NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Tình cảnh của người lao động Việt Nam ở nước ngoài

Theo thống kê chính thức thì từ năm 2004 đến nay, đã có 315 người lao động Việt Nam tại Malaysia chết trong hòan cảnh mà tin tức trong nước cho là có nhiều điều bất thường xung quanh những cái chết này.

Cho tới giờ, các quan chức liên hệ và những công ty xuất khẩu lao động của Việt Nam có phản ứng ra sao ? Tình cảnh của người lao động ở Malaysia hiện như thế nào ? Thanh Quang tìm hiểu vấn đề này, và ghi nhận ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Ủy ban S.O.S, trụ sở tại Virginia, Hoa Kỳ.

Hàng trăm công nhân bị đột tử

Sau nhiều năm xảy ra tình trạng “đột tử” của hàng trăm người lao động Việt Nam tại Malaysia như vậy, thì chỉ mới đây, những thảm cảnh này mới được báo chí trong nước dồn dập nhắc tới, trong khi các quan chức liên hệ của Việt Nam thì giải thích chung chung, qua loa về những người xấu số ấy.

Chẳng hạn như, theo báo Hà Nội Mới online thì ông Nguyễn Thanh Hòa, Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Việt Nam, cho rằng “một trong những nguyên nhân quan trọng cơ bản dẫn đến tình trạng người lao động Việt Nam bị chết ở Malaysia là do khâu khám sức khỏe cho lao động quá đơn giản”, và “không lọai trừ trong đó có cả những trường hợp không khám mà vẫn được chứng nhận đủ sức khỏe đi làm việc ở Malaysia”.

Ông Hòa giải thích thêm rằng “Năm 2005, tỷ lệ lao động Việt Nam chết tại Malaysia là khỏang 0,14%. Năm 2007 là 0,09%. Như vậy là tỷ lệ chết đã giảm”...

Chối bỏ trách nhiệm

Hôm thứ Năm, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản Lý Lao động Ngòai nước thuộc Bộ LĐ-TB và XH cho biết 2 nguyên nhân chính dẫn đến mức tử vong cao vừa nói là do khâu khám sức khỏe “bị thả lỏng”, và người lao động Việt Nam chưa quen với phong tục tập quán ở Malaysia.

Cách đây khỏang một tuần, ông Vũ Đình Tòan, Tham tán, Trưởng Ban quản lý lao động Việt Nam tại Malaysia cho biết nguyên nhân về những cái chết này: Thứ nhất là vì bệnh tật, thứ hai là tai nạn lao động, thứ ba là tai nạn giao thông, thứ tư là bị sát hại và cuối cùng là tự tử.

Cho dẫu có nhìn nhận số 315 người lao động Việt Nam chết tại Malaysia từ năm 2004 đến nay là con số cao bất thường, như ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý Lao động Nước ngòai, nhưng không thấy quan chức nào đề cập tới tình trạng làm việc đến kiệt sức, ăn uống kham khổ, không được chăm sóc thuốc men khi bệnh họan…của công nhân, đó là chưa kể họ thường xuyên bị khủng hỏang tinh thần, mới là những yếu tố không nhỏ dẫn tới bi cảnh của họ.

Một công nhân Việt Nam đang làm việc tại Malaysia than rằng: "Trong ngày tôi ôm nhiều việc, làm tới kiệt sức."

Một công nhân khác tại Malaysia cho biết như sau: "Từ trước tới giờ không có một tổ chức nào ở Việt Nam sang đây như thế này như thế nọ cả. Thật sự luôn đó. Em thấy chưa đáp ứng đủ nhu cầu của bọn em, tức là chưa giúp đỡ đầy đủ. Tại vì bọn em sang đây từ trước tới giờ mà có ai hỏi thăm đến đâu. Em muốn bây giờ là cho công nhân thứ nhất là khám sức khoẻ định kỳ, thứ hai là có được tiêm thuốc và uống thuốc để phòng các bệnh và sẽ được chăm sóc sức khoẻ như ở bên Việt Nam. Ở bên này mình ốm đau mình tự đi bệnh viện mà tiếng người ta mình chả biết, chả làm sao được cả."

Trước tình cảnh thảm thương và chẳng khác nào như bị "đem con bỏ chợ" như vậy, một công nhân ở Malaysia kêu cứu: "Khổ lắm! Như em kêu thì cũng chẳng kêu được ai. Đúng là khóc cũng dở mà cười cũng dở! Làm sao mà giải quyết như thế nào?"

Qua cuộc trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, có nhận xét về tình cảnh của người lao động Việt Nam tại Malaysia.

Chúng tôi có nghe cái tin này trong thời gian tôi ở Mã Lai vào cuối năm ngoái, và công nhân ở bên đó rất là lo lắng bởi vì họ rất là hoang mang: không ai biết rõ lý do tại sao lại chết bất đắc kỳ tử và đột ngột như vậy. Chúng tôi thực sự không biết được lý do ở đâu mà ra, bệnh tình như thế nào, chết trong hoàn cảnh như thế nào, bởi vì mỗi một trường hợp riêng rẽ khác nhau, hồ sơ riêng rẽ. Tuy nhiên, con số tử vong là con số hết sức đáng quan tâm. Tại sao tự dưng có con số lớn như vậy ở cùng một quốc gia Mã Lai so với những nơi khác. Cái đó là điều hết sức đáng quan tâm.

Thưa, có vấn đề gây nhiều chú ý là số tử vong nhiều như vậy, đột tử như vậy mà bắt đầu từ lâu rồi, tức là từ 2004, mà sao cho tới thời điểm này thì báo chí trong nước và một số viên chức mới có công khai ra?

Dạ vâng. Cái điều rất tiếc là ở Việt Nam chính quyền chưa có cơ chế nào để theo dõi hoàn cảnh sinh sống và chăm sóc cho họ, hướng dẫn cho họ, cũng như lắng nghe ý kiến của công nhân đều đặn, do đó những sự kiện xảy ra khi nó hãy còn manh mún thôi thì lại không được quan tâm, cho tới khi nào quan tâm rồi thì lúc đó chuyện nó đã vỡ lỡ ra, nó khá trầm trọng.

Thành ra cái đó là cái điều rất đáng tiếc. Không riêng gì vấn đề đột tử mà còn nhiều vấn đề khác nữa đã nảy sinh ngấm ngầm và từ từ phát triển nhưng mà chính quyền trong nước đã không để ý cho tới khi nó bộc phát ra thành ra một vấn nạn lớn.

Như Tiến Sĩ vừa nói thì vấn đề đã vỡ lỡ ra thành vấn đề lớn rồi và sự thật là như vậy đó, đang trầm trọng, như vậy thì các quan chức Việt Nam liên hệ và các công ty xuất khẩu lao động có hành động gì thích hợp cho vấn đề này chưa, theo chỗ theo dõi và hiểu biết của Tiến Sĩ?

Dạ vâng. Chúng tôi được biết là ở phía chính quyền Việt Nam, ở bên Quốc Hội Việt Nam cũng như ở một vài cơ quan như bên Bộ Lao Động - Thưong Binh và Xã Hội, thì họ bắt đầu đặt vấn đề để làm sao bảo vệ cho người lao động và quan tâm đến tình trạng sức khoẻ của người lao động.

Và chúng tôi nghe nói rằng họ có cử một phái đoàn lên đường đi Malaysia tìm hiểu tình hình. Tuy nhiên, chúng tôi ngờ rằng có thể tìm ra được lý do ở đằng sau vấn đề đột tử trong thời gian ngắn tới đây. Thành ra cái đó vẫn sẽ là mối quan tâm mà chúng tôi hiện nay cũng đang theo dõi vấn đề này.

Thưa Tiến Sĩ, có điểm mà có lẽ công luận cũng rất là bất mãn, là bởi vì trong mấy ngày qua theo dõi báo chí nhiều nguồn tin trong nước thì thấy các viên chức liên quan chỉ nói là vấn đề chết do phía Việt Nam lúc khám sức khoẻ không kỹ càng hay là thậm chí một số công nhân lại là lo tiền để chạy giấy khám sức khoẻ tốt thế nào đó, vậy thôi. Hoặc là đưa ra một số lý do chết như là bị tai nạn giao thông, v.v. chứ không thấy có sự chú ý tới thảm cảnh này. Thì Tiến Sĩ có nhận xét như thế nào về thái độ của các viên chức liên quan hay là các công ty xuất khẩu lao động đối với thảm cảnh này không?

Cái đấy chỉ là một trong rất nhiều thảm cảnh khác mà người lao động Việt nam ở nước ngoài đang phải gánh chịu, không riêng gì ở Mã Lai Á (Malaysia) mà hiện nay có đến trên nửa triệu người VN đang lao động ở các quốc gia khác nhau trong khi Việt Nam đang muốn đẩy thêm công nhân đi làm việc ở nước ngoài trong kế hoạch xoá đói giảm nghèo, nhưng ngược lại đã không có những cơ chế, đã không có chính sách, đã không có những cơ quan để bảo vệ cho họ về mọi khía cạnh, từ vấn đề sức khoẻ cho tới vấn đề quyền lợi của người lao động, vấn đề có bị bóc lột hay không, đưa họ về nước sau khi họ đã bị những cuộc đánh đập dã man đã xảy ra ngay ở bên Mã Lai.

Hiện nay chúng tôi đang làm việc trên hồ sơ ảnh hưởng tới 1.300 người Việt chúng ta đang lao động ở Mã Lai bị rất nhiều thiệt thòi. Họ đã cầu cứu với Đại Sứ Quán Việt Nam tại Kuala Lumpur nhưng không được sự giúp đỡ nào cả. Thành ra cái đó là điều mà tôi nghĩ rằng là thiếu tinh thần trách nhiệm. Và từ vấn đề khởi sự đưa người đi lao dộng thì lẽ ra đã phải có kế hoạch theo dõi, trợ giúp và can thiệp bênh vực cho công dân của đất nước mình.

Như Tiến Sĩ vừa nói, Tiến Sĩ có theo dõi 1.300 người lao động Việt Nam tại Mã Lai, như vậy thì tổ chức này có kế hoạch, có hành động nào liên quan tới vụ này không?

Dạ vâng. Việc này hãy còn đang diễn tiến và chúng tôi hy vọng là trong vòng 24 tiếng đồng hồ nữa thì chúng tôi sẽ có một thông tin rất là quan trọng và rất là phấn khởi để giúp đỡ và giải quyết cho tình tạng của 1.300 đồng bào của chúng ta. Hiện nay chúng tôi chưa được quyền công bố, nhưng nội trong vòng 24 tiếng đồng hồ thì chúng tôi sẽ công bố.

176 nữ công nhân Việt Nam ở Jordan bị chủ bỏ đói, bị hành hung

Một trăm bảy mươi sáu công nhân nữ người Việt Nam sang làm việc ở Jordan đã bị chủ nhân bỏ đói và thuê người hành hung vì tổ chức đình công đòi tăng lương cũng như cải thiện điều kiện làm việc.

Tin cho hay, sức khỏe của nhiều người trong số này đã bị suy yếu nguy kịch về sức khỏe mà không được chủ công ty cho đi chữa trị.

Đây là những ngừơi làm việc trong công ty may mặc W &D Apparel Corporation Jordan do một ngừơi Đài Loan làm chủ. Chủ nhân của W&D Apparel đã không trả lương đúng hợp đồng mà những nữ lao động này ký với công ty môi giới trứơc khi sang Jordan.

Theo những nguồn tin từ trong và ngoài nước, vì bị đối xử và hành hạ dã man từ vụ đình công ngày 24 tháng 2 vừa qua, với nhiều ngừơi bị đánh đập và bắt nhốt, các nữ công nhân Việt ở Jordan đã kêu cứu.

Ông Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành tổ chức SOS ở Hoa Kỳ, cho biết:

“Ngày 24-2 chúng tôi biết được tin này qua báo Tuổi Trẻ. Ngay lập tức chúng tôi đã báo tin này với Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng như một số cơ quan khác. Và được Bộ ngoại giao giúp nối kết với cơ quan IOM.

Cùng lúc đó, chúng tôi tìm cách truy tìm nơi ở, số điện thoại của các công nhân Việt Nam đang gặp nạn ở Jordan, để tìm phương cách giúp đỡ họ”.

Hiện tại tất cả những người nữ công nhân của W&D Apparel Corp Jordan đều rất sợ hãi và bày tỏ ý định muốn về nước.

Đại diện là nữ công nhân Phương Anh cho biết:

Tình trạng ăn uống của bọn em ngày càng sa sút. Chủ công ty chỉ cho tụi em ăn mỗi bữa một chút cơm thôi. Khi mà cảnh sát bắt đầu đến và đánh bọn em thì trong số nữ công nhân đã có 5 người rất là mệt. Tui em phải xúm lại với nhau xin kêu cứu. Tụi em tất cả phải qùy xuống chấp tay xin cứu cho tụi em về nước thôi ạ.

“Lúc bắt đầu đình công thì đại diện công ty nói rằng bọn em làm như vậy là không tốt. Họ nói rằng họ đã làm theo đúng hợp đồng. Tuy nhiên bọn em vẫn nhất quyết đình công.

Sau đó, tình trạng ăn uống của bọn em ngày càng sa sút. Chủ công ty chỉ cho tụi em ăn mỗi bữa một chút cơm thôi.

Tại Việt Nam, ông Cao Ngọc Quỳnh là cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nứơc, cho biết đã nhận được tin tức về vụ bóc lột, hành hạ và ngược đãi công nhân Việt Nam ở Jordan. Cục Quản Lý Lao Động Nứơc Ngoài đã cử ngừơi sang Jordan để tìm hiểu sự việc.

Hàng trăm lao động Việt Nam chết ở Malaysia

Liên quan đến đời sống và công ăn việc làm của người lao động xuất khẩu từ Việt Nam, tin tức báo chi cho hay, đã có hơn 300 trường hợp lao động Việt Nam chết tại Malaysia kể từ tháng 4 năm 2002 cho đến nay.

Đây là con số thống kê do Cục Quản lý Lao động Ngòai nước thuộc Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội Việt Nam chính thức đưa ra gần đây.

Trước thông tin này, Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, ông Bùi Sĩ Lợi, tỏ ra ngạc nhiên vì khi còn giữ chức vụ chánh thanh tra Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội ông không hề được Cục quán lý lao động ngòai nước báo cáo về con số thương vong đó.

Ông Bùi Sĩ Lợi nhận định rằng con số lao động Việt Nam chết tại Malaysia hẳn phải cao hơn thế nữa. Lý do là vì có nhiều người đi theo con đường bất hợp pháp hay đi du lịch rồi ở lại không nằm trong diện mà cục quản lý.

Trong khi đó, người đứng đầu Cục quản lý lao động ngòai nước là ông Nguyễn Ngọc Quỳnh thì cho rằng đối với tình trạng lao động Việt Nam chết tại Malaysia còn nhiều vướng mắc mà cấp của ông quản lý không thể giải quyết được.

315 người Việt chết và “chỉ 0,09%” - GS TS Nguyễn Văn Tuấn

Theo tôi, chính phủ Việt Nam cần phải bày tỏ thái độ và hành động, kể cả điều tra nghiêm chỉnh, để chứng tỏ cho chính phủ và các doanh nghiệp Malaysia biết rằng chúng ta quí trọng sinh mạng của công dân Việt Nam. Nếu chúng ta không quí trọng công dân Việt thì ai quí trọng chúng ta ?>> Hỏi tức là trả lời vậy ?

Theo thứ trưởng Nguyễn Thanh Hoà, trong bài báo dẫn trong bài này, bộ Lao động - Thương binh và Xã hội "đã nhiều lần báo cáo lên Chính phủ. Nhưng do đây là thông tin nhạy cảm nên chúng tôi không công bố, các văn bản có thông tin này đều ở dạng mật". Như vậy không phải là những quan chức phụ trách việc "xuất khẩu lao động" này không biết rằng số người lao động chết này là có gì bất thường. Nhưng họ cố tình giấu giếm người dân. Để có thể tiếp tục những phi vụ béo bở? Tiền thu vào túi rồi sống chết mặc bay, chẳng có thể có kết luận nào khác đối với những người coi số phận hẩm hiu của đồng bào mình là "mật".

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hoà, trong năm 2007 có 107 người Việt lao động chết ở Malaysia, và con số này phản ánh 0,09% tổng số lao động Việt Nam tại đây. Dựa vào con số này, bài báo trên Tuổi Trẻ mang tựa đề “Lao động VN tại Malaysia: Tỉ lệ tử vong chỉ 0,09%”. Tôi phải hỏi tại sao “chỉ”, trong khi có hàng trăm người chết ?

Thật ra, theo thống kê chính thức của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, trong thời gian từ 2004 đến nay đã có 315 lao động Việt Nam tại Malaysia chết. Tính trên tổng số lao động, con số này tương đương với tỉ lệ tử vong 0,24%.

Ba trăm mười lăm người Việt đã chết trên xứ người, với những nguyên nhân mù mờ, là một điều rất đáng quan tâm. Mỗi cái chết là một thảm trạng cho gia đình của nạn nhân. Con số 315 tử vong cũng có nghĩa là 315 gia đình đang lâm vào cảnh khó khăn, khốn đốn.

Chẳng những là 315 cái tang gia đình, mà còn là một sự mất mát không nhỏ cho quốc gia Việt Nam. Cần nhắc lại rằng những người lao động kém may mắn này chết trong độ tuổi sung mãn nhất của đời người. Nếu tuổi thọ trung bình trong nam giới của cả nước là 71 tuổi, tính trung bình mỗi cái chết tương đương với 46 năm sống bị mất, và tính chung 315 người chết có nghĩa là trên 14.000 năm sống (life-years) bị mất đi. Đó là một sự mất mát lớn, chứ không thể nói là nhỏ được.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hòa còn cho biết “so với người đang lao động ở trong nước thiệt mạng giữa độ tuổi 25-30 thì tỉ lệ người lao động VN tử vong ở thị trường Malaysia thấp hơn 2-3 lần”. Tôi e rằng so sánh này thiếu cơ sở thực tế. Tôi không có số liệu tử vong trong người lao động ở Việt Nam, nhưng qua kiểm tra y văn thì thấy có một nghiên cứu dân số rất chi tiết tại huyện Ba Vì vào năm 2000-2001, và nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tử vong trong độ tuổi 25-34 là khoảng 0,14% [1]. Như vậy, nguy cơ tử vong của người lao động Việt tại Malaysia cao hơn nguy cơ tử vong trong cộng đồng dân số Việt Nam đến 71%.

Thật ra, so sánh như thế cũng chưa khách quan, vì những người được tuyển đi lao động nước ngoài thường có sức khỏe trên trung bình (nếu không thì khó mà được tuyển đi lao động nước ngoài). Do đó, trong thực tế nguy cơ tử vong của người lao động Việt tại Malaysia có thể cao gấp 2 lần đồng hương trong nước.

Điều đáng quan tâm hơn nữa là nguyên nhân tử vong chưa rõ ràng. Đọc qua những “nguyên nhân” tử vong do một quan chức thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước (như “chất lượng khám sức khỏe cho người lao động đi Malaysia chưa cao; cách sinh hoạt của người lao động không phù hợp; người lao động không quen với nếp sống đô thị hiện đại, tác phong làm việc”) tôi không thấy đó là nguyên nhân gì cả, mà chỉ là những yếu tố gián tiếp có thể liên quan đến tử vong. Chúng ta không thể nào làm ngơ hay không điều tra khi có đến 315 người đã chết mà không rõ nguyên nhân.

Theo tôi, chính phủ Việt Nam cần phải bày tỏ thái độ và hành động, kể cả điều tra nghiêm chỉnh, để chứng tỏ cho chính phủ và các doanh nghiệp Malaysia biết rằng chúng ta quí trọng sinh mạng của công dân Việt Nam. Nếu chúng ta không quí trọng công dân Việt thì ai quí trọng chúng ta?

[1] Con số này tôi trích từ bài báo “Pattern of mortality in Bavi, Vietnam, 1999-2001” trên tập san Scan J Public Health 2003; Suppl 62:8-11.