NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần một tầm nhìn mới về môi trường biển

Nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020 do Hội nghị lần 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đầu năm 2007 đã đề ra “Phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% - 55% GDP và 55% - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước”. Trong khi đó, những vấn đề về môi trường biển của Việt Nam đang nổi lên ngày càng gay gắt. VNnet xin giới thiệu loạt bài của ông Ngô Lực Tải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật biển.

Sự tiến hóa của loài người được gắn kết với biển

Biển và đại dương chiếm 71% bề mặt của hành tinh xanh. Lịch sử tiến hóa của loài người luôn được gắn kết với biển. Văn minh nhân loại càng phát triển thì giá trị của biển càng được tôn vinh. Ngành hàng hải ra đời, biển và đại dương chẳng những là cầu nối giữa các châu lục, các quốc gia, mà còn là tài sản vô giá của trái đất.

Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về luật biển, một văn kiện lịch sử có tầm vóc thời đại, đã được áp dụng trên toàn thế giới để điều tiết các quan hệ trên biển giữa các quốc gia. Trong Công ước có ghi rõ: "Biển và đại dương là di sản chung của nhân loại”. Đương nhiên, buộc chúng ta phải có một cách nhìn nghiêm túc trong việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

Biển và vị trí địa kinh tế của Việt Nam

Biển Đông với diện tích 3.447.000km vuông, một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, nối hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có 9 quốc gia bao bọc: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Đây là con đường chiến lược của giao thương quốc tế, có 5/10 tuyến đường hàng hải lớn nhất của hành tinh đi qua. Hàng năm, vận chuyển qua biển Đông là khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật, và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc.

Vùng biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km vuông, án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực.

Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, trung bình 100km vuông đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới). Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng (kể cả cảng ở qui mô trung chuyển thế giới), 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi đạt tiêu chuẩn quốc tế để phát triển du lịch biển. Ven bờ biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp và hơn 6 vạn héc ta ruộng muối biển.

Ngoài ra, Việt Nam còn có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long, Bái Tử Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang…) và 2.779 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.636km vuông. Tuy phân bổ các đảo không đều, nhưng tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam đều có các đảo che chắn ở mức độ khác nhau. Dân số vùng duyên hải chiếm khoảng 39% dân số cả nước.

Với vị trí địa kinh tế rất thuận lợi và tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm qua, biển Việt Nam đang góp phần xứng đáng để đưa đất nước trở thành vị thế một trong những quốc gia biển có nền công nghiệp hàng hải mạnh ở khu vực và trên thế giới vào những năm tới.

Đánh giá đúng tiềm năng để hoạch định chiến lược

Tiềm năng và nguồn lợi biển của Việt Nam là yếu tố và tác nhân cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay và trong tương lai.

- Dầu khí: Tổng trữ lượng dự báo địa chất của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác 4 tỷ tấn đến 5 tỷ tấn. Trữ lượng khí đồng hành 250 tỷ m3 đến 300 tỷ m3. Dầu khí đang có triển vọng lớn với điều kiện khai thác thuận lợi.

- Hải sản:trữ lượng đánh bắt khoảng 3 triệu tấn đến 3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao, chưa được khai thác đúng mức, chỉ mới đạt 60% mức có thể khai thác được hàng năm.

- Vận tải biển: Ngành vận tải biển của Việt Nam mới chỉ chiếm 16% thị phần hàng hóa xuất nhập khẩu của quốc gia.

- Cảng biển và kết cấu hạ tầng:Nói chung còn yếu, hoạt động hiệu quả chưa cao, trong số 90 cảng biển chỉ có 10 cảng có công suất thông qua trên 1 triệu tấn/năm.

- Công nghiệp tàu biển: Vừa khởi sắc trong 3 năm gần đây, đã đóng nhiều chủng loại tàu có trọng tải lớn đến 10 vạn tấn để xuất khẩu, là ngành mũi nhọn của kinh tế biển, hứa hẹn nhiều triển vọng tốt.

- Du lịch biển và các ngành dịch vụ biển khác: Đang mới ở giai đoạn xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, bước đầu đã đóng góp khiêm tốn tăng trưởng GDP, tiềm năng vẫn còn lớn nếu biết phát huy thế mạnh của quốc gia biển.

Định hướng kinh tế biển

Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP của quốc gia, biến đổi nhanh chóng diện mạo đất nước. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản. Với hiện trạng trên, đòi hỏi có một sự bức phá và nhảy vọt đáng kể trong thập niên tới để có thể đuổi kịp các nước phát triển ASEAN.

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X từ ngày 15/01/2007 đến 24/01/2007 tại Hà Nội đã ra “Nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020”. “Phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% GDP đến 55% GDP và 55% đến 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước”.

Những tiêu chí trên thể hiện rõ tầm quan trọng của biển Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Bảo vệ môi trường biển để nâng cao hiệu quả khai thác biển

Muốn khai thác có hiệu quả biển Việt Nam theo những mục tiêu của Nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020 của Trung ương, một mặt chúng ta cần tập trung đầu tư vật chất, nhân lực và công nghệ hiện đại cho các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc kinh tế biển, đồng thời cần phải nâng cao và tăng cường quản lý, bảo vệ gìn giữ môi trường biển tốt hơn, bền vững hơn. Sử dụng hiệu quả tiềm năng phải đi cùng với tái tạo, bởi vì trong quá trình sử dụng, khai thác không thể tránh khỏi ô nhiễm môi trường cũng như sự cố thiên nhiên.

Sự kiện dầu tràn vào bờ biển của 12 tỉnh thành ở miền Trung và miền Nam hồi đầu tháng 01/2007 cho đến nay vẫn còn tiếp diễn và cũng chưa xác định được nguyên nhân, đủ để cảnh tỉnh chúng ta về bảo vệ môi trường biển trong thời gian tới.

Nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ môi trường biển

Tuần qua, váng dầu đã lan ra tới vùng biển phía Bắc. Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, vấn đề môi trường biển của Việt Nam đang nổi lên ngày càng gay gắt. VietNamNet xin giới thiệu bài viết thứ hai trong loạt bài của ông Ngô Lực Tải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật biển.

Nguồn ô nhiễm môi trường biển

Theo dự báo, thế kỷ 21 là kỷ nguyên phát triển rực rỡ của loài người nhưng đồng thời cũng là giai đoạn thử thách gay go về môi trường sống đối với hành tinh xanh, nổi bật hàng đầu đó là tình trạng ô nhiễm môi trường biển trên trái đất.

Thống kê của Tổ chức môi trường thế giới cho biết các nguồn ô nhiễm sẽ đến từ : đất liền (50%), rò rỉ tự nhiên (11%), phóng xạ nguyên tử (13%) , hoạt động của tàu thuyền (18%) và tai nạn tàu bè trên biển (6%).

Ước tính mỗi năm có khoảng 2,4 triệu tấn dầu đổ ra biển. Vì vậy, cho đến nay đã có nhiều bộ luật quốc tế và quốc gia đang được thực thi để bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

Hãy điểm qua một số bộ luật về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển :

Luật pháp quốc tế

Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNLOSC) là bộ luật hoàn chỉnh nhất về biển trong thời đại chúng ta, dành phần XII qui định việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển , gồm có 11 mục và 46 điều khoản (từ điều 192 đến 237). Đó là cơ sở pháp lý giúp các quốc gia bảo vệ và gìn giữ môi trường biển của mình đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển chung. Điểm nổi bật của Công ước là xác định rõ ràng quyền hạn và nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong việc bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm.

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (MARPOL 73/78): Ra đời năm 1973, đây là bộ luật chuyên ngành hàng hải của thế giới, đã được thông qua tại Hội nghị quốc tế về ô nhiễm biển, do Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) triệu tập từ ngày 8/10 đến 2/12/1973. Công ước đưa ra những qui định nhằm ngăn chặn ô nhiễm gây ra do tai nạn hoặc do vận chuyển hàng hóa là dầu mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại bằng tàu, cũng như do nước, rác và khí thải ra từ tàu.

Năm 1978, Công ước 1973 được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định thư 1978 kèm thêm 5 phụ lục mới, chính thức được gọi tắt là MARPOL 73/78. Tiếp đến năm 1997 Marpol 73/78 được bổ sung bằng Nghị định thư 1997 có thêm phụ lục thứ 6. Như vậy, đến nay Marpol 73/78 đang được thực thi nghiêm ngặt trong ngành hàng hải thế giới.

- Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển (SOLAS).

- Công ước quốc tế sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với việc xử lý ô nhiễm dầu (OPRC).

- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất thải và những vật liệu khác (London 1972).

- Các thỏa thuận khu vực để tạo điều kiện cho các cảng biển kiểm tra sự chấp hành luật lệ về bảo vệ môi trường biển của các tàu cập bến.

Luật pháp trong nước

Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005. Bộ Luật gồm 15 chương và 136 điều khoản. Chương VII, mục 1 qui định về bảo vệ môi trường biển (từ điều 55 đến điều 58) với các nội dung :

- Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển .

- Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển.

- Kiểm soát xử lý ô nhiễm môi trường biển.

- Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển.

Điều 58 – điểm 2 qui định : “Lực lượng cứu nạn, cứu hộ quốc gia, lực lượng cảnh sát biển phải được đào tạo, huấn luyện trang bị phương tiện, thiết bị bảo đảm ứng phó sự cố môi trường trên biển

Điều 58 – điểm 4 qui định : “ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp Tỉnh ven biển trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phát hiện, cảnh báo, thông báo kịp thời về tai biến thiên nhiên, sự cố môi trường trên biển và tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả”.

Bộ luật hàng hải Việt Nam được Quốc hội khóa XI, kỳ họp lần thứ bảy thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2006. Đây là bộ chuyên ngành với 18 chương với 261 điều khoản.

Chương II (Tàu biển), Mục 5 nói về “ An toàn hàng hải , an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường”.

Điều 28, điểm 5 qui định : “ Tàu biển chuyên dùng để vận chuyển dầu mỏ, chế phẩm từ dầu mỏ hoặc các hàng hóa nguy hiểm khác bắt buộc phải có bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu về ô nhiễm môi trường khi hoạt động trong vùng nước cảng biển và vùng biển Việt Nam”.

Tóm lại, trên bình diện quốc gia và phạm vi thế giới, đều có luật pháp để thực hiện bảo vệ và gìn giữ môi trường biển chống ô nhiễm. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong ngành hàng hải và môi trường đều băn khoăn là luật pháp về môi trường biển của nước ta hiện nay vẫn chưa thật đầy đủ và hoàn chỉnh đúng với vị thế của một quốc gia đang phát triển để trở thành một nước mạnh về biển trong khu vực, nhất là ở lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Có thể, đây là vấn đề quan trọng cấp bách mà các cơ quan chức năng và Ngành lập pháp cần quan tâm hơn.

Xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường biển

Việt Nam là quốc gia biển, có diện tích biển gấp 3 lần lãnh thổ đất liền, đang lấy kinh tế biển có nhiều tiềm năng để xây dựng và phát triển đất nước mình trở thành một nước công nghiệp – hàng hải mạnh và tiên tiến trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu trên, trước hết cần xây dựng một chiến lược khả thi về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong sạch và bền vững, dựa trên cơ sở “sử dụng và khai thác” phải đi cùng với “gìn giữ và tái tạo”, sau đó mới xác định việc đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực được huấn luyện đào tạo và công nghệ tiên tiến hiện đại cho sản xuất kinh doanh.

Nâng cao năng lực quản lý

Sự cố tràn dầu từ biển vào duyên hải Miền Trung và Miền Nam vừa qua không phải là bất ngờ, mà là vấn đề đã biết từ hơn 10 năm qua, nhưng chưa được quan tâm theo dõi, nghiên cứu nghiêm túc để tìm biện pháp đề phòng, chế ngự, xử lý…

Nhân loại tiến ra biển và đại dương, các quốc gia bành trướng ra biển, hoạt động hàng hải và kinh tế biển ngày càng tăng, ô nhiễm môi trường, môi sinh biển là điều tất yếu.

Trong khi bộ máy quản lý về môi trường biển của chúng ta từ cấp vĩ mô đến vi mô không hề thiếu, chúng ta còn thiếu kiến thức khoa học – công nghệ tiên tiến, thiếu phương tiện, thiết bị máy móc hiện đại ; như tàu chuyên dùng khảo sát, nghiên cứu, vệ tinh phát hiện ô nhiễm trên biển cùng hệ thống các trạm phân tích, xử lý thông tin…

Luật pháp quốc tế và quốc gia tuy nhiều, khoa học – công nghệ phát hiện và xử lý ô nhiễm ngày càng hiện đại và tinh vi nhưng vẫn chưa đáp ứng và chế ngự được tai họa này của thời đại, chỉ còn hy vọng vào con người đó chính là khâu nâng cao năng lực của các tổ chức quản lý và bảo vệ môi trường biển mà ở Việt Nam đang trở thành vấn đề cấp thiết.

Cần một tầm nhìn xa hơn

Nhìn lại lịch sử tiến hóa của loài người ta thấy rằng thế hệ này ra đi, thế hệ khác kế tục, nhân loại vẫn tăng trưởng, văn minh trên trái đất ngày càng phát triển cao. Con người tuy có biến động theo chu kỳ tuổi tác, nhưng thế giới và quốc gia vẫn tồn tại gắn kết với thiên nhiên, âu đó cũng là một trong những qui luật sinh tồn. Điều đáng lưu ý là khi các dân tộc, các nước càng tiến bộ, càng văn minh thì thái độ và cách nhìn đối với môi trường, môi sinh chung quanh càng nghiêm túc và trân trọng bởi họ ý thức được rằng việc bảo vệ gìn giữ môi trườn,g môi sinh là nghĩa vụ sống còn của con người.

Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển biển đến năm 2020, thiết nghĩ chúng ta phải nâng tầm nhìn về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển không chỉ 10 năm hay 20 năm mà cả một thế hệ sau.

Ngô Lực Tải