NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Bài toán an ninh Năng Lượng Việt Nam - PGS TS Vương Hữu Tấn

“Mặc dù đã rất nỗ lực xây mới nhiều nhà máy thủy điện và nhiệt điện tại các địa phương trong thời gian qua, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ thiếu hàng chục tỷ kWh điện cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt mỗi năm”. Đây là thông tin được Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Vương Hữu Tấn đưa ra trong buổi họp báo “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình” tại Hà Nội cuối tuần qua ( 22-2-2006 ).

Ông Tấn cho biết, theo phương án cơ sở ( giả thiết tốc độ tăng trưởng GDP là 7,1%/năm cho giai đoạn 2001- 2020 ), nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam sẽ là 201 tỷ kWh vào năm 2020 và 327 tỷ kWh vào năm 2030. Trong khi đó, khả năng huy động tối đa các nguồn năng lượng nội địa cho sản xuất điện của Việt Nam chỉ tương ứng là 165 tỷ kWh và 208 tỷ kWh. Như vậy, năm 2020, Việt Nam sẽ thiếu khoảng 36 tỷ kWh và năm 2030 thiếu gần 119 tỷ kWh.

Để giải quyết vấn đề này, trong Chiến lược Phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định hướng đến năm 2020, một trong các phương án cung ứng điện năng mà Bộ Công nghiệp đang đề xuất với Chính phủ là xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Với những ưu điểm về công nghệ cao, vận hành ổn định, chi phí và khối lượng dự trữ nhiên liệu nhỏ, ít phát ra khí thải ô nhiễm..., điện hạt nhân sẽ là một trong những lựa chọn khả thi trong cân đối nhu cầu điện của Việt Nam.

Theo dự án trình Chính phủ, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam sẽ được xây dựng với quy mô công suất 2.000 - 4.000 MW ( bằng gần 10% tổng công suất phát điện quốc gia ). Các địa điểm được khảo sát, nghiên cứu để đặt nhà máy có thể là Ninh Thuận hoặc Phú Yên. “Nếu Chính phủ phê duyệt dự án nghiên cứu tiền khả thi trong năm 2006, thì nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam có thể hoà lưới điện quốc gia vào năm 2020, hoặc sớm hơn là năm 2017”, ông Tấn cho biết thêm.

Điểm mạnh của điện hạt nhân so với các nhà máy sản xuất điện năng truyền thống, như thuỷ điện hay nhiệt điện, là sử dụng rất ít diện tích đất đai, không phát thải khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính, trong khi chi phí cho nhiên liệu, vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân chỉ chiếm 20 - 25% giá điện. Do đó, nếu giá nhiên liệu tăng gấp đôi thì giá thành sản xuất điện hạt nhân chỉ tăng thêm 2 - 4%, trong khi giá nhiệt điện có thể tăng đến 60 - 70%...

Mặc dù vậy, theo đại diện các bộ, ngành chức năng, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức đặt ra cho việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Trước hết, vốn đầu tư ban đầu vô cùng lớn. Để có một nhà máy điện hạt nhân công suất 2.000 MW thì số vốn đầu tư ban đầu lên đến gần 4 tỷ USD. Đồng thời, sự thiếu hụt nhân lực có trình độ, kinh nghiệm, nhất là chuyên gia quản lý nhà máy điện hạt nhân, cũng là một trong những thách thức hàng đầu đối với chương trình này. Thêm vào đó, tâm lý lo ngại của công chúng về mức độ an toàn, khả năng xử lý chất thải phóng xạ và đảm bảo an ninh cho các cơ sở hạt nhân cũng là những thách thức không nhỏ, nhất là với một nước chuẩn bị xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên như Việt Nam.

Trước những mối quan ngại về độ an toàn của điện hạt nhân, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, trong thực tiễn, tai nạn do điện hạt nhân gây ra là hết sức hy hữu. Ngày nay, các chất thải phóng xạ của điện hạt nhân hoàn toàn có thể kiểm soát được bằng công nghệ và thiết bị hiện đại.

Thống kê của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cho biết, đến năm 2005, trên thế giới đã có 441 tổ máy điện hạt nhân tại 32 quốc gia và vùng lãnh thổ, cung cấp 16,1% sản lượng điện năng toàn cầu. Theo phân tích của các chuyên gia lĩnh vực an toàn năng lượng, trong một tương lai không quá xa thì điện nguyên tử sẽ vẫn là giải pháp thích hợp cho bài toán an ninh năng lượng của nhiều quốc gia.