NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng

Loại hình Mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2008 Mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2010
Ngân hàng thương mại Nhà nước 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Ngân hàng thương mại cổ phần 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Ngân hàng liên doanh 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD
Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
Ngân hàng hợp tác 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Quỹ tín dụng nhân dân * *
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 100 triệu đồng 100 triệu đồng
Công ty tài chính 300 tỷ đồng 500 tỷ đồng
Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng

Có 1.000 tỷ đồng mới được lập ngân hàng

Đây là yêu cầu về vốn pháp định tối thiểu đối với việc thành lập mới ngân hàng cổ phần, liên doanh hay ngân hàng 100% vốn nước ngoài, áp dụng ngay từ cuối tháng 11. Nếu thành lập sau ngày 31/12/2008, mức vốn bắt buộc sẽ là 3.000 tỷ đồng.

Cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 141 về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. Trong đó, giữ nguyên yêu cầu về vốn pháp định đối với loại hình ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng đầu tư, phát triển, chính sách, quỹ tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài... Riêng với các ngân hàng thương mại cổ phần, liên doanh và 100% vốn nước ngoài, yêu cầu về vốn tăng trên dưới 10 lần so với trước.

Trước đây, quy định về vốn với ngân hàng cổ phần đô thị và nông thôn đều chưa đến 100 tỷ đồng. Yêu cầu về vốn pháp định với ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh cũng chỉ là 10 triệu USD (tương đương 160 tỷ đồng). Theo Nghị định 141, từ nay cho đến trước 31/12/2008, cả 3 loại hình ngân hàng này phải đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu là 1.000 tỷ đồng. Các ngân hàng được cấp phép hoạt động sau 31/12/2008, phải đảm bảo có ngay vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định cho năm 2010, tức 3.000 tỷ đồng.

Các ngân hàng cổ phần, liên doanh đã được cấp phép hoạt động hiện nay, nếu chưa đáp ứng đủ vốn sẽ phải tăng theo lộ trình. Cụ thể, đến 31/12/2008, mức vốn điều lệ tối thiểu phải là 1.000 tỷ đồng và phải tăng lên 3.000 tỷ đồng trước 31/12/2010. Theo yêu cầu của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước sẽ xử lý, thậm chí thu hồi giấy phép của các ngân hàng có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp thấp hơn mức vốn pháp định tương ứng đối với từng loại hình tổ chức tín dụng quy định cho từng thời kỳ.

Hàng triệu USD cho một giấy phép lập ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng quy chế cấp phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó dự kiến đưa ra điều kiện rất khắt khe mà nếu tuân theo sẽ mất cả năm và tốn hàng triệu USD mới có thể hoàn tất hồ sơ, khai sinh một nhà băng.

Theo dự thảo, ngoài yêu cầu về vốn điều lệ do Thủ tướng quy định trong từng thời kỳ, một ngân hàng muốn thành lập phải có tối thiểu 100 cổ đông tham gia, trong đó ít nhất 3 cổ đông sáng lập là tổ chức có quy mô tài sản từ 2.000 tỷ đồng và vốn điều lệ 500 tỷ đồng trở lên. Trong trường hợp cổ đông sáng lập là ngân hàng thương mại, phải đảm bảo tổng tài sản tối hiểu 20.000 tỷ đồng, vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu dưới 2%. Các cổ đông không được chuyển nhượng cổ phần trong thời gian 3 năm kết từ khi được cấp phép thành lập. Riêng các cổ đông sáng lập, chỉ được phép chuyển nhượng lẫn nhau trong thời gian 5 năm kể từ khi ngân hàng được cấp phép.

Để đảm bảo tính đại chúng của ngân hàng, mỗi cổ đông pháp nhân (tổ chức) và người có liên quan chỉ được phép sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ. Nếu là cổ đông cá nhân, tỷ lệ sở hữu của cá nhân đó và những người có liên quan không quá 10% vốn điều lệ của ngân hàng. Riêng trường hợp cổ đông là tập đoàn tài chính, được phép sở hữu với tỷ lệ tối đa 40%. Trong trường hợp sở hữu vượt tỷ lệ cho phép, phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trên cơ sở lợi ích quốc gia.

Phần được xem là "khoai" nhất trong bộ hồ sơ xin cấp phép đó là bản đề án thành lập ngân hàng. Theo dự thảo, phần tài liệu này phải chứng minh được năng lực tài chính, quản trị và quản lý rủi ro của ngân hàng, trong đó yêu cầu áp dụng quản lý rủi ro theo những chuẩn mực quốc tế như Basel 1, Basel 2, quy định mới nhất của Ngân hàng Nhà ước về phân loại nợ và trích lập dự phòng xử lý rủi ro... Đề án cũng phải chứng minh khả năng áp dụng công nghệ thông tin, phân tích và đánh giá thị trường, chiến lược của ngân hàng trong phát triển mở rộng mạng lưới hoạt động...

Dự thảo mới nhất Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần được hoàn tất trong sáng nay và đang được gửi đi trưng cầu ý kiến của các cơ quan liên quan. Theo một chuyên gia ngân hàng, những yêu cầu đưa ra trong dự thảo quy chế được xem là khắt khe nhất từ trước tới nay. Đặc biệt, để hoàn tất bản đề án, có thể phải thuê tư vấn quốc tế với thời gian thực hiện tới 5-6 tháng và chi phí không dưới vài triệu USD. Khi hồ sơ trình lên Ngân hàng Nhà nước, cũng phải mất chừng ấy thời gian thẩm định trước khi được duyệt và chấp thuận về mặt nguyên tắc.

"Với những quy định khắt khe như vậy, cơ hội kinh doanh ngân hàng chỉ dành cho những ai có thực lực, chứ không phải dành cho những người thành lập ngân hàng để mua bán giấy phép. Ở Việt Nam, chưa có trường hợp mua bán giấy phép ngân hàng nào được ghi nhận chính thức, song tôi đã được nghe nói về nguy cơ này", vị chuyên gia này nói.

Cùng với chứng khoán, ngân hàng cũng được dự báo là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn trong con mắt các nhà đầu tư, do có tốc độ tăng trưởng cao, khả năng mở rộng và huy động vốn dễ dàng. Hơn 10 hồ sơ xin thành lập ngân hàng đã được gửi tới Ngân hàng Nhà nước. Hàng loạt ngân hàng cổ phần nông thôn trước đây tưởng chừng không thể phát triển, nay lại được các nhà đầu tư mạnh tay rót vốn và nâng cấp thành ngân hàng đô thị, mở rộng quy mô và mạng lưới hoạt động.

Một quan chức Ngân hàng Nhà nước cho biết, nếu căn cứ theo các tiêu chí trong dự thảo, không có bộ hồ sơ nào trong số hơn 10 trường hợp kể trên thỏa mãn yêu cầu. 3 trường hợp, đề án thành lập ngân hàng tài chính dầu khí, ngân hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng dịch vụ công nghiệp, đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu (trên 1.000 tỷ đồng) song cũng sẽ phải làm lại đề án.

Không dễ nhảy vào sân chơi ngân hàng

Hơn 20 bộ hồ sơ xin thành lập ngân hàng cổ phần vẫn nằm trên giấy vì quy chế cấp phép chưa được thông qua. Kế hoạch lập ngân hàng con của các nhà băng nước ngoài cũng có nguy cơ đình hoãn vì chưa có văn bản hướng dẫn.

Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần lẽ ra phải ban hành trong tháng 3, song Ngân hàng Nhà nước đề nghị lui lại đến đầu tháng 4. Tuy nhiên, đến 18/4, dự thảo lần cuối mới được trình Thủ tướng Chính phủ, một phần lý do là có nhiều quan điểm trái ngược, người thì cho rằng các điều kiện cấp phép quá ngặt nghèo, người lại lo vẫn còn lỏng tay. Về trình tự thủ tục, Ngân hàng Nhà nước có quyền chủ động ký quyết định ban hành quy chế. Song đây là vấn đề nhạy cảm, văn bản phải được trình lên Chính phủ trước khi chính thức ban hành.

Đầu năm ngoái, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2006 về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên hơn một năm đã trôi qua, thông tư hướng dẫn thi hành nghị định vẫn trong giai đoạn dự thảo, dù theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kể từ 1/4, Việt Nam phải thừa nhận sự tồn tại của loại hình ngân hàng con 100% vốn nước ngoài.

Một nguồn tin cho hay nhiều khả năng, phải sang tuần sau quy chế cấp phép thành lập ngân hàng cổ phần và thông tư hướng dẫn Nghị định 22 mới được thông qua và có thể thông qua cùng lúc.

Cuộc đua chưa biết đích

Hồ sơ xin cấp phép lập ngân hàng gửi tới Ngân hàng Nhà nước đã lên đến trên dưới 25 bộ. Đó là chưa kể rất nhiều trường hợp đánh tiếng, dạm hỏi bằng lời. Đáng chú ý, đã có hiện tượng các tỉnh, thành chạy đua thành lập ngân hàng cổ phần phục vụ cho hoạt động của riêng địa phương mình. Tương tự, một số tổng công ty nhà nước cũng đánh tiếng xin mở nhà băng với lý do đơn vị mình đang có nhiều dự án lớn và rất khát vốn.

Với khối hàng nước ngoài, đến nay mới có ngân hàng Hong Kong Thượng Hải - HSBC của Anh và ANZ của New Zealand và Australia công khai kế hoạch lập ngân hàng con. Cả hai tập đoàn này không giấu tham vọng mở thêm hàng chục chi nhánh mới.

Tuy nhiên, sân chơi ngân hàng vốn đã kén người nay càng kén người hơn. Cổng ra vào phải mở rộng theo cam kết WTO, song khi các quy định mới được ban hành, không phải ai cũng đáp ứng được luật chơi.

Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, việc xây dựng quy chế cấp phép thành lập ngân hàng vừa đảm bảo yêu cầu rõ ràng, minh bạch, song phải chặt chẽ, nhằm sàng lọc kỹ lưỡng và tránh tình trạng lập để bán giấy phép. Chuyện lập ngân hàng chỉ nhằm mục đích thu xếp vốn vay cho các dự án của tổng công ty, hay của tỉnh cũng đáng lo ngại, bởi sẽ nảy sinh rủi ro khi ngân hàng tiến hành cho vay đối với các cổ đông của mình. Về nguyên tắc, ngân hàng là định chế tài chính trung gian, việc cho vay đối với các thể nhân, pháp nhân có liên quan tới hội đồng quản trị ngân hàng phải được giám sát chặt chẽ, nếu không sẽ nảy sinh tình trạng phân biệt đối xử khách hàng, che giấu thông tin...

Vì vậy, trong dự thảo quy chế cấp phép thành lập ngân hàng, các yêu cầu đối với bộ máy quản trị, điều hành, kiểm soát... đều căn cứ trên những thông lệ tốt của quốc tế trong quản trị ngân hàng và chặt chẽ hơn nhiều so với quy định hiện hành của Việt Nam. Theo quy định, các nhà đầu tư nước ngoài không được phép góp vốn thành lập ngân hàng mới, chỉ được phép mua cổ phần của các ngân hàng nội địa đã hoạt động tối thiểu là 2 năm, với một hạn mức nhất định, không quá 30%. Nếu quy định này được thông qua, nhiều khả năng những hồ sơ xin lập ngân hàng thương mại cổ phần mà cổ đông tham gia góp vốn là cá nhân (hoặc tổ chức) nước ngoài sẽ không được chấp nhận.

Đáng chú ý, dự thảo quy chế trình Chính phủ hôm 18/4 còn đưa thêm một quy định rất chặt chẽ về nguồn vốn góp thành lập ngân hàng. Theo đó, vốn góp thành lập ngân hàng phải là nguồn thuộc sở hữu của cổ đông, không được sử dụng tiền vay dưới mọi hình thức và các tổ chức, cá nhân góp vốn phải cam kết trước pháp luật về nguồn vốn góp. Theo ban soạn thảo, đặc điểm của ngân hàng là sử dụng vốn tự có của mình để hoạt động, huy động vốn từ công chúng và cho vay lại. Do đó, vốn điều lệ phải minh bạch, rõ ràng và hợp pháp.

Các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài được thừa nhận như một pháp nhân Việt Nam và được đối xử bình đẳng với các ngân hàng nội địa. Vì vậy, tất cả những quy định khắt khe trong quy chế cấp phép thành lập ngân hàng cổ phần sẽ áp dụng chung cho cả hai loại hình trong và ngoài nước. Ngoài ra, ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ chịu thêm một số ràng buộc khác, được quy định trong thông tư hướng dẫn Nghị định 22. Đặc biệt, ngân hàng trung ương của nước nguyên xứ phải ký cam kết (bản ghi nhớ, thỏa thuận, thư trao đổi và các văn bản khác có giá trị tương đương) về hợp tác quản lý, giám sát hoạt động và trao đổi thông tin với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới ký thỏa thuận trao đổi thông tin thanh tra ngân hàng với các cơ quan ở Đài Loan, Hàn Quốc và Nga. Một số nước và khu vực khác như Đức, Thụy Điển, Trung Quốc, ASEAN, chỉ mới ký thỏa thuận tăng cường hợp tác song phương, hỗ trợ nguồn nhân lực về thể chế, chứ không phải là thỏa thuận về quản lý, giám sát và trao đổi thông tin thanh tra như yêu cầu trong dự thảo thông tư. Ngân hàng Nhà nước đang có kế hoạch ký thỏa thuận về với các cơ quan ở Australia, Singapore, Trung Quốc, Hong Kong, chưa có kế hoạch ký với Mỹ và các nước EU.

Để ký được một thỏa thuận theo đúng yêu cầu trong thông tư nêu trên, hai bên phải mất vài ba tháng. Như vậy, những ngân hàng đến từ Mỹ, EU, Australia như HSBC hay ANZ sẽ phải chờ một thời gian nữa mới có cơ hội lấn sâu vào thị trường Việt Nam.

Ma lực kinh doanh ngân hàng

Hồ sơ xin cấp phép gửi tới Ngân hàng Nhà nước đã lên đến 20 bộ, gấp đôi so với thời điểm cách đây 2 tuần, dù phải trên dưới 10 ngày nữa, quy chế thành lập ngân hàng mới có thể được ban hành.

Theo yêu cầu của Thủ tướng, ngay tháng 3 Ngân hàng Nhà nước phải trình dự thảo nghị định về quản trị, tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời công bố các tiêu chí, điều kiện, trình tự thủ tục và hồ sơ cấp phép thành lập mới ngân hàng, việc mở chi nhánh và tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần.

Một quan chức Ngân hàng Nhà nước cho hay, dự thảo lần cuối quy chế cấp phép thành lập ngân hàng đã được hoàn tất, sau khi lấy ý kiến các vụ chức năng trong cơ quan. Dự kiến đầu tuần sau, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ ký duyệt và gửi tới các bộ, ngành để xin ý kiến. "Dự thảo quy chế sẽ được trình lên Chính phủ và ban hành chậm nhất trong 10 ngày đầu tháng 4, trễ khoảng 1 tuần so với yêu cầu của Thủ tướng", vị quan chức này nói. Ông cho biết thêm, bản mới nhất không thay đổi nhiều so với dự thảo công bố cách đây hai tuần và tinh thần chung là không dễ dãi với việc cấp phép thành lập mới ngân hàng.

Trong khi quy chế cấp phép chưa hoàn tất, cuộc đua xin mở ngân hàng đang ngày càng nóng bỏng. 10 năm qua, Việt Nam chưa cấp phép thành lập bất cứ ngân hàng nào. Nhưng từ cuối năm ngoái đến giữa tháng 3 năm nay, đã có 10 hồ sơ nộp lên Ngân hàng Nhà nước. Và chỉ trong vòng nửa cuối tháng 3, lại có thêm 10 bộ. 2 trong tổng số 20 bộ kể trên là của ngân hàng nước ngoài, xin phép thành lập ngân hàng con 100% ở Việt Nam. Phần còn lại là của các pháp nhân trong nước, trong đó có cả những đại gia đến từ lĩnh vực công nghệ thông tin, dầu khí, những cái tên chẳng mấy quen thuộc trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng song rất có thực lực về vốn. Phần lớn các dự án đều có mức vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng.

Không chịu để những kẻ đến sau lấn lướt thị trường, các ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động cũng đua nhau tăng vốn. Anh cả Sacombank (Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương Tín) gây sốc bằng kế hoạch tăng vốn từ 2.089 tỷ đồng lên 4.450 tỷ đồng ngay trong năm 2007, thay vì dự định ban đầu là tăng lên 3.540 tỷ đồng. Anh hai ACB (Ngân hàng cổ phần Á Châu) không chịu kém, huy động từ các nguồn khác nhau để có thêm 1.500 tỷ đồng nhằm nâng vốn điều lệ lên 2.630 tỷ đồng.

Nhiều ngân hàng thuộc lớp đàn em cũng đang cố chen chân gia nhập câu lạc bộ 2.000 tỷ, 1.000 tỷ đồng. Ngân hàng Quốc Tế (VIB Bank) vừa đạt được quyết định sẽ tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng lên 2.500 tỷ đồng. Ngân hàng Đông Nam Á (SeaBank) cũng tuyên bố tăng vốn từ 1.000 tỷ đồng lên 2.600 tỷ đồng theo kế hoạch năm 2007.

Trong lúc này, hàng loạt ngân hàng cổ phần nông thôn (bị giới hạn hoạt động) cũng vội vã đệ đơn xin chuyển đổi mô hình thành ngân hàng đô thị nhằm mở rộng phạm vi, địa bàn hoạt động và tăng thị phần.

Thời của ngân hàng

"Trong bối cảnh hội nhập, nền kinh tế tăng trưởng cao và khát vốn, những người có đầu óc kinh doanh nhạy bén và có thực lực về vốn không thể không nhìn thấy ngân hàng là lĩnh vực đáng bỏ tiền đầu tư. Chúng tôi dự báo năm nay xu hướng thành lập mới ngân hàng sẽ nở rộ", Phó giám đốc Học viên Ngân hàng Tô Kim Ngọc trao đổi với VnExpress.

Theo bà Ngọc, trong nền kinh tế thị trường, tài chính ngân hàng luôn là lĩnh vực trọng tâm. Từ cuối thế kỷ trước, nhiều người đã dự báo thế 21 là thời đại của của các ngành kinh doanh tài chính, bảo hiểm, ngân hàng. Ở Việt Nam, những điều kiện cho sự phát triển của lĩnh vực ngân hàng được hình thành qua quá trình đổi mới và giờ đây đã trở nên chín muồi. Tốc độ tăng trưởng quy mô cũng như lợi nhuận ngân hàng đang là hấp lực với giới kinh doanh. Hơn nữa, ngân hàng đang là lĩnh vực hút vốn dễ nhất, kể cả qua hình thức huy động tiền gửi hay qua thị trường chứng khoán.

Theo lộ trình mở cửa, từ 01/04/2007, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài bắt đầu được hoạt động ở Việt Nam, tạo sức ép cạnh tranh không nhỏ với giới kinh doanh ngân hàng trong nước. Theo bà Ngọc, việc thành lập thêm các ngân hàng nội địa, hay sự tăng vốn, mở rộng chi nhánh của các ngân hàng đang hoạt động cũng là một xu hướng tốt cho nền kinh tế và tốt cho bản thân các ngân hàng nội địa.

"Đây cũng là cách để họ tăng thị phần, củng cố vị thế trước khi yếu tố ngoại tràn vào thị trường. Mặt khác, có thêm nhiều ngân hàng cũng tạo sức ép cạnh tranh lành mạnh, giúp nâng chất lượng dịch vụ và củng cố an toàn hệ thống theo hướng có lợi cho người dân, cho nền kinh tế", bà Ngọc bình luận.

Tuy nhiên, chuyện thiên hạ đổ xô kinh doanh ngân hàng khi ma lực của lĩnh vực này cực lớn là điều khiến cơ quan quản lý vốn đã thận trọng càng chặt chẽ hơn. Trao đổi với báo chí mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy tuyên bố không dễ dãi với chuyện cấp phép thành lập mới ngân hàng.

"Việc người ta đua nhau xin thành lập ngân hàng cho thấy đây là một lĩnh vực hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Song qua đó có thể nhìn thấy một động cơ lợi ích nhiều khi chưa được tính toán thật nghiêm túc. Bởi vì người ta thấy cổ phiếu ngân hàng nóng quá, cả cổ phiếu chính thức cũng như cổ phiếu OTC', ông Thúy lo ngại.

Từ góc độ nhà nghiên cứu, bà Ngọc cho rằng chưa có bằng chứng xác thực nào về việc tăng vốn, thành lập mới ngân hàng để trục lợi, bởi để đáp ứng được các tiêu chí xin tăng vốn, cấp phép của Ngân hàng Nhà nước không hề dễ dàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập, những ngân hàng quy mô nhỏ, chất lượng dịch vụ không đảm báo sẽ bị thị trường đào thải.

"Xu hướng thành lập ngân hàng, tăng vốn, nhìn chung là rất tốt cho nền kinh tế, với điều kiện các tiêu chí cấp phép phải chặt chẽ, minh bạch nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của bản thân ngân hàng và toàn hệ thống. Trong bối cảnh nền kinh tế đang cần vốn để tăng trưởng, điều quan trọng không phải là nên có bao nhiêu ngân hàng, mà quy mô và khả năng cung ứng đủ vốn của hệ thống ngân hàng mới là yếu tố tiên quyết", bà Ngọc nhận định.

Song Linh