộng đồng đã thuê rất nhiều người thân trong gia đình cũng như hàng xóm để họ quay lại với nghề dệt truyền thống và họ không còn phải làm việc trong các hầm mỏ nữa. Giờ đây, họ đang kế tục truyền thống đã tồn tại trong nhiều thế hệ, và họ đã dệt nên những tấm thảm đẹp tuyệt vời.” John Micklethwait và Adrian Wooldridge, các tác giả của bài báo về toàn cầu hóa có tên gọi A Future Perfect, đã chỉ ra trong lĩnh vực kinh doanh, một công ty Phần Lan vô danh trước kia như Nokia đã có thể đánh ngã một gã khổng lồ Mỹ như Motorola.

Chúng ta vẫn đang rất sôi nổi khi nói về những tác động thứ yếu của toàn cầu hóa. Nếu so với nỗi kinh hoàng từ những nhà máy vắt kiệt sức lao động ở châu Á, một nhà hàng Hoosters ở Puerta Vallarta chỉ là một cơn đau đầu nhẹ. Tuy nhiên, nguyên lý của chúng thì giống nhau. Nike không sử dụng lao động ép buộc ở những nhà máy của mình tại Việt Nam. Tại sao các công nhân lại sẵn sàng chấp nhận mức lương 1 hay 2 đôla một ngày? Bởi vì như thế còn tốt hơn bất kỳ lựa chọn nào khác mà họ có. Theo Viện Kinh tế Quốc tế, mức lương trung bình mà các công ty nước ngoài trả cho công nhân của những nước có thu nhập thấp gấp đôi so với mức lương của các ngành sản xuất trong nước.