NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Phát biểu của Gs Marginson về Đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam

Tham gia hội thảo ‘Kết nối Việt Nam’ tại Đại học Monash vừa qua, Giáo sư Simon Marginson thuộc Đại học Melbourne, đã có buổi thuyết trình về vấn đề xây dựng trường đại học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển. Mặc dù nổi lên như một con hổ mới của Châu Á và luôn được các nhà quan sát quốc tế đánh giá cao về sức mạnh dân tộc cùng với tiềm năng con người nhưng vẫn tồn tại những trở ngại mà Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua được nếu tạo được những thay đổi trong giáo dục bậc đại học. Vì vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra quyết định phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020 với mục tiêu năm 2020 sẽ có một trường đại học Việt Nam được xếp hạng trong số 200 trường đại học hàng đầu thế giới.

Theo Giáo sư Marginson, về cơ bản đây là một mục tiêu đúng đắn. Tuy nhiên, trước khi trả lời cho câu hỏi làm thế nào để xây dựng được một trường hay một nhóm đại học nằm trong danh sách 200 trường đại học hàng đầu thế giới, cần phải xác định sẽ sử dụng hệ thống đánh giá nào và những tiêu chí nào để đạt được thứ hạng này. Từ đó, xem xét tính thực tế của mục tiêu này.

Trường đại học đẳng cấp quốc tế ?

Giáo sư Margison đề nghị sử dụng hệ thống đánh giá các trường đại học quốc tế của Đại học Giao thông Thượng Hải. Hệ thống xếp hạng này có uy tín nhất vì kết quả của nó khách quan và được công bố rộng rãi. Các trường đại học không thể can thiệp vào kết quả xếp hạng. Đây được coi là danh sách những trường có khả năng tốt nhất về nghiên cứu và có chính sách quản lý hiệu quả nhất.

Hai tiêu chuẩn đầu tiên để đạt được thứ hạng cao trong bảng xếp hạng này phụ thuộc vào số giải thưởng Nobel mà các giáo sư ở đây đạt được đồng thời phải có giải Nobel về giáo dục. Giải thưởng Nobel hòa bình hay văn học không được tính đến. Điều đầu tiên có thể thấy được là chưa có một giải thưởng Nobel về khoa học hay kinh tế nào từ trước tới nay thuộc về những nước đang phát triển. Việt Nam khó có thể tạo được một thay đổi bất ngờ trong tương lai ở tiêu chuẩn này.

Yêu cầu thứ ba liên quan đến số lượng các nhà nghiên cứu có các đề tài được trích dẫn trong những tạp chí nghiên cứu hàng đầu của thế giới bằng tiếng Anh (nhà nghiên cứu HiCi). Chỉ có hai nước Châu Á là Nhật Bản và Isarel là có số lượng lớn những nhà nghiên cứu HiCi. Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc - những con hổ của Châu Á hứa hẹn sẽ càng ngày càng tạo nên nhiều những nhà nghiên cứu HiCi trong tương lai. Còn Việt Nam, để đạt được số lượng những nhà nghiên cứu HiCi đáng kể thì cần phải có một mức lương đáng cạnh tranh, điều kiện làm việc và các phương tiên kỹ thuật hiện đại mới có thể giữ chân họ.

Điều kiện thứ tư và thứ năm lại là ở số lượng các nghiên cứu khoa học được xuất bản trong những tạp chí hàng đầu như ‘Sience’ và ‘Nature’ cũng như được trích dẫn trong các nghiên cứu khác trên thế giới. Với khoảng chưa đầy 200 nghiên cứu được xuất bản trên các tạp trí chuyên ngành của thế giới thì Việt Nam không ở thế cạnh tranh về số lượng nghiên cứu trong bảng xếp hạng này được. Nếu có một mức đầu tư như kiểu Trung Quốc thì cũng phải mất 5-10 năm sau số lượng những nghiên cứu được xuất bản mới có thể tăng lên được và cả một thập kỷ sau đó mọi người mới biết đến chúng để trích dẫn.

Cuối cùng, tất cả kết quả của năm yêu cầu về hoạt động nghiên cứu ở trên sẽ được đánh giá trên tổng số nhân viên của đại học đó. Điều này nhằm tránh thiên vị đối với các trường đại học có quy mô rất lớn.

Nếu xét trên sáu tiêu chuẩn trong bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, chúng ta có thể thấy rõ cơ hội Việt Nam đạt được mục tiêu nằm trong danh sách 200 trường đại học hàng đầu của thế giới là rất ít. Giáo sư Margison cho biết thêm là ngay cả với sự đầu tư của Trung Quốc và Hàn Quốc thì mục tiêu lọt vào danh sách 200 trường đại học hàng đầu thế giới xét theo hệ thống đánh giá của Đại học Giao thông cũng không khả thi.

Có rất ít các nước đang phát triển có tên trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu của Đại học Giao thông Thương Hải là Mexico, Brazil và Ấn Độ. Vì vậy một mục tiêu khả thi hơn nhưng cũng không kém phần khó khăn để thực hiện là Việt Nam có mặt trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu của Đại học Giao thông vào năm 2025-2030.

Lời khuyên cho Việt Nam

Theo Giáo sư Marginson, để tạo tiền đề cho kế hoạch xây dựng đại học có chất lượng nghiên cứu quốc tế, đòi hỏi đầu tiên mà Việt Nam phải thực hiện được là làm sao lôi kéo được hầu hết những nghiên cứu sinh, tiến sĩ từ Mỹ và Châu Âu trở về. Điều này có nghĩa là các trường sẽ phải đảm bảo chế độ lương gần với mức của Mỹ để giữ chân họ lại hay tạo được những điều kiện làm việc cho các giáo sư nước ngoài giống như Singapore đã thực hiện. Tuy nhiên, Singapore cũng gặp nhiều khó khăn để giữ những cộng sự nước ngoài trong thời gian dài và đủ để có thể tạo ra những tác động lớn đến ngành nghiên cứu của nước này.

Để tạo được một nền tảng vững chắc cho đại học chất lượng cao thì cần cải cách từ cốt lõi hệ thống tổ chức của đại học cũng như trong văn hóa giảng dạy nhưng vẫn phải gìn giữ những giá trị truyền thống của quốc gia. Một trong những thế mạnh của nền giáo dục Việt Nam là mặc dù thiếu sự đầu tư về tài chính nhưng chất lượng các nghiên cứu sinh luôn rất đáng ngưỡng mộ. Giáo sư Marginson cho biết các nghiên cứu sinh người Việt tại trường ông thường là những người giỏi nhất và đội ngũ này rất đồng đều. Các sinh viên Trung Quốc cũng giỏi nhưng không có sự đồng đều như Việt Nam. Hơn thế nữa, Việt Nam có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo từ lâu đời. Giáo viên tại Việt Nam được kính trọng hơn nhiều so với ở Úc và vì vậy nghề này thu hút được sự tham gia của tầng lớp trí thức xét trên mọi mặt. Mức thu nhập rất quan trọng vì ở đâu thì chúng ta vẫn có nỗi lo ‘cơm áo gạo tiền’. Tuy nhiên, địa vị nghề nghiệp trong xã hội cũng quan trọng đối với người Việt Nam, đặc biệt là đối với nghề giáo. Đây là một tài sản vô giá. Không nên xóa bỏ những giá trị như vậy để theo đuổi một hệ thống giá trị hiện đại theo mô hình quốc tế hay như của nước Mỹ. Cần dùng những giá trị này để phát triển giáo dục và hiện đại hóa những giá trị và quan niệm này để làm nền tảng xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục.

Đầu tư cho những trường đại học tập trung vào nghiên cứu khoa học tại Việt Nam không thể tách biệt với những cấp bậc khác trong giáo dục đào tạo. Cần có sự phát triển từ cấp tiểu học trở lên bởi một điều đơn giản là chúng ta cần đầu vào cho những trường đại học đấy và cũng cần đảm bảo số lượng này trong thời gian dài. Cũng không nên tách rời khoa học nghiên cứu với giáo dục dạy nghề vì đây là nguồn nhân lực cho thị trường kinh tế.

Để đạt được một chiến lược phát triển đào tạo và nghiên cứu tại bậc đại học toàn diện, điều quan trọng là phải xác định được nhiệm vụ trọng tâm đi đôi với việc tạo ra một khung chính sách để các trường đại học có thể thực hiện những nhiệm vụ của nó một cách tự chủ nhất. Để đạt được này thì quan trọng hơn hết là cần có một bộ máy chính phủ hiện đại và liên kết chặt chẽ với nhau. Tại Việt Nam hiện nay có nhiều mâu thuẫn trong các mô hình phát triển chính sách. Ở một mặt điều này tạo ra sự đa dạng của các mô hình nhưng cũng làm giảm hiệu quả và mất đi tính tập trung, đồng nhất.

Việc trở thành một quốc gia có nền đại học hàng đầu thế giới cũng khó khăn không kém việc trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển hay có sức mạnh quân sự và tiềm lực vũ trang hàng đầu thế giới. Sẽ cần rất nhiều hi sinh để đạt được mục tiêu này. Điều quan trọng ở đây là nguồn vốn dành cho giáo dục bậc đại học và hoạt động nghiên cứu phụ thuộc phần nào vào sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên nên lưu ý là điều này chỉ phụ thuộc phần nào mà thôi. Với những chính sách sáng suốt và đưa giáo dục lên mục tiêu hàng đầu thì những nước đang phát triển có thể đầu tư nhiều vào giáo dục và hoạt động nghiên cứu ở mức lớn hơn so với mức phát triển kinh tế của quốc gia. Trung Quốc là một ví dụ điển hình. Không nhất thiết phải đợi đến khi thu nhập bình quân đầu người đạt đến mức 30 nghìn đô-la Mỹ thì mới có thể tạo nên thay đổi trong giáo dục. Từ năm 2000, ngân sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của nước này tăng hơn 50% so với tốc độ phát triển của toàn nền kinh tế. Cũng chính vì vậy mà trong vòng hơn 5 năm từ 2003-2009, số trường đại học của Trung Quốc nằm trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu của Đại học Giao thông Thượng Hải tăng từ 13 lên 18 trường.

Lili Từ

Giáo sư Simon Marginson làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đại học thuộc Đại học Melbourne.

Các nghiên cứu của ông tập trung vào toàn cầu hóa và giáo dục đại học, giáo dục quốc tế, cải cách chính sách và hệ thống giao dục và vấn đề kinh tế tri thức.

Ông vừa mới tham gia tư vấn cho Việt Nam về việc phát triển hệ thống đánh giá các trường đại học và thực hiện nghiên cứu về định vị và chiến lược cho trường Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh toàn cầu.

Phát biểu của GS Simon Marginson ( Đại học Monash ) - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

Bayvut.com.au mới đi một bài “Đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam” với nhiều phát biểu của GS Simon Marginson ( Đại học Monash ) mà theo tôi là cần xem lại. Entry này chỉ ra hai sai lầm hiển nhiên của Gs Marginson.

Thứ nhất, ông cho rằng hệ thống đánh giá của Đại học Giao thông Thượng Hải là “có uy tín nhất vì kết quả của nó khách quan và được công bố rộng rãi”. Tôi nghĩ bản xếp hạng của họ phổ biến rộng rãi thì có, còn uy tín hay không thì cần xem lại, nhưng tôi thấy cách làm của họ không khách quan mà cũng chẳng có gì khoa học. Đại học Giao thông Thượng Hải căn cứ vào những tiêu chuẩn sau đây để xếp hạng đại học trên thế giới :

- Số cựu sinh viên tốt nghiệp đoạt giải Nobel và Field : trọng số 10%.

- Số giáo sư đoạt giải Nobel và Field : trọng số 20%.

- Số bài báo khoa học được trích dẫn nhiều lần : trọng số 20%.

- Số bài báo khoa học trên tập san Nature và Science : trọng số 20%.

- Số bài báo khoa học trên tập san trong danh bạ SCIE, SSCI : trọng số 20%.

- Thành tựu của giáo sư và đội ngũ khoa bảng : trọng số 10%.

Câu hỏi đặt ra là những trọng số này đến từ đâu ? Nếu ai chịu khó đọc qua những tài liệu về phương pháp của họ thì sẽ thấy là chẳng đến từ đâu cả. Rất có thể họ tự nghĩ ra những con số đó. Trong khoa học không thể nào có những trọng số tròn trĩnh kiểu 10%, 20%, … và cộng lại bằng 100%. Không thể nào có được ngoại trừ phịa ra hay giả tạo. Khi các nhà nghiên cứu về chất lượng đại học bên Hà Lan phân tích những sai lầm trong bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, và phán một câu xanh dờn rằng nhóm này (Đại học Giao thông Thượng Hải) không đủ trình độ thống kê và không đủ tư cách khoa học để làm, thì ngạc nhiên thay họ công nhận như thế ! Tất cả những phát biểu này đều xuất hiện trên giấy trắng mực đen trong tập san khoa học.

Có lẽ chính vì phương pháp làm phi khoa học như thế cho nên bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải không tương quan với bất cứ bảng xếp hạng nào. Thật ra, chẳng có bảng xếp hạng nào có thể xem là khoa học cả.

Thứ hai, GS Marginson số lượng ấn phẩm khoa học từ Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế "chưa đầy 200". Sai lớn ! Xin thưa rằng con số ấn phẩm khoa học từ VN trên các tập san quốc tế đã ~1000 bài rồi. Có thể xem phân tích này của tôi để thấy phát biểu này quá sai. Con số 200 thì đúng khoảng 20 năm về trước. Có lẽ GS Marginson chưa làm bài tập nên quá sai lầm ở điểm này.

Tuy nhiên, tôi đồng ý với Marginson khi ông cho rằng "để tạo tiền đề cho kế hoạch xây dựng đại học có chất lượng nghiên cứu quốc tế, đòi hỏi đầu tiên mà Việt Nam phải thực hiện được là làm sao lôi kéo được hầu hết những nghiên cứu sinh, tiến sĩ từ Mỹ và Châu Âu trở về." Nhưng tôi không có hi vọng gì từ lời khuyên này. Thật ra, ở VN người ta cũng nhìn ra và biết yếu tố này từ lâu rồi. Nói cũng rất nhiều, mà thực hành thì chẳng bao nhiêu.

Marginson có vẻ khen các nghiên cứu sinh Việt Nam tại trường ông ( Đại học Monash ) là "thường là những người giỏi nhất và đội ngũ này rất đồng đều. Các sinh viên Trung Quốc cũng giỏi nhưng không có sự đồng đều như Việt Nam." Thú thật, tôi rất kị với những lời khen kiểu so sánh này, vì nó chẳng khác gì cách nói "so với kẻ dốt thì cậu khá lắm", hay nó giống như kiểu người ta vỗ đầu mình rồi khen "cậu khá lắm", nhưng đằng sau thì một nụ cười với lời bình phẩm "nhưng cậu còn quá kém".

Tốt hơn hết là không có đặt chỉ tiêu vào top 200 hay top 500 gì cả ; vấn đề là xây dựng đại học cho ngang tầm khu vực với chất lượng đào tạo được thế giới công nhận là may phước lắm rồi. Mấy danh xưng đẳng cấp này nọ hay thứ hạng cứ để cho người khác làm, và mình chỉ khoanh tay nhìn và mỉm cười.