NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Có nằm mơ, mới thấy công nghiệp Công Nghệ Sinh Học

TP. HCM tốn hàng trăm tỷ đồng đầu tư cho nghiên cứu Công nghệ sinh học nhưng sản phẩm cụ thể vẫn chưa thấy rõ. Trong khi đó, Công ty tư nhân Công nghệ sinh học Nam Khoa chỉ đầu tư hơn chục tỷ đồng đã có sản phẩm bán rộng rãi trên thị trường. GS TS Phạm Văn Biên, viện trưởng Viện Nông nghiệp miền Nam đã so sánh như trên tại buổi báo cáo chuyên đề về cơ chế triển khai ứng dụng sản phẩm Công nghệ sinh học của TP.HCM hôm 24/8/2004.

Công nghệ sinh học phải hướng đến sản xuất công nghiệp

"Mặc dù trình độ nghiên cứu Công nghệ sinh học của một số lĩnh vực của Việt Nam ngang bằng với các nước tiến tiến trong khu vực, tuy nhiên việc ứng dụng vào sản xuất thì chỉ đứng vào hàng trung bình." - TS Phan Minh Tân, phó giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ (KHCN) TP.HCM đã đưa ra nhận xét.

Theo ông Phan Minh Tân, mặc dù trong vòng năm năm trở lại đây, các nhà khoa học ngành Công nghệ sinh học đã có những đóng góp thiết thực cho thực tiễn sản xuất, nhiều công trình nghiên cứu được quốc tế thừa nhận. Bốn ngành công nghệ nền của Công nghệ sinh học là công nghệ gien, công nghệ tế bào, công nghệ enzim-protein và công nghệ vi sinh đã thu được nhiều kết quả, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ tế bào và công nghệ gien. Chẳng hạn, kết quả nghiên cứu Công nghệ sinh học đã giúp Việt Nam có thể tự túc 25% nhu cầu về giống lúa lai F1, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Kết quả nghiên cứu Công nghệ sinh học trong động vật: đã tạo ra 700 triệu liều vắc-xin thú y, đáp ứng 100% nhu cầu các cơ sở chăn nuôi của cả nước. Trong sản xuất giống, đã nhân giống thành công các loại cua, cá song, cá rô phi,... góp phần tăng sản lượng xuất khẩu, mỗi năm đạt doanh thu hàng trăm triệu USD.

Tuy nhiên, theo nhiều ý kiến của các nhà khoa học tham gia hội thảo, các kết quả phát triển Công nghệ sinh học vẫn chưa đóng góp được vào sự phát triển kinh tế của TP.HCM.

PGS TS Trần Linh Thước, chủ nhiệm chương trình Công nghệ sinh học TP.HCM cũng tỏ ra bức xúc: Trong kế hoạch 2003 và 2004, kinh phí đầu tư cho các đề tài khoa học Công nghệ sinh học dạng R&D ( nghiên cứu triển khai ) từ 0,9 - 1,32 tỷ đồng, các dự án sản xuất thử (P) là 1,1 - 1,4 tỷ đồng. Thế nhưng, mặc dù từ năm 2001 đến nay, nguồn kinh phí này đã tăng lên rõ rệt song vẫn còn rất khiêm tốn, công nghệ và sản phẩm thu được chưa hoàn thiện để có thể đi vào thực tế sản xuất.

Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao, mới, đòi hỏi thiết bị nghiên cứu hiện đại, trong khi xuất phát điểm của ta rất thấp. Do khả năng đầu tư hạn chế nên nghiên cứu cơ bản chưa bao quát được nhiều vấn đề, nhất là những vấn đề đòi hỏi về nguồn lực. Thậm chí khi đã nghiên cứu thành công, nhiều công nghệ nhân nhanh giống cây được đề xuất, song khi đưa ra sản xuất, các doanh nghiệp lại tỏ ra không mặn mà. Công nghệ sinh học chưa thật sự được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư để phát triển sản xuất.

Trong điều kiện kinh phí hạn chế, chương trình Công nghệ sinh học đến nay vẫn chưa xác định được mục tiêu và đối tượng cụ thể cần tập trung đầu tư dài hạn để có được công nghệ hoặc sản phẩm cụ thể. Chẳng hạn, trong năm 2003, Đại học Quốc gia (ĐHQG) TP.HCM đã phác thảo đề án đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học và đề xuất một phương án đầu tư của TP.HCM để hướng đến hình thành một trung tâm nghiên cứu, chuyển giao Công nghệ sinh học hiện đại dựa trên công nghệ gien, làm nền tảng để từng bước hình thành nền công nghiệp Công nghệ sinh học tại Thành phố. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có chủ trương rõ ràng về việc triển khai đề án.

Nhiều ý kiến cho rằng cách chỉ đạo triển khai chương trình Công nghệ sinh học của quốc gia và của TP.HCM như hiện nay là chưa thật sự hợp lý. Ở các nước khác, chỉ cần sử dụng thuật ngữ Công nghệ sinh học là đã có thể hiểu bao gồm cả hai khía cạnh: kinh tế và Khoa học - Công nghệ. Tuy nhiên ở ta, quá trình nhận thức về thuật ngữ Công nghệ sinh học vẫn tách biệt giữa khía cạnh kinh tế với khía cạnh Khoa học - Công nghệ. Do nhận thức Công nghệ sinh học là một lĩnh vực Khoa học - Công nghệ nên các chương trình Công nghệ sinh học ( của quốc gia cũng như của TP.HCM ) đều giao cho các cơ quan quản lý Khoa học - Công nghệ chủ trì tổ chức và triển khai. Theo cách này, có thể tạo được nhiều kết quả khoa học có giá trị nhưng chưa chắc đã tạo ra sản phẩm hàng hóa và tạo dựng được một nền công nghiệp hoặc kinh tế Công nghệ sinh học. Bởi muốn tạo ra sản phẩm hàng hóa thì phải có sự tham gia của các ngành kinh tế và các ngành mà sản phẩm sẽ được sử dụng.

Phải gắn Công nghệ sinh học với mục tiêu phát triển kinh tế

GS Phạm Văn Biên cho rằng không thể cứ ngồi và đặt ra vài việc sẽ làm được cho năm năm tới và vài việc cho mười năm tới, như thế sẽ là quá chậm so với tốc độ phát triển Công nghệ sinh học hiện nay của các nước. Để tạo ra những bước tiến nhanh về Công nghệ sinh học, phải gắn Công nghệ sinh học với mục tiêu phát triển kinh tế, coi đó là chương trình để phát triển kinh tế.

"Phát triển Công nghệ sinh học nhất thiết phải hướng đến sản xuất công nghiệp!" - TS Nguyễn Đức Lượng, chủ nhiệm Bộ môn Công nghệ sinh học, ĐH Bách khoa TP HCM đề nghị. TS Lượng cho rằng khi hướng đến nền công nghiệp về Công nghệ sinh học, TP.HCM cũng cần quan tâm việc đào tạo nguồn nhân lực cho Công nghệ sinh học. Chẳng hạn, trong chương trình đào tạo 300 tiến sĩ - thạc sĩ, TP.HCM nên dành hẳn một nửa số suất này để đào tạo ra các chuyên gia đầu ngành về Công nghệ sinh học (!). Ngoài ra, có thể mời các giáo sư giỏi của nước ngoài, đặc biệt là các giáo sư sắp về hưu, có nhiều kinh nghiệm, sang Việt Nam để đào tạo cho lớp trẻ. Nam Triều Tiên và Nhật Bản và gần đây là Thái Lan đã rất thành công với mô hình này. Ngoài ra, hướng đầu tư để phát triển Công nghệ sinh học của TP.HCM là thành lập Trung tâm Công nghệ sinh học như hiện nay cũng cần phải... "suy nghĩ lại cho chín chắn". Theo TS Lượng, Trung tâm này nên độc lập chứ không nhất thiết phải hoạt động theo sự quản lý của một Sở nào!

TS Trần Linh Thước đề xuất : Chương trình triển khai Phát triển Kinh tế Công nghệ sinh học của TP.HCM phải xác định được chiến lược, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, chính sách tài chính-đầu tư, triển khai kết quả, thị trường,... Chương trình này chỉ cần một Ban chỉ đạo trực thuộc UBND TP.HCM, gọi tắt là Ban Kinh tế Công nghệ sinh học . Ban này phối hợp với các cơ quan quản lý cấp thành phố và Hội đồng Tư vấn Công nghệ sinh học để trực tiếp triển khai chương trình.

KS Nguyễn Văn Chiến, phó giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường TP HCM cũng cho rằng nếu cứ tiếp tục theo cơ chế xin-cho thì rất khó lòng bàn đến việc triển khai ứng dụng và phát triển sản phẩm. Các nhà khoa học cần liên kết với các đồng nghiệp ở các nước có nền Công nghệ sinh học tiên tiến để tham khảo và học hỏi. Liên kết để học cũng phải có mục tiêu, thời gian và sản phẩm cụ thể, học đến nơi đến chốn chứ không lở dở nữa chừng. "Những vấn đề được bàn bạc đều... tầm cỡ và vĩ đại nhưng dường như bước đi về sản phẩm Công nghệ sinh học vẫn quá chậm! Chiến lược vĩ mô mà năm năm tới sẽ làm được vài việc, mười năm tới vài việc thì cho dù có 4.000 nhà khoa học và hàng nghìn tỷ đồng vẫn không thể làm được gì. Vì vậy, để phát triển Công nghệ sinh học, cần phải có những bước tiến nhanh hơn những cái ta nghĩ ra. Để làm được điều này, phải gắn mục tiêu phát triển Công nghệ sinh học với việc phát triển kinh tế, coi đó là chương trình phát triển kinh tế." - ông Chiến đề nghị.

Tổng kết cuộc họp, TS KH Nguyễn Thiện Nhân, phó chủ tịch thường trực UBND TP HCM cho rằng thu hoạch từ những ý kiến đóng góp sẽ được ghi nhận và xem xét. Trước mắt, TP.HCM sẽ tiếp tục phát triển Công nghệ sinh học theo hướng ưu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp để có thể ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu. Sau đó, sẽ mở rộng sang các lĩnh vực công nghiệp, y dược. So với ngành công nghệ thông tin, tốc độ phát triển của ngành Công nghệ sinh học vẫn còn rất chậm. Sắp tới, TP.HCM sẽ đẩy mạnh việc phát triển nguồn nhân lực Công nghệ sinh học bằng việc đưa ra nước ngoài đào tạo và thuê các chuyên gia giỏi của nước ngoài đến đào tạo trong các trường Đại Học của Thành phố.

Phan Thu Thảo