NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

ĐỪNG ĐỂ LỠ MẤT CƠ HỘI - GS TS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật bản

“Chúng tôi cương quyết không chấp nhận cái gọi là văn hóa phong bì, kết cuộc hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty luôn bị ảnh hưởng”- giám đốc một công ty của Nhật tại Vĩnh Phúc than phiền.

Năm 2003, Goldman Sachs, một tập đoàn đầu tư chứng khoán lớn của Mỹ, đưa ra một tên gọi tổng hợp làm cả thế giới quan tâm: BRIC. Tên gọi này (viết tắt theo tiếng Anh) chỉ bốn nền kinh tế lớn đang xuất hiện: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Bốn nước này có chung đặc điểm là dân đông, đang tiến hành các cải cách để kinh tế phát triển và trên thực tế kinh tế đang tăng trưởng ở mức cao hoặc tương đối cao. Nếu khuynh hướng hiện nay tiếp tục kéo dài thì trong một tương lai không xa, BRIC sẽ trở thành một lực lượng chi phối kinh tế, chính trị thế giới. BRIC nhanh chóng lôi cuốn sự quan tâm của thế giới. Nhiều công ty đa quốc gia đặt BRIC trong chiến lược đầu tư, nhiều công ty tài chính phát hành các thương phẩm có tên gọi là chứng khoán BRIC... Tuy nhiên, sau vài năm đầu tư hoặc tìm hiểu cơ hội kinh doanh tại các nước này, nhiều công ty đã phát hiện nhiều vấn đề cho thấy sự việc không đơn giản như họ kỳ vọng. Gần đây thấy xuất hiện nhiều nghiên cứu có tên gọi như Thực chất của BRIC hoặc Những rủi ro ở BRIC...

Đặc biệt mức độ quan tâm của Nhật Bản, nhất là các công ty sản xuất hàng công nghiệp, đối với Brazil và Nga không cao, chủ yếu vì vị trí địa lý xa xôi và chung quanh các nước này không có những nền kinh tế năng động. Quan tâm lớn nhất của Nhật hiện nay là ở châu Á, nhất là vùng Đông Á, nơi có nhiều nền kinh tế đã và đang phát triển với tốc độ khá cao và ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, nhất là ngày càng xác lập các định chế hợp tác để tiến tới việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á trong đó hoạt động của các công ty đa quốc gia ngày càng thuận lợi. Nhưng trong khu vực này, nước nào được chú trọng nhiều nhất? Nhật báo kinh tế Nhật Bản (Nikkei) gần đây đưa ra một tên gọi tổng hợp mới là VTIC để chỉ bốn nước mà Nhật đang chú trọng (cũng viết tắt theo tên tiếng Anh): Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc. Kết quả điều tra của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cũng cho thấy trong mấy năm gần đây bốn nước này được xếp hạng cao nhất trong những nước mà doanh nghiệp Nhật xem là môi trường đầu tư hấp dẫn trong ba năm tới. Việt Nam được xếp hạng thứ tư sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan. Tuy nhiên, nếu chỉ lấy điều tra đối với các doanh nghiệp sản xuất đồ điện và điện tử, hoặc chỉ lấy điều tra đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật thì Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc. Điểm đáng chú ý nữa là khi được hỏi về môi trường đầu tư hấp dẫn trong tương lai xa (năm năm trở lên) thì Việt Nam được xếp hạng thứ hai, cao hơn Ấn Độ và Thái Lan.

Nhật đánh giá cao tương lai kinh tế Việt Nam vì nhiều nguyên nhân, có yếu tố cũ và có yếu tố mới. Yếu tố được nói đến từ trước là sự ổn định xã hội, chính trị, dân số đông, lực lượng lao động dồi dào với chất lượng tương đối cao. Từ 7-8 năm nay, hầu như năm nào tôi cũng đi khảo sát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật tại Việt Nam và lần nào cũng nghe thấy họ đánh giá cao chất lượng lao động của ta. Chuyến khảo sát vào mùa hè năm nay cũng khẳng định lại điều này. Các nhà quản lý Nhật Bản cho rằng lao động Việt Nam rất nhạy bén với cái mới, hiểu biết nhanh nên năng suất cao. Tuy có trường hợp nhân viên cấp quản lý vì quá tự tin vào năng lực của mình đôi khi đi đến hành động vượt khỏi các quy định cơ bản nhưng nhìn chung đa số có trách nhiệm cao, không những đối với công việc mình phụ trách mà còn có thái độ liên đới, hợp tác với các bộ phận khác trong công ty. Điểm này rất gần với phong cách làm việc của người Nhật. Một yếu tố phụ nhưng cũng quan trọng là người Nhật rất thích văn hóa ẩm thực và nhiều mặt khác trong cuộc sống của người Việt Nam.

Hai yếu tố mới làm cho Nhật quan tâm hơn đến Việt Nam là sự nhận biết ngày càng tăng về sự rủi ro của môi trường đầu tư ở Trung Quốc làm cho họ phải chuyển hướng đầu tư sang các nước khác, và khả năng Việt Nam gia nhập WTO trong một ngày không xa. Từ giữa thập niên 1990, Nhật tập trung đầu tư sang Trung Quốc, nhất là ở các tỉnh miền Hoa Nam (chủ yếu là Quảng Đông và Phúc Kiến). Cùng với sự thất bại trong cách quản lý, đối phó của Trung Quốc đối với bệnh dịch SARS (năm 2003) và phong trào bài Nhật (năm 2005) do yếu tố lịch sử, việc tập trung quá nhiều vào thị trường Trung Quốc làm cho Nhật thấy cần phân tán rủi ro. Nơi có nhiều triển vọng để phân tán đầu tư là Ấn Độ và ASEAN, trong đó Việt Nam và Thái Lan được đặc biệt chú trọng. Thái Lan ngoài chính sách tiếp nhận đầu tư nước ngoài (FDI) rất thông thoáng và việc thực thi các chính sách cũng rất hiệu quả, họ còn có lợi thế là đã xây dựng được một nền công nghiệp phụ trợ khá đầy đủ, có tác dụng làm giảm phí tổn sản xuất của những dự án mới. Ấn Độ có những đặc điểm của một BRIC như đã nói nhưng Nhật chưa đầu tư bao nhiêu có lẽ vì yếu tố địa lý và những khác biệt về văn hóa, lối sống. Thêm vào đó, những vụ đánh bom, khủng bố gần đây ở Ấn Độ làm cho Nhật ý thức hơn về sự rủi ro ở nước này. Cũng như Brazil và Nga, Ấn Độ mới chỉ dừng lại ở sự kỳ vọng về BRIC.

Theo điều tra (thực hiện vào hai tháng đầu năm nay) của Cơ quan Xúc tiến thương mại quốc tế Nhật Bản (JETRO), 75% các công ty được điều tra cho rằng chính trị, xã hội Việt Nam ổn định hơn Trung Quốc và Việt Nam được xếp hạng đầu trong những nước mà Nhật chọn để chuyển các dự án FDI mới từ Trung Quốc sang. Đối với Nhật, ngoài sự ổn định chính trị, xã hội và chất lượng lao động, Việt Nam có một vị trí địa kinh tế (geo-economic) quan trọng trong trào lưu phân tán FDI ra khỏi Trung Quốc. Phân tán ở đây chủ yếu là phân tán cứ điểm sản xuất của những dự án mới, chứ không phải là chuyển những dự án đang hoạt động tại Trung Quốc sang các nước khác (trường hợp này cũng có nhưng rất ít). Vì Nhật đã tập trung đầu tư tại Hoa Nam chủ yếu trong các ngành liên quan đến máy móc (xe hơi, xe máy, đồ điện gia dụng, máy móc văn phòng như máy tính, máy in...) trong đó, do tính chất của các sản phẩm này (gồm nhiều linh kiện, bộ phận, nhiều sản phẩm trung gian), ta thấy có sự phân công nhiều tầng giữa những nhà máy (lập ở nhiều nơi) của cùng một công ty đa quốc gia. Đây là sự phân công trong nội bộ doanh nghiệp (intra-firm specialization). Vì lý do này, Việt Nam, nhất là các tỉnh phía Bắc, thu hút quan tâm của Nhật. Gần đây, Canon xây dựng nhà máy thứ ba ở Bắc Ninh, Honda mở rộng đầu tư sang lĩnh vực xe hơi ở Vĩnh Phúc và nhiều dự án mới của Nhật ở khu công nghiệp Thăng Long nói lên sự quan tâm đó. Tương tự như vậy, TPHCM và các tỉnh phụ cận được chú trọng nhìn từ sự phân công với Thái Lan và các nước ASEAN khác, nơi Nhật đã đầu tư nhiều từ thập niên 1980. Nằm giữa Trung Quốc và ASEAN, Việt Nam ngày nay có một thuận lợi địa kinh tế quan trọng.

Gia nhập WTO ít nhất có hai hiệu quả làm cho môi trường FDI tại Việt Nam hấp dẫn hơn trước. Thứ nhất, thị trường xuất khẩu mở rộng. Cùng với lợi thế về lao động, vào WTO sẽ làm cho Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất cho thị trường nước ngoài. Các dự án FDI sản xuất cho thị trường nội địa sẽ gặp khó khăn vì cạnh tranh với hàng nhập khẩu nhưng về lâu dài, xí nghiệp đa quốc gia sẽ chọn lựa các dự án phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam và quan tâm đến việc áp dụng các công nghệ có hiệu quả. Thứ hai, để gia nhập WTO, Việt Nam phải xây dựng hành lang pháp lý phù hợp với cơ chế thị trường và nội dung cũng như việc thực hiện các chính sách, quy chế phải minh bạch. Các chính sách phân biệt đối xử giữa các xí nghiệp trong và ngoài nước, giữa những công ty có hình thái sở hữu khác nhau, hoặc những chính sách hạn chế hoạt động của công ty có vốn nước ngoài cũng từng bước được bãi bỏ. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy sau khi gia nhập WTO (năm 2001), FDI tăng nhanh liên tục trong nhiều năm.

Để đừng mất thời cơ

Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã mấy lần đánh mất thời cơ thu hút FDI để đẩy mạnh chiến lược công nghiệp hóa và hội nhập có hiệu quả vào kinh tế khu vực và thế giới. Lần này, trong nhóm VTIC, Việt Nam có vị trí đặc biệt. Thời cơ hiện nay rất lớn nhưng để nắm bắt, Việt Nam phải giải quyết nhiều vấn đề, vừa cũ vừa mới.

Thứ nhất là vấn đề thuộc loại “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng rất tiếc vẫn phải nhắc lại ở đây. Đó là bộ máy hành chính, nói chính xác hơn đó là những con người thuộc bộ máy hành chính. Tôi nhớ mãi buổi đi thực tế tại một công ty có vốn Nhật Bản ở Vĩnh Phúc vào cuối tháng 8 vừa qua, ông tổng giám đốc người Nhật một mặt không ngớt lời khen ngợi chất lượng lao động Việt Nam, nhưng mặt khác thì “thường rất khó chịu khi nghe nhân viên báo cáo về thủ tục nhận hàng ở bến cảng, về việc xin chữ ký ở cơ quan gia hạn chiếu khán lưu trú...; họ rất tùy tiện, tùy theo có hay không có phong bì; nhưng chúng tôi cương quyết không chấp nhận cái gọi là văn hóa phong bì, kết cuộc hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn bị ảnh hưởng”. Việc thực hiện các chính sách về đăng ký kinh doanh, về thuế... cũng còn nhiều vấn đề. Đây là những lý do làm cho Việt Nam được xếp hạng rất thấp và tụt sáu bậc trong bảng xếp hạng về môi trường kinh doanh do Ngân hàng Thế giới công bố ngày 5-9-2006. Đáng chú ý là Việt Nam bị xếp thứ 104 trong khi Thái Lan ở hạng 17 trong 175 nước được điều tra. Cần nhấn mạnh là trong nhóm VTIC, Việt Nam và Thái Lan cạnh tranh nhau trong việc thu hút dòng chảy FDI phân tán từ Trung Quốc.

Thứ hai, để tiếp tục đón nhận dòng chảy FDI, hai vấn đề có liên quan mật thiết cần được giải quyết là lao động và cơ sở hạ tầng. Nhìn ở tầm vĩ mô, Việt Nam có một lực lượng lao động dồi dào với chất lượng tương đối cao, nhưng số lao động ở gần các khu công nghiệp, khu chế xuất ở TPHCM, Hà Nội và các vùng lân cận đã được tận dụng, muốn đưa thêm lao động vào hoạt động cần phải đặt cơ sở sản xuất ở các vùng xa hơn và ở đây lại phát sinh các vấn đề thuộc cơ sở hạ tầng như điện, nước, giao thông... Nhiều công ty có vốn Nhật nói nhiều đến hai vấn đề: tình trạng mất điện làm cho nhà máy phải tạm ngưng hoạt động và chi phí vận chuyển rất cao. Cũng vì lý do này, nhiều khu công nghiệp ở địa phương với giá mặt bằng thuê rất rẻ, thậm chí đất được cho không, vẫn không thu hút được nhiều dự án FDI. Nhà nước cần xây dựng các khu cư trú hoặc hỗ trợ dịch vụ nhà ở cho lao động gần kề những khu công nghiệp xa các thành phố lớn, xem như một bộ phận trong chương trình phúc lợi xã hội. Việc đầu tư dàn trải (tỉnh nào cũng có bến cảng, sân bay, khu công nghiệp...) cũng cần được xét lại vì kết cuộc không có nơi nào hội đủ các điều kiện về hạ tầng kinh tế để sản xuất với chi phí cố định thấp.

Một vấn đề liên quan là lao động có trình độ quản lý đang thiếu hụt nên các doanh nghiệp dần dần gặp khó khăn trong việc tuyển dụng, và phải trả lương cao. Giới lao động có trình độ cao này thường có khuynh hướng muốn sống tại các đô thị lớn nên các doanh nghiệp khó tuyển đủ nhân viên để lập nhà máy tại các vùng xa. Chính quyền địa phương cần kết hợp với doanh nghiệp đưa ra các điều kiện sống và làm việc hấp dẫn để thu hút lao động có trình độ cao.

Trong trào lưu mới VTIC, cơ hội cho Việt Nam rất lớn nhưng để nắm bắt thời cơ này phải giải quyết nhiều vấn đề. Nếu giải quyết chậm, xu hướng VTIC có thể trở thành một trào lưu mới và thời cơ của Việt Nam lúc đó có thể biến mất.

(*) Tác giả viết bài này tại Hội An hôm 8-9-2006 sau chuyến khảo sát hoạt động của các công ty có vốn Nhật Bản tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bình Dương, Đồng Nai và TPHCM.

Trần Văn Thọ GS. Đại học Waseda, Tokyo