>
        NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ông Lê Thành Ân - Tân Tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn : chức vụ mới trên quê hương cũ

Ông Lê Thành Ân, người gốc Gò Công, vừa trở thành tổng lãnh sự gốc Việt đầu tiên của Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Ông Lê Thành Ân sinh năm 1955, sang Mỹ từ năm 1965, từng làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ trước khi chuyển sang ngành ngoại giao. Ông từng có nhiệm sở tại các thành phố Bắc Kinh, Tokyo, Kuala Lumpur, Singapore, Seoul, và Paris, trước khi đến Việt Nam. Trong bài phỏng vấn dưới đây, dành cho phóng viên Tiffany Lê của Người Việt, ông Ân nói rằng trở thành Tổng Lãnh Sự tại nơi chôn nhau cắt rốn, đối với ông, “vừa là một vinh dự, vừa là một đặc ân to lớn.”

Gia đình ông sẽ thích ứng với “quê hương mới” ra sao?

Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân : Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là nhà của chúng tôi trong ba năm tới. Ðời sống ở Việt Nam mang lại nhiều thuận lợi về mặt văn hóa lẫn ngôn ngữ. Ðể đạt được đúng ý nghĩa là gia đình, chúng tôi sẽ phải hòa mình với quá khứ của quê cha đất tổ.

Việt Nam trở nên một sân chơi của khai phá và cả phiêu lưu. Mỹ Anh, 16 tuổi, đứa con gái nhỏ tuổi nhất của tôi, để thỏa mãn tính tò mò, cháu tham gia mọi lễ nghi, hội hè và truyền thống Việt Nam. Cháu nhận thấy nói tiếng Việt ở nhà là một chuyện, nhưng ra đường thì lại hoàn toàn khác. Ðối với những việc thông thường như gọi món ăn hay hỏi đường thì biết nói tiếng Việt đúng là điều cần thiết.

Từ lúc đặt chân đến thành phố này vài tuần trước, cho đến nay, chúng tôi khám phá được thành phố nhiều hơn. Thật sự chúng tôi bắt đầu thấy thích thú. Thành phố này rất sinh động. Con người, đủ mọi lứa tuổi, đều đi tản bộ. Thanh niên thì tụ tập đầy ở các quán cà-phê. Dù cần cẩu xây dựng vươn lên khắp nơi trong thành phố Hồ Chí Minh mới, nét Sài Gòn cũ vẫn chưa xóa nhòa. Bên dưới những thép và kiếng, các khu phố Tây tầng thấp vẫn còn hiện hữu ở nhiều nơi.

Ông định thực hiện điều gì, trong 3 năm tới, trong tư cách một tổng lãnh sự?

Về lại Việt Nam sau 45 năm, về lại nơi chôn nhau cắt rốn, về lại một thành phố nơi tôi từng sống 10 năm đầu của đời mình, và thực hiện những điều ấy với tư cách tổng lãnh sự của Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại đây, quả là một vinh dự, lại vừa là đặc ân to lớn. Kỷ niệm thời thơ ấu của tôi ở Việt Nam chẳng có là bao, tuy nhiên tôi vẫn thấy như mình bị cuốn hút vào, vào văn hóa và con người của đất nước Việt Nam.

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có một quan hệ thân hữu khắng khít, công việc của chúng tôi ngày nay không còn phải hun đúc một quan hệ mới, vì quan hệ này vẫn đang tiếp tục phát triển, và mở rộng hơn thêm.

Tôi đang cưu mang một vai trò cần phải thực hiện, tôi trông mong được nghe và cùng chia sẻ với cộng đồng nói chung, và với giới truyền thông nữa, về việc làm thế nào cổ động cho tình thân hữu được hoạt động mạnh mẽ nhất giữa hai quốc gia. Với thính giả, công cụ và phương pháp truyền thông mới, tôi tin là hình ảnh của Hoa Kỳ ở Việt Nam đã cải thiện rất nhiều suốt 15 năm qua, và ngày nay, tinh thần Mỹ Quốc là đồng nghĩa với cởi mở và tiến bộ.

Sáng kiến đặc biệt tôi dự định nhắm đến gồm việc khuyến khích trao đổi mua bán và đầu tư của Hoa Kỳ khiến cho ở Mỹ tạo thêm được công việc làm, gia tăng cơ hội học vấn đối với sinh viên có đủ điều kiện, được sang Mỹ du học, cũng như tìm cách khuyến khích những ai tốt nghiệp nên trở về để xây dựng cho nền kinh tế Việt Nam.

Hòa giải với đồng bào ở hải ngoại dĩ nhiên là vấn đề cá nhân. Tôi hy vọng tìm hiểu về nhận thức của Việt Nam, lúc trước và bây giờ, dưới nhãn quan của cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong tiến trình này, tôi hy vọng cải thiện được quan hệ ngoại giao giữa đôi bên.

Mục tiêu cá nhân của tôi gồm cả việc khuyến khích làm từ thiện, giúp đỡ các cô nhi viện, bệnh viện và trường học.

Người ta nói, ông được nhận làm con nuôi từ hồi nhỏ ?

Nói theo nghĩa thông thường, thì không phải tôi được nhận làm con nuôi. Tôi là một trong chín anh chị em trong gia đình, và tôi thứ bảy. Tôi rời Việt Nam lúc còn bé và sống với bà dì và mẹ của dì. Dì tôi là người giám hộ hợp pháp nên tôi thường coi bà như là mẹ “nuôi” của tôi. Bà về hưu sau hơn 30 năm tận tụy phục vụ cho chính phủ Hoa Kỳ, trong cương vị chủ bút (editor) Việt ngữ và làm phát thanh cho Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA).

Về phần cha mẹ và anh chị em. Cha tôi mất năm 1972, mẹ và hai anh cùng hai chị tôi kẹt lại Việt Nam cho đến khi chúng tôi được đoàn tụ vào năm 1986 theo chương trình ODP. Ðồng thời, những người khác trong gia đình tôi hoặc đi Pháp hoặc sang Mỹ.

Là di dân gốc Việt, ông thấy công việc và chức vụ mới ra sao? Ông có cảm thấy Việt Nam là “quê nhà” không?

Công tác ở hải ngoại của tôi trong vai trò một nhà ngoại giao Hoa Kỳ đưa tôi và gia đình đi khắp nơi, Bắc Kinh, Tokyo, Kuala Lumpur, Singapore, Seoul và Paris, trong suốt hai thập niên qua. Tiếp xúc với đủ sắc dân, ngôn ngữ và tín ngưỡng, mang lại cho tôi tài sản vô giá về khả năng nhận thức về chính sách quốc tế và quốc nội đương thời.

Ði chu du nhiều, các cộng sự của tôi cũng như những liên lạc viên địa phương đã giúp tôi đến với các định chuẩn, thực hành và ý tưởng quốc tế. Sự tương tác với những nền văn hóa dị biệt giúp tôi loại bỏ được thành kiến, và quen với sự tổng quát hóa.

Tôi thấy Việt Nam là “nhà” chỉ khi nào tôi ngoắc một chiếc taxi, nhờ người tài xế đưa tôi đến một địa chỉ khó tìm, rồi anh ta quay lại và nói: “Ông nói tiếng Việt giỏi quá!”

Ông có gặp khó khăn khi di chuyển tại Việt Nam ?

Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với TP Hồ Chí Minh là hàng hàng lớp lớp xe đạp và xe gắn máy. Ðiều này gợi tôi nhớ đến Bắc Kinh vào thập niên 1990. Vì ít hệ thống đèn giao thông, việc băng qua đường là cả một chuyện lớn.

Trong dòng xe cộ, gồm xe con, xe buýt, xe đạp và xe gắn máy, khó lòng tìm được một khoảng trống để chen chân vào. Ðiều cần thiết là tư duy: bạn phải chấp nhận lối suy nghĩ rằng bạn phải qua được bên kia đường một cách an toàn. Hãy bước từ từ, và quan trọng nhất là chớ mà dừng lại, vì làm thế sẽ gây bối rối cho tài xế, lại còn gây nguy hiểm thêm cho bạn nữa. Ðiều đáng ngạc nhiên là dòng xe sẽ cuộn quanh bạn như nước chảy quanh một hòn đá.

Mẹo vặt của tôi dành cho khách du lịch là : cứ bước tới, trong khi mắt vẫn nhìn vào dòng xe đang tiến về phía mình.

Ông thích món ăn Việt Nam nào nhất?

Tôi thích nhiều món ăn Việt Nam, chẳng hạn chả giò, gỏi cuốn, chạo tôm, súp măng cua và bánh xèo. Nếu phải chọn món khoái khẩu nhất thì tôi chọn cơm tấm bì thịt nướng ăn với đồ chua. Chúng tôi sang Việt Nam đúng vào dịp Trung Thu, đi đâu cũng có thể mua được bánh Trung Thu.

Ông thích nhạc sĩ Việt Nam nào nhất? Và ông thích thể loại nhạc nào nhất?

Phải nói là Trịnh Công Sơn! Ông quá sức phổ thông trong quảng đại quần chúng, là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ tầm cỡ mà chính nữ ca sĩ Joan Baez còn mệnh danh ông là “Bob Dyland của Việt Nam.” Ông từng là mục tiêu để cả hai miền Nam và Bắc trấn áp. Ông sáng tác những tập nhạc chất chứa nỗi hy vọng cho hòa bình và bình yên.

Mới gần đây, vợ chồng tôi đến chơi ở một phòng trà địa phương, nay thu hút đông dân trong vùng lẫn “Việt Kiều” đến nghe nhạc Việt và do một số nghệ sĩ trẻ Việt Nam trình bày. Chúng tôi rất cảm kích tài năng của những người trẻ này.

Ðể thấy tôi “lão làng,” bạn có biết rằng tôi thích đi xem hát “Cải Lương.” Cải Lương là một hình thức kịch nghệ dân gian của Việt Nam, pha lẫn giữa dân ca Nam bộ với cổ nhạc. Cải Lương có thể so với một loại thoại kịch có thêm thắt phần Vọng Cổ. Vọng Cổ (diễn giải cho văn vẻ có nghĩa là “nghĩ tưởng đến quá khứ”) là một lối hát với nhạc nền thường phụ họa bằng đàn tranh. Cải Lương thường ca ngợi giá trị đạo đức. Vở kịch được biểu thị đặc biệt bằng y phục rực rỡ đầy màu sắc; những mái tóc đẹp điểm tô sặc sỡ, những bộ chiến bào và nón trận tinh vi nghệ thuật. Lớn lên ở Việt Nam từ bé, vở tuồng tôi ưa thích nhất là Lương Sơn Bá-Chúc Anh Ðài, được viết phỏng theo truyện Tàu, nói về đôi tình nhân ưa thích bắt bướm.

Xin ông cho biết đôi nét về học vấn ?

Giáo dục chính thức của tôi ở Hoa Kỳ mang đến cho tôi nhiều thuận tiện lẫn cơ hội. Quanh tôi là vô số lãnh vực chuyên môn khiến tôi tha hồ chọn lựa. Tôi lấy xong bằng kỹ sư điện vào năm 1976, rồi bằng Cao Học về Khoa Học Quản Trị năm 1978, cả hai đều từ trường George Washington University ở Washington D.C.

Tôi gia nhập ngành ngoại giao vào năm 1991 sau khi làm công chức dân chính cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ được 15 năm. Theo thời gian, nhờ có kiến thức về ngành kỹ thuật, tôi có khả năng hiểu được sâu hơn và có thể bàn về những vấn đề liên quan đến lãnh vực kinh doanh nói chung.

Tiffany Lê - Triệu Phong

Tân Tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn : Công dân của thế giới

“Chúng tôi là những công dân của thế giới”, ông Lê Thành Ân, tân Tổng lãnh sự Mỹ tại TP. HCM kể về gia đình của mình. Đó là gia đình có cha mẹ sinh ra ở Việt Nam, các con sinh ra ở Mỹ, và cả nhà đi khắp thế giới.

Năm 1965, cậu bé 10 tuổi Lê Thành Ân, người con thứ bảy trong một gia đình chín con ở Gò Công, được đưa sang học tại Mỹ sống với bà trẻ và người dì ở thủ đô Washington D.C. Đến Mỹ vào mùa đông lạnh giá, ông giữ lại trong ký ức hình ảnh những thân cây trơ trụi lá. “Ấn tượng đầu tiên của tôi là như vậy đó: đất nước giàu có này không đủ tiền để chặt những cái cây đã chết”, ông Ân kể.

Cha mất năm 1972, khi ông Ân vẫn đang học ở Mỹ. Ông trưởng thành trong sự bao bọc của bà trẻ và dì, chứ hoàn toàn không phải là con nuôi của một vị đại sứ Mỹ như lời đồn đại. Khi Việt Nam thống nhất vào tháng 4.1975, ông Ân đang là sinh viên năm thứ ba ngành kỹ sư điện tử tại đại học George Washington. Gia đình ông đoàn tụ hơn 10 năm sau đó, khi mẹ ông được sang Mỹ theo chương trình định cư có trật tự.

Mối tình Việt trên đất Mỹ

Cũng nhờ sự kiện 1975, ông Ân gặp được cô gái trẻ Lâm Chí Tâm, người sau này trở thành vợ ông. Bà Tâm là con gái của một thống đốc ngân hàng quốc gia của chính quyền miền Nam Việt Nam.

Khi người Việt đổ sang Mỹ sau 1975, ông Ân trở thành tình nguyện viên trong các hoạt động giúp đỡ cộng đồng người Việt định cư thông qua các tổ chức nhà thờ. Đồng thời, ông giúp dì và bà trẻ lập trung tâm Phật giáo cho người Việt ở Washington D.C, sau này xây dựng thành một ngôi chùa. Bà Tâm, khi đó mới 16 tuổi, cùng gia đình được mời tham gia. Cha bà đã “chọn mặt gửi vàng” ngay từ lúc đó nhưng mối tình của hai người vài năm sau mới nảy nở. “Hồi đó tôi chê anh Ân quá cao so với mình. Cha tôi bảo: “Con gái, đừng nhìn bề ngoài, vì cái đẹp thì ngày tháng cũng qua đi, nhưng tính tình tốt thì sẽ còn mãi. Anh ấy là người có học thức, có thể không giàu có nhưng sẽ luôn lo được cho gia đình”.

Họ kết hôn năm 1981 với một đám cưới truyền thống, cô dâu chú rể mặc áo dài, khăn đóng. Bà Tâm lui về làm nội trợ, trở thành hậu phương cho chồng theo đuổi sự nghiệp. Ông Ân làm việc trong bộ Hải quân Mỹ 15 năm, cho đến năm 1991 thì gia nhập bộ Ngoại giao và đưa gia đình sang Bắc Kinh. Đây là thời điểm ông bắt đầu cuộc sống của một nhân viên ngoại giao và đưa gia đình gốc Việt của ông trở thành “các công dân thế giới”, theo cách miêu tả của Mỹ Liên, con gái đầu lòng của ông Ân. Mỹ Liên năm nay 26 tuổi, vừa tốt nghiệp cao học ngành chính trị của trường American University ở Washington D.C. Con trai thứ hai của ông bà là Thành Nghiêm, 25 tuổi, đã tốt nghiệp đại học và đang làm việc cho một công ty tin học tại Mỹ. Còn cô con gái út Mỹ Anh đã không ở lại học nốt trung học tại Pháp mà theo bố mẹ về Việt Nam. Quốc tịch Mỹ, nhưng sinh ở Hong Kong và chưa bao giờ thực sự ở Mỹ, Mỹ Anh coi việc theo bố mẹ về Việt Nam là cơ hội để học tiếng Việt và tìm hiểu về văn hoá nguồn cội.

Tôi không có chiếc đũa thần

Ông Ân kể, ba năm ở Bắc Kinh là thời gian ông chứng kiến sự thay đổi chóng mặt của Trung Quốc về kinh tế và xã hội: “Sức phát triển kinh tế của Trung Quốc lúc đó cũng giống như những gì chúng ta đang chứng kiến ở Việt Nam hiện nay, như một chai champagne đã bật tung nắp thì không thể nút lại được”. Trong suốt những năm sau đó, công việc của một viên chức ngoại giao đưa ông và gia đình đến nhiều quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc. Ông có nhiều dịp về Việt Nam, lúc thì với gia đình, lúc thì với công việc như lần tổ chức chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton đến Việt Nam năm 2000.

Ông Ân coi việc trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên giữ chức Tổng lãnh sự tại TP.HCM vừa là một lợi thế, vừa là thách thức. Những hiểu biết về văn hoá Việt Nam sẽ giúp ông trong việc quản lý, điều hành một cơ quan ngoại giao tại Việt Nam. Nhưng ông nhận thức rằng có những sức ép đến từ mong đợi cao ở một nhà ngoại giao Mỹ gốc Việt: “Tôi hiểu rằng có rất nhiều người, trong đó có cộng đồng Việt Kiều, có những trông đợi quá cao ở tôi. Nhưng tôi không có chiếc đũa thần để vung lên và mọi chuyện diễn ra theo ý mọi người. Công việc của tôi ở đây là công việc của một người đại diện cho Tổng thống Obama và thực hiện chính sách ngoại giao của Mỹ nhằm thúc đẩy quan hệ song phương và hiểu biết giữa hai nước”.

Tân tổng lãnh sự cho biết, một trong những ưu tiên của ông trong nhiệm kỳ ở TP.HCM là tập trung phát triển hợp tác giáo dục, tìm cách giúp sinh viên Việt Nam có năng lực và đủ tiêu chuẩn nhận được cơ hội giáo dục ở Mỹ. “Cách đây tám năm, lần đầu tiên vợ chồng tôi đưa các con trở về. Chúng tôi đến thăm các nhà trẻ mồ côi, trường học, bệnh viện. Khi trở về, bọn trẻ hiểu và trân trọng cuộc sống của mình hơn. Gia đình tôi đã thoả thuận với nhau, rằng đến giáng sinh chúng tôi sẽ không tặng quà cho nhau nữa, mà dùng số tiền ấy để mua quà cho trẻ em ở Việt Nam. Sau đó, cứ mỗi giáng sinh, trừ giáng sinh năm ngoái, gia đình lại về và đi thăm, tặng đồ chơi cho các em nhỏ ở các nhà trẻ mồ côi và bệnh viện”, ông Ân kể.

Gia đình ông Ân vì thế cũng muốn tham gia vào các hoạt động từ thiện, gây quỹ… giúp đỡ trẻ em ở Việt Nam, trong thời gian ông tại nhiệm.

Lan Anh

Trở thành Tổng lãnh sự Mỹ là một vinh dự và đặc ân

Ông Lê Thành Ân, người Mỹ gốc Việt đầu tiên đảm nhận chức vụ tổng lãnh sự Mỹ tại TPHCM, nói rằng được làm công việc này là một vinh dự và đặc ân.

Hôm qua ông có cuộc trao đổi với báo chí trong nước.

Là Tổng lãnh sự Mỹ gốc Việt đầu tiên tại TP HCM, ông có cảm thấy bị áp lực ?

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, tuy tiểu sử và nền tảng gia đình tôi là người Mỹ gốc Việt, thế nhưng vai trò của tôi trong việc "là cầu nối giữa hai quốc gia" không có gì khác so với những người tiền nhiệm. Mỗi Tổng lãnh sự có nhiều điều phải làm nhưng vai trò cơ bản không hề thay đổi. Tôi đại diện cho Chính phủ Mỹ tại Việt Nam với sứ mệnh giống như người tiền nhiệm của mình, đó là thực hiện các ưu tiên chính sách đối ngoại của Chính phủ Mỹ với Việt Nam, thúc đẩy quan hệ hai nước. Tôi hoàn toàn nhận thức được những áp lực từ sự kỳ vọng rất cao vào tôi với vai trò là một nhà ngoại giao Việt - Mỹ, đặc biệt là cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tôi sẽ làm hết sức mình để thực hiện nhiệm vụ.

Ông nghĩ gì về những thuận lợi và khó khăn khi tiếp nhận công việc này ?

Bất cứ công việc nào cũng có thuận lợi và khó khăn. Tôi có nhiệm vụ lắng nghe và chia sẻ đồng thời góp phần kết nối, cải thiện mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam trong nhiều lĩnh vực. Điểm tương đồng giữa Mỹ và Việt Nam đều có dân số trẻ. Tôi tin rằng hình ảnh nước Mỹ đã được cải thiện rất nhiều trong mắt người Việt Nam trong những năm gần đây. Hai nước cũng có sự hợp tác mạnh mẽ trong lĩnh vực đầu tư, thương mại, điều này tạo cơ hội tốt để phát triển kinh tế song phương.

Trở về Việt Nam sau hơn 40 năm, nơi tôi được sinh ra, đến làm việc ở một thành phố mà tôi đã từng sống trong 10 năm đầu đời của mình, và đảm nhận chức vụ Tổng lãnh sự Mỹ tại TP HCM là một vinh dự tuyệt vời và cũng là một đặc ân.

Ông được đào tạo trở thành một kỹ sư, nhưng cuối cùng ông lại trở thành một nhà ngoại giao. Điều đó xảy ra như thế nào ?

Ngành học chính của tôi thiên về kỹ thuật. Tôi tốt nghiệp Cử nhân Khoa học kỹ thuật điện tử vào năm 1976 và nhận bằng Thạc sĩ Khoa học trong kỹ thuật Quản trị năm 1978, tại trường Đại học George Washington bang Washington.

Tôi gia nhập ngành ngoại giao vào năm 1991, sau khi là công chức cho Cục Hải quân Hoa Kỳ trong 15 năm. Trong những năm làm kỹ sư chuyên nghiệp tôi đã rèn luyện được khả năng hiểu và giải quyết các vấn đề trong cộng đồng kinh doanh.

Và rồi muốn làm một điều gì đó khác hơn là một kỹ sư, tôi gia nhập ngành ngoại giao để đại diện cho quốc gia giúp xây dựng và duy trì quan hệ với các nước trên thế giới. Lúc ấy tôi không biết rằng sau này mình sẽ trở thành người Mỹ gốc Việt giữ chức ngoại giao được thăng cấp của Bộ trưởng, Tham tán. Nhân đây tôi muốn cảm ơn những người đã trao cơ hội cho tôi, tin tưởng và truyền cảm hứng để tôi thực hiện nhiệm vụ. Tôi đặc biệt cảm ơn vợ tôi vì đã luôn ủng hộ tôi hoàn thành sứ mệnh này.

Ông có thể chia sẻ một số kế hoạch ông định làm tại Việt Nam ?

Tôi sẽ tập trung vào việc thúc đẩy thương mại và đầu tư, tăng cường cơ hội giáo dục cho học sinh đủ điều kiện để học ở Mỹ cũng như tìm cách để khuyến khích sinh viên tốt nghiệp trở về và xây dựng nền kinh tế của Việt Nam. Tôi hy vọng sẽ tìm hiểu quan điểm của Việt Nam và Mỹ, cải thiện quan hệ ngoại giao giữa hai nước và khuyến khích các cá nhân tham gia vào công tác từ thiện, giúp trẻ mồ côi, bệnh viện, và trường học.

Ngoài ra, tôi cũng chú trọng đến việc đưa sản phẩm của Mỹ đến Việt Nam, giới thiệu hàng hóa chất lượng cao, hỗ trợ thương mại, phân phối các sản phẩm này ở cả hai nước.

Trong thực tế, nhiều người Mỹ quan tâm đến việc đầu tư tại Việt Nam, đặc biệt là người Mỹ gốc Việt và Việt kiều. Tôi tin rằng nhà đầu tư tại Việt Nam và Mỹ là nguồn lực để Việt Nam chuyển đổi từ một nước thu nhập trung bình thấp đến một nước công nghiệp. Đây cũng là mục tiêu Việt Nam kỳ vọng sẽ đạt được vào năm 2020.

Ông nghĩ gì về hình ảnh đất nước Việt Nam năm 1965 ( thời điểm ông rời quê hương tới Mỹ ) và hình ảnh đất nước Việt Nam năm 2010 ?

Việt Nam đã thay đổi rất nhiều và mạnh mẽ. Nền kinh tế Việt Nam cực kỳ sôi động trong những năm qua và đầy tiềm năng. Cách đây một năm, tôi đã chụp ảnh một khu vực tại TP HCM. Bây giờ tôi trở lại và chụp tấm ảnh mới thì thấy một tòa nhà 43 tầng mọc lên. Cơ sở hạ tầng của Việt Nam cũng chuyển mình rất nhanh chóng. Tôi tin rằng, trong tương lai, Việt Nam sẽ có thêm nhiều tòa nhà chọc trời nữa mọc lên.

Nhiều người kể rằng thời gian đầu sang Mỹ cuộc sống rất cực nhọc. Theo ông cuộc sống thực sự của cộng đồng người Việt tại Mỹ như thế nào ?

Người Việt sống tại Mỹ làm việc rất chăm chỉ. Họ làm mọi công việc, dù có khó khăn nhưng họ vẫn nỗ lực xây dựng được những gia đình kiểu Mỹ rất thành công.

Mỹ là quốc gia hoan nghênh sự đóng góp của tất cả các dân tộc, tất cả các màu da. Các số liệu mới nhất cho thấy có khoảng 2 triệu người sống tại Mỹ tự nhận mình là người gốc Việt. Điều này phản ánh sự đa dạng đáng chú ý của người dân Mỹ. Và như vậy nhiều người Mỹ, người Mỹ gốc Việt đã vượt qua những trở ngại lớn để kiên trì và phát triển trong xã hội. Họ đã phục vụ trong ngành lực lượng vũ trang và thành đạt như các nhà lãnh đạo trong kinh doanh, học thuật, và dịch vụ công cộng.

Những kỷ niệm nào về quê hương còn đọng lại tâm trí ông từ lúc rời Việt Nam cho đến ngày hôm nay ?

Tuy những ký ức về tuổi thơ ở Việt Nam trong tôi rất ít vì rời quê hương từ năm 10 tuổi, nhưng tôi vẫn cảm thấy bị cuốn hút. Có nhiều nét văn hóa truyền thống của Việt Nam vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Tôi thích chương trình Chuông vàng vọng cổ.

Ông Lê Thành Ân, 56 tuổi, viên chức ngoại giao cao cấp hàng Tham tán công sứ Mỹ, tới TP HCM ngày 6/8/2010 để bắt đầu nhiệm kỳ 3 năm làm Tổng lãnh sự Mỹ tại TP HCM.

Từng làm việc tại Bắc Kinh, Tokyo, Kuala Lumpur, Singapore, Seoul và Paris, ông Ân có nhiều kinh nghiệm về vấn đề an ninh, chính trị, và kinh tế tại khu vực châu Á.

Ông Ân và vợ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Ông bà có 3 con.

Vũ Lê