NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Liên kết ngân hàng : Vai trò Ngân hàng Nhà nước ở đâu ?

Thông thường, những ngân hàng mạnh về dịch vụ thẻ, về thương hiệu, về dịch vụ chưa sẵn sàng chia sẻ thị phần, công nghệ... với ngân hàng khác. Người ta cho rằng ngân hàng Nhà nước đang đứng ngoài cuộc, hầu như không có vai trò gì, cũng như không làm được việc gì để thúc đẩy các ngân hàng hợp tác kết nối hệ thống máy ATM với nhau.

Ngân hàng thương mại : Mạnh ai, nấy liên kết

Khi thị trường thẻ ATM phát triển, thì việc thẻ của ngân hàng nào chỉ dùng được trong hệ thống máy ATM của ngân hàng đó đã làm hạn chế hiệu quả và tiện ích cho người sử dụng, hạn chế tốc độ phát hành và thanh toán bằng thẻ. Bởi vậy, nhu cầu nối mạng sử dụng chung hệ thống máy ATM giữa các ngân hàng thương mại ở VN đang có xu hướng tăng lên. Hiện chúng ta đã có 4 mạng liên kết độc lập.

Từ đầu tháng 08/2004, mạng Banknet của Công ty chuyển mạch tài chính quốc gia (BankNet) đã khai trương, với thành viên là 8 Ngân hàng thương mại, trong đó quy tụ cả 3 Ngân hàng thương mại Nhà nước có quy mô lớn là ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN, Ngân hàng Công thương và Ngân hàng đầu tư phát triển. Đến nay, BankNet có 1.600 máy ATM, 5.000 đơn vị chấp nhận thẻ và 1,8 triệu thẻ đã phát hành. Dự kiến đến cuối năm 2006, BankNet sẽ có 2.000 máy ATM, 9.000 đơn vị chấp nhận thẻ và 3 triệu thẻ.

Theo kế hoạch, đến cuối năm 2005, BankNet sẽ kết nối toàn bộ các máy ATM của 8 Ngân hàng thành viên, song sau đó lại điều chỉnh kế hoạch sang đầu năm 2006, rồi lại chuyển sang tháng 6-2006 và mới nhất là đến cuối tháng 09-2006, khách hàng sử dụng thẻ của 8 Ngân hàng thương mại có quy mô lớn thuộc Công ty này có thể thực hiện rút tiền mặt, thanh toán qua hệ thống máy ATM của các Ngân hàng thương mại này. Tiếp đó mở ra tất cả các Ngân hàng thương mại thành viên khác.

Song đến nay đã là giữa tháng 10/2006 mà vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Trước đó, người ta đổ lỗi "vì cán bộ". Nhưng, sau khi BankNet thay Tổng Giám Đốc mà tình hình vẫn không chuyển biến được là bao. Hiện nay thì người ta đổ tội do kỹ thuật, do các Ngân hàng không chịu hợp tác với nhau.v.v... Một số chuyên gia NH thậm chi bi quan cho rằng BankNet đang đứng trên bờ vực phá sản.

Bên cạnh đó là liên kết của 9 Ngân hàng thương mại là Vina Bank, Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) kỹ thương, Ngân hàng thương mại cổ phần nhà ngân hàng , Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội, Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam - Eximbank, Ngân hàng liên doanh Lào – Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế, Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam cũng kết nối mạng hệ thống thanh toán thẻ của mình với Ngân hàng ngoại thương VN (Vietcombank). Đây là Ngân hàng thương mại đang dẫn đầu về cạnh tranh trên thị trường thẻ nước ta hiện nay. Tới đây Ngân hàng ngoại thương VN sẽ kết nối mạng ATM với 7 Ngân hàng còn lại trong liên minh thẻ (bao gồm 15 ngân hàng thương mại do Ngân hàng ngoại thương VN chủ trì). Đây là mạng liên kết lớn nhất và đang hoạt động hiệu quả.

Một mạng liên kết khác là giữa các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại VN: ANZ Bank với Ngân hàng Sài Gòn Thương tín(Sacombank) và Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam.

Và mới đây nhất là mạng BankCard – VNBC hoạt động từ đầu năm 2005 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á và Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương. Mạng này đã kết nối với VNBC của Trung Quốc. Hai ngân hàng này hiện có trên 400.000 khách hàng sử dụng thẻ tại gần 120 chi nhánh và điểm giao dịch, 300 máy ATM và hơn 600 điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ trong toàn quốc. Đến cuối năm 2005, BankCard có thêm 2 thành viên là Ngân hàng thương mại cổ phần Hà Nội và Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Dự kiến cuối năm 2006 VNBC sẽ kết nạp thêm hai thành viên mới là VP Bank và Ngân hàng thương mại Cổ Phần Hàng Hải.

Ngân hàng nhà nước đứng ngoài các cuộc liên kết ?

Như vậy 4 mạng liên kết Ngân hàng đang hoạt động khá độc lập. Vấn đề đặt ra là cần có một mạng liên kết chung thống nhất giữa toàn bộ các ngân hàng ở nước ta, để đảm bảo hiệu quả chung cho hoạt động của các Ngân hàng và tiện lợi cho khoảng 5 triệu khách hàng sử dụng thẻ, hàng trăm siêu thị và trung tâm thương mại, các điểm bán hàng và dịch vụ. Người ta cho rằng Ngân hàng Nhà nước đang đứng ngoài cuộc, hầu như không có vai trò gì, cũng như không làm được việc gì để thúc đẩy các ngân hàng hợp tác kết nối hệ thống máy ATM với nhau.

Trong khi đó Trung Quốc chỉ thành lập một công ty hợp tác chuyên doanh thẻ: China UnionPad, do các Ngân hàng thương mại khác nhau là cổ đông. Phí thu từ dịch vụ thẻ của khách hàng một phần được trả cho các Ngân hàng thương mại phát hành thẻ đó và thanh toán, còn lại trả cho công ty liên doanh thẻ. Tập đoàn China UnionPad tham gia vào liên minh thẻ VietNam Bank Card – VNBC nói trên.

Tại VN, khách hàng sử dụng thẻ chủ yếu để rút tiền mặt qua hệ thống ATM, còn dịch vụ thanh toán, chuyển tiền phát triển chưa mạnh. Do đó việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt qua nghiệp vụ thẻ còn hạn chế. Vấn đề này cũng thể hiện sự yếu kém của Ngân hàng Nhà nước.

Đâu là giải pháp

Thời gian qua, dịch vụ thẻ của các Ngân hàng thương mại VN vẫn tịnh tiến theo 3 giai đoạn phát triển có tính chất truyền thống về dịch vụ này: Các Ngân hàng tự phát triển; liên kết từng nhóm Ngân hàng đơn lẻ. Còn giai đoạn thứ ba "hợp nhất các hệ thống ATM và hệ thống thẻ trong một mạng thống nhất" là giai đoạn khó khăn và các Ngân hàng vẫn còn đang lúng túng.

Ngoài các yếu tố kỹ thuật thì một trong những lực cản lớn của sự hợp tác, liên kết về thẻ đó là cạnh tranh của từng Ngân hàng . Thông thường, những Ngân hàng mạnh về dịch vụ thẻ, về thương hiệu, về dịch vụ chưa sẵn sàng chia sẻ thị phần, công nghệ... với Ngân hàng khác.

Về công nghệ kết nối mạng ATM, theo đánh giá, phân tích của giới chuyên môn về công nghệ thẻ, thì mạng liên kết hệ thống máy ATM do Vietcombank đứng đầu hiện nay là mô hình liên kết kiểu hình tháp, hay còn gọi là mạng ứng dụng mối liên kết hàng dọc. Các Ngân hàng trong khu vực đã thực hiện mô hình này từ đầu thập kỷ 80.

Theo một chuyên gia VN làm việc trong một chi nhánh Ngân hàng nước ngoài thì, ưu điểm của mô hình nói trên là chi phí tương đối thấp. Bất kỳ một Ngân hàng thương mại có quy mô lớn hoặc có tiềm lực tài chính đều có thể tiến hành đầu tư mạnh, sau đó các Ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ sẽ kết nối vào. Nhưng nhược điểm là bộ phận chuyển mạch chỉ ở một điểm, vì vậy khi một đầu mối của một Ngân hàng thương mại bị trục trặc, bị quá tải, bị tê liệt thì toàn bộ mạng liên kết cũng sẽ tê liệt theo.

Thực tế mạng ATM của Vietcombank đã từng xảy ra sự cố vào năm 2004. Đồng thời nếu chỉ sử dụng dịch vụ rút tiền tự động qua máy ATM thì mạng này thuận lợi, nhưng nếu phát triển các sản phẩm mới thì chỉ có Ngân hàng thương mại đầu mối làm được còn các Ngân hàng thương mại nhỏ kết nối vào sẽ gặp khó khăn. Còn mạng liên kết ATM của Công ty chuyển mạch tài chính quốc gia thì vẫn đang trong quá trình lựa chọn.

Theo đánh giá của một số chuyên gia về công nghệ thẻ, thì hiện nay Trung Quốc sử dụng công nghệ kết nối mạng ATM theo mô hình liên kết kiểu ngôi sao, bộ chuyển mạch nằm ở mọi điểm. Nếu một điểm bị trục trặc do quá tải hay các lỗi kỹ thuật khác, thì mạng tự động chuyển sang điểm kết nối khác. Một ngân hàng bị quá tải thì đã có ngân hàng khác chia sẻ. Trung Quốc mất 17 năm triển khai dịch vụ thẻ liên kết nói trên, với số vốn đầu tư 22 tỷ USD trong điều kiện dân số 1,3 tỷ người.

Hiện ở nước ta, các chương trình phần mềm cho hoạt động dịch vụ nói chung và hoạt động thanh toán, giao dịch một cửa, quản lý nói riêng vẫn là mạnh Ngân hàng nào thì Ngân hàng đó thuê và mời nhà cung cấp khác nhau, từ nhiều quốc gia khác nhau, không có một tiêu chuẩn, một nhà tư vấn chung. Có Ngân hàng chọn giải pháp ngân hàng đa năng của một công ty Thuỵ Sỹ, lại có ngân hàng chọn giải pháp của Công ty đến từ Malaysia, từ Hàn Quốc, từ Singapore.v.v...

Yêu cầu nâng cấp và phát triển mạng viễn thông ở VN đang hết sức cấp bách, cần có sự quan tâm đúng mức của ngành bưu chính viễn thông VN trong tiến tình hội nhập quốc tế. Nhu cầu kết nối mạng ATM, để khách hàng sử dụng thẻ của một Ngân hàng phát hành có thể rút tiền tại bất cứ một Ngân hàng nào khác cũng hết sức cấp thiết vì nhu cầu và tiện ích đối với khách hàng.

Các Ngân hàng thương mại cần cạnh tranh trong thu hút khách hàng, cung cấp dịch vụ thẻ tiện ích nhưng cần hợp tác đem lại sự thuận tiện cho khách hàng và hiệu quả sử dụng hệ thống máy móc, thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi Ngân hàng. Tất cả vì sự phát triển chung của thị trường thẻ VN và sự văn minh về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Cạnh tranh có hợp tác, hợp tác thúc đẩy cạnh tranh vì sự vững mạnh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

Nguyễn Hà