NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những gương mặt làm nên lịch sử Hàng Không thế giới

Sau thời anh em Wright, diện mạo thế giới đã thay đổi với sự xuất hiện của ngành hàng không dân dụng. Thế giới trở nên nhỏ bé hơn và khoảng cách địa lý gần như chỉ tồn tại trên bản đồ. Trong lịch sử ngành hàng không, ngoài thành tựu cột mốc của anh em Wright, còn phải kể đến công sức nhiều người khác.

William Edward Boeing

Như huyền thoại công nghiệp máy tính Bill Gates, William E. Boeing cũng bỏ dở đại học. Bắt đầu sự nghiệp trong khi hoàn toàn không biết gì về cơ khí máy bay, William E. Boeing đã dựng lên một doanh nghiệp mà sau này trở thành nhà sản xuất máy bay đứng đầu thế giới. Sinh năm 1881 trong gia đình một doanh nhân công nghiệp gỗ giàu có, William E. Boeing nghỉ ngang Đại học Yale năm 1903 và theo đuổi con đường kinh doanh như cha. Với công ty gỗ tại bang Washington, Boeing làm ăn thành công. Vài năm sau, khi học lái máy bay tại Los Angeles, Boeing bắt đầu mê hàng không. Từ lần đầu tiên lái máy bay năm 1914, Boeing bị ám ảnh bởi giấc mơ tự mình chế tạo con chim sắt. Tin rằng có thể làm ra chiếc máy bay tốt nhất thời điểm đó, Boeing mời kỹ sư George Conrad Westervelt (người thiết kế cho hãng xe B&W) dựng bản vẽ mô hình thuỷ phi cơ. Từ thành công trên, Boeing quyết định thành lập công ty Pacific Aero Products và sau đó đổi tên thành công ty máy bay Boeing. Năm 1917, khi biết hải quân Mỹ cần máy bay cho Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt là thuỷ phi cơ, Boeing gửi máy bay của mình đến Florida để hải quân Mỹ thử nghiệm. Kết quả, đơn đặt hàng đầu tiên với 50 thuỷ phi cơ ra đời.

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc và quân đội Mỹ giảm nhu cầu máy bay, William E. Boeing phải trở lại nghề mộc (sản xuất nhiều mặt hàng sinh hoạt, giường, tủ, thuyền...). Dù vậy, hàng không vẫn là đam mê lớn nhất của Boeing. Ông tiếp tục đổ dồn công sức và thời gian cho nghiên cứu máy bay, đặc biệt là máy bay dân dụng. Ngày 3/3/1919, ông cùng phi công Eddie Hubbard bay trên chiếc máy bay thương mại đầu tiên (được đặt tên B-1), từ Seattle (Mỹ) đến Vancouver (Canada), thiết lập tuyến bay thư tín quốc tế đầu tiên trên thế giới. Năm 1927, Boeing vượt qua tất cả đối thủ và giành được hợp đồng phát thư giữa San Francisco và Chicago. Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển thư tín tăng nhanh, Boeing sản xuất máy bay vận tải 40-A và thành lập Boeing Air Transport (BAT).

Cuối thập niên 1920, Boeing đã trở thành một trong những công ty đứng đầu Mỹ về sản xuất máy bay. Năm 1934, khi chính phủ Roosevelt thông qua luật chống độc quyền (cấm các hãng vận chuyển thư tín hàng không nằm trong cùng công ty sản xuất máy bay), hoạt động thư tín hàng không của Boeing bị huỷ và Boeing phải chia doanh nghiệp thành nhiều công ty nhỏ. Dù vậy, trước khi qua đời năm 1956, Boeing đã xây dựng được một vương quốc khổng lồ, đưa công ty mình bước vào kỷ nguyên hàng không phản lực, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Boeing tung ra hàng trăm máy bay ném bom B-17 Flying Fortress và sau đó là B-52 Stratofortress. Đến nay, Boeing vẫn là nhà sản xuất máy bay lớn nhất thế giới. Công ty không chỉ chế tạo máy bay dân dụng mà còn sản xuất nhiều sản phẩm kỹ thuật quân sự, từ máy bay chiến đấu F/A-18 Hornet, trực thăng AH-64 Apache đến tên lửa Harpoon... Ở lĩnh vực hàng không dân dụng, Boeing tiên phong tung ra dòng máy bay jumbo (khổng lồ) với các thế hệ 727, 737, 747... Ở lĩnh vực không gian, Boeing chính là nơi sản xuất tên lửa đẩy Saturn đưa tàu vũ trụ Apollo lên mặt trăng...

Donald Douglas

Nổi tiếng không kém William E. Boeing, Donald Douglas cũng để lại dấu ấn đậm nét trong trang sử hàng không thế giới. Là con một thư ký ngân hàng người Scotland, Douglas thoạt đầu mê thuyền chứ không phải máy bay. Sau ba năm tại Học viện Hải quân Mỹ, Douglas chuyển đến Viện kỹ thuật Massachusetts (MIT) với chuyên ngành cơ khí hàng không. Douglas bắt đầu mê lĩnh vực chế tạo máy bay khi chứng kiến thành công của anh em nhà Wright. Từ lúc xem Orville Wright biểu diễn chiếc Flyer tại Fort Myer (bang Virginia) trước mặt giới chức quân đội Mỹ vào năm 1908, Douglas thật sự bị hàng không cuốn hút. Sau khi tốt nghiệp MIT và làm việc cho vài công ty, Douglas thành lập hãng riêng. Năm 1920, với 600 USD, Douglas đưa gia đình đến nam California, nơi thời tiết quanh năm thuận lợi cho thử nghiệm máy bay. Bắt đầu từ số vốn hỗ trợ 40.000 USD của người bạn David R. Davis, Douglas phác thảo mô hình máy bay Cloudster rồi khẳng định vị trí của mình trước đối thủ Boeing khi giành được hợp đồng sản xuất máy bay ném bom cho hải quân Mỹ. Công ty Douglas Aircraft chính thức ra đời.

Trong vài thập niên liên tiếp, cùng Boeing, Douglas Aircraft là nhà sản xuất máy bay dân dụng hàng đầu của Mỹ. Máy bay thương mại thành công nhất sản xuất từ Douglas Aircraft là chiếc DC-3. Tung ra năm 1936, DC-3 được nhiều người xem là ông tổ của máy bay dân dụng hiện đại. Đến cuối thập niên 1930, hơn 90% hành khách máy bay tại Mỹ đều sử dụng DC-3. Douglas ngồi ghế chủ tịch Douglas Aircraft đến năm 1957 và tham gia ban điều hành cho đến năm 1967, khi công ty sáp nhập với McDonell Aircraft để trở thành tập đoàn McDonell Douglas. 30 năm sau, 1997, McDonell Douglas sáp nhập vào Boeing.

Trong lĩnh vực hàng không dân dụng, một gương mặt nổi tiếng nữa là Juan Trippe, người mà báo Time trong ấn bản tổng kết thế kỷ 20 đánh giá là nhân vật "đóng góp quan trọng nhất cho công nghiệp hàng không dân dụng thế kỷ 20". Sáng lập hãng hàng không dân dụng Pan American Airways (Pan Am), Juan Trippe chính là nhà doanh nghiệp đầu tiên trên thế giới lập ra công thức kiểu mẫu cho kinh doanh hàng không dân dụng.

Frank Whittle

Sinh năm 1907 trong gia đình lao động tại Coventry (Anh), Frank Whittle thích máy bay từ hồi còn chập chững. Món đồ chơi ưa thích của cậu bé Whittle 4 tuổi là mô hình chiếc Bleriot XI. Mê trở thành phi công, Whittle gia nhập không quân Hoàng gia Anh (RAF) năm 15 tuổi (thoạt đầu bị từ chối nhưng được nhận vào 6 tháng sau, khi đạt chiều cao tiêu chuẩn). Tại RAF, Whittle là thợ học việc, trong khi chỉ 1% thợ học việc có cơ may trở thành sĩ quan thực thụ. Tuy nhiên, với năng khiếu toán học siêu việt, Whittle được chú ý và cuối cùng được chọn vào Đại học sĩ quan RAF. Tại đây, khi mới 21 tuổi, Whittle đã tạo ra bước ngoặt cho lịch sử hàng không với công trình nghiên cứu thành công động cơ phản lực.

Không như khi bay thấp, máy bay ở độ cao có thể bay nhanh và xa hơn, do ít bị ảnh hưởng của chấn động không khí. Tuy nhiên, khi cánh quạt nâng máy bay lên cao, động cơ piston lại bắt đầu hoạt động kém, bởi không khí loãng. Để vượt qua trở ngại trên, Whittle thiết kế cỗ máy nén không khí với buồng đốt trong, tạo ra luồng khí nóng làm quay turbine để có thể đưa máy bay không chỉ vọt lên cao mà còn bay nhanh. Whittle thuyết phục Bộ hàng không Anh nghiên cứu - chế tạo máy bay phản lực nhưng bị khước từ. 9 năm sau, khi nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ 2 lan rộng, bộ hàng không Anh mới tài trợ dự án chế tạo máy bay phản lực (đó cũng là thời điểm Whittle thành lập công ty riêng Power Jets).

Tuy nhiên, sự chậm chạp của Anh đã khiến Đức qua mặt với tuyên bố là quốc gia đầu tiên chế tạo và ứng dụng máy bay phản lực (chiếc Heinkel He 178, bay ngày 2/8/1939, với động cơ phản lực HeS 38). Thật mỉa mai, trong khi sáng chế Whittle bị bỏ xó tại Anh, ở Mỹ, người ta đánh giá rất cao tính thực tiễn của ứng dụng động cơ phản lực. Tệ hơn, London còn ra lệnh quốc hữu hoá công ty Power Jets của Whittle, sau khi hãng Rolls Royce tuyên bố họ đủ sức chế tạo động cơ phản lực. Mãi đến sau chiến tranh, khi muộn màng nhận ra tính độc đáo của kỹ thuật phản lực, chính phủ Anh mới trao giải thưởng Nhà sáng tạo cho Whittle cùng số tiền 100.000 bảng vào năm 1946. Whittle chia số tiền trên cho các nhân viên từng làm việc với mình tại Power Jets. Năm 1948, vua George VI phong Whittle tước hiệp sĩ. Đến lúc đó, người ta không còn có thể phủ nhận tầm quan trọng của động cơ phản lực. Với kỹ thuật tiên phong trong động cơ phản lực, Frank Whittle đã mở đầu cho kỷ nguyên hàng không dân dụng liên lục địa, tiết kiệm tiền cũng như thời gian cho những chuyến du hành thế giới, không chỉ cho hoạt động du lịch mà còn thương mại và mậu dịch...

Anh em Wright và sự khởi đầu kỷ nguyên hàng không

10h30’ sáng 17/12/1903, Orville Wright đã trở thành phi công đầu tiên trên thế giới với chuyến bay lịch sử kéo dài vỏn vẹn 12 giây vượt 91,44 mét. Wilbur Wright đứng nhìn với chiếc đồng hồ bấm giờ. Địa điểm thử nghiệm là Kill Devil Hills, gần Kitty Hawk, thuộc Bắc Carolina (Mỹ).

Sau 4 năm với nhiều mô hình, từ diều đến máy bay cánh lượn không động cơ, anh em Wright đã mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử hàng không thế giới.

Hai người đã mất hơn 2 năm để chế tạo và thử nghiệm thành công chiếc máy bay có động cơ và được điều khiển đầu tiên. Tháng 9/1901, trong buổi nói chuyện trước Hiệp hội kỹ sư miền Tây Mỹ tại Chicago, Wilbur Wright cho rằng khó khăn lớn nhất là “sự cân bằng và kỹ thuật lái cỗ máy sau khi nó thật sự ở trên không trung”.

Công trình của hai anh em bắt đầu từ phác thảo của kỹ sư Đức Otto Lilienthal, người từng thực hiện hàng nghìn chuyến bay bằng các mô hình cánh lượn do ông thiết kế. Rút kinh nghiệm từ mô hình của Otto Lilienthal, anh em Wright nảy ra ý nghĩ rằng nếu đầu cánh được uốn cong, sự cân bằng và điều khiển máy bay có thể được thực hiện. Tháng 8/1899, anh em Wright hoãn kinh doanh công nghiệp chế tạo xe đạp đang phát triển tại Dayton (Ohio) và bắt đầu chế tạo chiếc diều nhỏ để kiểm tra lý thuyết của mình. Họ mang chiếc diều thí nghiệm đến Kitty Hawk, nơi có sức gió ổn định thổi từ Đại Tây Dương và có nhiều đụn cát to giúp giảm thiểu nguy cơ thương tật khi diều rơi. Thí nghiệm thành công và anh em Wright chế tạo chiếc diều to hơn. Để hoàn thiện thiết kế cánh, họ thử hơn 60 mẫu và cuối cùng chọn mẫu cánh hẹp và dài. Ngoài ra, họ còn làm thêm cặp đuôi đứng để cân bằng hướng bay. Với mô hình trên, phi công phải nằm sấp và dùng tay giật dây để điều khiển cánh cũng như lái hướng bay.

Từ máy bay cánh lượn, anh em Wright bắt đầu chế tạo mô hình có động cơ. Hầu hết động cơ thời đó đều quá nặng nên hai người phải nghiên cứu động cơ của riêng mình, dùng hợp kim nhôm - đồng. Để chọn hình dáng thích hợp cho cánh quạt, họ tiếp tục chui vào hầm tránh gió tại Kitty Hawk để mày mò với nhiều bản vẽ. Cuối cùng cánh quạt ra đời, được lắp sau máy bay và quay theo hướng ngược đường bay để chống lại hiệu ứng mômen xoắn. Với mô hình trên, anh em Wright đến Kill Devil Hills vào ngày 17/12/1903, đưa chiếc máy bay có tên Flyer 1 lên đường ray phóng. Sau khi tung đồng xu chọn người lái đầu tiên, Orville leo lên máy bay, khởi động. Thí nghiệm thành công! Chuyến bay có động cơ được điều khiển đầu tiên trong lịch sử hàng không thế giới đã được thực hiện.

Trong ngày đó, anh em Wright tiến hành thêm 3 chuyến bay nữa và lần dài nhất kéo dài 57 giây, bay xa hơn nửa dặm.

Để được công nhận

Làm thế nào thế giới biết được tin này? Anh em Wright gửi điện tín, yêu cầu người em là Lorin thông báo cho tờ báo địa phương Dayton Journal. Khi nghe Lorin thuật chuyện, một phóng viên AP trả lời: “57 giây hả? Nếu là 57 phút thì còn có chuyện để mà bàn!”. Dù vậy, chuyến bay cũng xuất hiện trên tờ Dayton Journal, ở mục chuyện vặt đó đây. Trước khi Orville và Wilbur Wright trở về nhà dự Giáng sinh, gần như không còn ai quan tâm đến thí nghiệm của họ nữa. Một nhân chứng tên là Amos Ives Root đã viết lại những gì mình nhìn thấy và bài báo được đăng trên tờ Gleanings in Bee Culture vào ngày 1/1/1905. Tuy nhiên, báo chí Mỹ tiếp tục lạnh nhạt. Đơn giản, người ta không tin. Thậm chí, sau khi nhận được thư của anh em Wright, trong ấn bản đề ngày 13/1/1906, tờ Scientific American còn đăng hàng tít Chiếc máy bay Wright và cuộc trình diễn hoang đường.

Không có triển vọng bán được mô hình Flyer tại Mỹ, anh em Wright viết thư gửi một loạt chính phủ châu Âu và đích thân sang Anh, Pháp, Đức mở cuộc vận động. Đến năm 1908, công chúng mới thật sự biết đến kỳ kích của họ. Nói một cách công bằng, sự chậm trễ trong việc đánh động sự quan tâm của công chúng cũng có phần lỗi của anh em Wright. Một người quen tên là Octave Chanute từng giục họ cho phép ông thông báo cho các hãng thông tấn thế giới, nhưng anh em Wright từ chối, vì sợ rằng sáng chế có thể bị đánh cắp. Thay vì công bố phát minh, hai người tập trung vào việc xin cấp bản quyền và dồn công sức tiếp tục nghiên cứu.

Tháng 5/1905, khi chuẩn bị thử nghiệm mô hình máy bay mới tại Huffman Praire gần Dayton (Ohio), anh em Wright mời phóng viên viết khu vực Dayton và Cincinnati nhưng vẫn chưa mời phóng viên ảnh. Thật không may, trong lần thử nghiệm này họ lại thất bại, chỉ “lướt” trong không trung vỏn vẹn 1 giây. Tháng 2/1906, ấn bản phát hành tại Paris của tờ New York Herald đã chỉ trích hết lời, trong đó có đoạn “Anh em Wright đã thật sự bay hoặc chưa hề bay… Họ là phi công thực thụ hoặc đơn giản là một bọn bốc phét. Bay là chuyện rất khó. Thật dễ dàng khi nói rằng Chúng tôi đã bay”…

Cuối cùng ngày 22/5/1906, anh em Wright được cấp bằng sáng chế. Đó cũng là năm mà một người Brazil tên là Albertos Santos-Dumont bay được 222 mét. Báo chí Pháp nhiệt liệt hoan hô người này, trong khi phớt lờ nguồn tin rằng anh em Wright từng bay được 40 km vào một năm trước đó. Tháng 10/1907, khi Henri Farman bay được 750 mét, giành giải Archdeacon Cup, báo chí càng bỏ quên Orville và Wilbur Wright. Phẫn chí nhưng quyết tâm hơn, anh em Wright tuyên bố họ tiếp tục nghiên cứu chế tạo mô hình máy bay mới, đồng thời bắt đầu liên hệ với quân đội Mỹ và một công ty Pháp. Mùa hè năm 1908, anh em Wright thông báo họ sẵn sàng cho hai cuộc thử nghiệm: một tại Fort Myer gần Wasington DC và một tại Les Hunaudìeres (Pháp). Wilbur Wright thực hiện cuộc thử nghiệm tại Pháp trước. Ngày 5/8/1908, trước sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có cả giới chức Pháp, ông đã lái 9 lần với các vòng lượn rộng và biểu diễn kỹ năng điều khiển máy bay. Lần lượn lâu nhất kéo dài 8 phút 13 giây. Thành tích của anh em Wright lần đầu tiên được nhìn nhận ngoài phạm vi nước Mỹ.

Mở đường cho ngành hàng không

Tiếp theo cuộc biểu diễn của Wilbur tại Pháp, tháng 9 năm đó, Orville Wright thực hiện thí nghiệm tại Fort Myer với một loạt chuyến bay thành công. Vài ngày sau, một thảm họa xảy ra. Ngày 17/9/1908, khi cất cánh cùng trung uý Thomas Selfridge, Orville Wright thực hiện 3 cú đánh vòng và bất ngờ máy bay rơi. Orville bị thương nặng, còn Selfridge tử vong. Tuy nhiên, sự cố không làm giảm tiếng tăm của hai nhà sáng chế. Mùa thu năm 1909, anh em Wright đã làm chấn động nước Mỹ khi hàng triệu người chứng kiến màn lượn máy bay vòng quanh cảng New York, quanh tượng Nữ thần Tự do và vài ngày sau người ta lại thấy họ lướt trên mặt sông Hudson.

Từ tháng 9/1909 đến cuối năm 1910, họ nhận được hơn 350.000 đôla từ các hợp đồng và tiền bản quyền. Trong năm 1910, kỹ thuật máy bay nói chung đạt nhiều thành tích. Người ta bắt đầu bay được 390 km trong 6 giờ 32 phút, đạt độ cao 2.650 m và động cơ từ 25 mã lực được nâng lên 100 mã lực.

Thập niên 1920, anh em Wright tham gia đào tạo phi công. Như vậy, họ không chỉ là những người phát minh ra mô hình máy bay hiện đại, mà cũng là những người thày dạy lái máy bay đầu tiên.

Ngày 30/5/1912, Wilbur qua đời bởi bệnh thương hàn khi mới 45 tuổi. Người em Orville một mình điều hành công ty Wright. Hàng không bắt đầu trở thành ngành công nghiệp đầy triển vọng. Đó cũng là lúc Orville dính vào nhiều vụ kiện liên quan đến việc bản quyền của anh em ông bị đánh cắp tại châu Âu. Mệt mỏi, Orville từ bỏ vị trí chủ tịch Công ty Wright. Ngày 30/1/1948, Orville từ trần ở tuổi 77. May mắn hơn Wilbur, Orville đã chứng kiến phát minh của anh em mình được sử dụng trong hai cuộc chiến tranh thế giới và cũng nhìn thấy tương lai sáng lạn của máy bay trong ngành hàng không dân dụng.