NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Năng lượng nguyên tử : lợi hay hại ?

Hãy thử tưởng tượng : đến năm 2050, Australia vẫn còn là một đất nuớc may mắn, thêm sự tự hào, với sự ghen tỵ của thế giới, sở hữu một nguồn năng lượng nguyên tử khổng lồ: một nền kỹ nghệ năng lượng do chính quyền Australia kiểm soát cung cấp tới 35% năng lượng toàn cầu; những cơ sở dùng điện năng nguyên tử cho việc lọc nước biển để giải quyết vấn đề kham hiếm nước ngọt của quốc gia, công nhân viên chức lái những chiếc xe chạy bằng hydrogen không bị ô nhiễm đến sở làm; vấn đề toàn cầu bị hâm nóng không còn là một đe doạ; và, vâng, Australia là nơi có những hầm sâu dưới lòng đất lớn nhất thế giớì để chứa những vật liệu nguyên tử phế thải.

Tất cả những điều vừa kể xảy đến vì người ta đã bắt đầu tranh luận vào năm 2006, dẫn đầu bởi Australia, theo từng bươc để, đầu tiên, mở rộng sự thám hiểm và khai thác mỏ uranium, thứ đến, bao gồm sự làm giàu quặng để sinh lợi nhiều hơn trong việc xuất cảng uranium. Bườc kế tiếp, tiến tới thế hệ dùng nguyên tử năng, và cuối cùng, có ý nghĩa hơn hết, là trở thành một trong những chủ nhân chính trong việc cho thuê nhiên liệu hạt nhân.

Trong lúc này, cả thế giới đang lo lắng về nguồn tin Bắc Hàn đang chuẩn bị cho cuộc thí nghiệm phóng thử loại hoả tiễn tầm xa, có khả năng mang các đầu đạn nguyên tử đến tận nước Mỹ. Đồng thời, Iran cũng đang làm châu Âu điên đầu với cái chương trình tinh luyện uranium, quyết tâm đòi tham gia vào cái trò chơi mang đầy tính huỷ diệt này.Bên cạnh đó, Sư thay đổi khí hậu thời tiết, bắt nguồn từ sự hâm nóng toàn cầu do vấn đề môi trường bị ô nhiễm đang gây ra những tác hại đến mức báo động. Sức tàn phá kinh khủng của các thiên tai gần đây như sóng thần Tsunami hoặc cơn bão Katrina là những bằng chứng cụ thể. Sự huỷ diệt của chúng tương đương hàng trăm , hàng ngàn trái bom nguyên tử, quá to lớn đến nỗi con người đang chú tâm hơn vào vấn đề làm sạch môi sinh. Một trong những nguyên nhân chính gây ra những tai hoạ trên là do những hoạt động của con người, đặc biệt do sự khai thác công nghệ. Các nguồn gây ô nhiễm chính là từ than đá và nhiên liệu dầu hoả. Càng phát triển công nghệ, con người càng cần nhiều hơn các nguồn năng lượng. Than đá và nhiên liệu là những nguồn dự trữ có hạn, gây ô nhiễm và ngày càng cạn kiệt đi. Chính vì thế, người ta đang hướng đến những nguồn năng lượng mới. Nguồn năng lượng có khả năng thay thế gần nhất trong thời gian 20 năm tới là nguồn năng lượng nguyên tử. Nên hay không nên xử dụng nguồn năng lượng này là một đề tài đang được bàn cãi. Nhất là vấn đề có nên xây dựng các lò phản ứng nguyên tử để phát sinh điện năng, nguồn lực cung cấp chính cho công nghiệp. Hiện tại, trên thế giới đã có hàng chục quốc gia có những nhà máy điện nguyên tử. Chẳng hạn, Hoa Kỳ đã có 109 lò trên toàn quốc , China cũng đã có 9 lò đang hoạt động, và còn đang xây dựng thêm 5 lò khác. Ngay cả Việt Nam nghe đâu cũng đang có dự án lập một nhà máy điện loại này ở Tân Thuận? Nước Úc là quốc gia có trữ lượng Uranium nhiều nhất thế giới, nhưng lại chưa có một nhà máy điện nào chạy bằng nhiên liệu nguyên tử. Vì vậy, vấn đề khai thác mỏ Uranium và sự thiết lập lò phản ứng nguyên tử cùng các nhà máy điện đang là một đề tài tranh luận nóng bỏng. Chính phủ Howard thuộc liên đảng cầm quyền đang đưa vào nghị trình cho việc ủng hộ các dự án, trong khi đảng Lao động đối lập tỏ ra chống đối. Chúng ta, những người dân bình thường, thử theo dõi một vài diễn tiến để thử đánh giá sự lợi hại của việc dùng nguyên tử vào các mục tiêu hoà bình.

Nhưng trước hết, xin tóm lược một cách thật sơ lược về sự biến đồi từ Uranium ra việc phát sinh điện năng và nhửng tác động khác của nó, để chúng ta, những người dân thường (không phải là các nhà khoa học) nắm bắt được những điểm chính và dễ theo dõi các tranh luận của các viên chức chính phủ và các nhà khoa học trí thức.

1. Khai mỏ:

Uranium được khai thác từ các quặng mỏ. Sự phân hạch nguyên tử (nuclear fission) xảy ra khi một số lượng nguyên tử nhất định của chất Urnium được chuyển hoá và làm giàu để phân tách ra trong một phản ứng dây chuyền sẽ phát sinh năng lượng.

2. Sự chuyển hoá:

Quặng thô Urnium được đưa vào nhà máy tán nghiền ra thành một thứ bột mịn. Sau đó dùng hoá chất để tinh luyện và đóng lại thành những bánh màu vàng (yellow cake). Các bánh vàng chứa khoảng 60 – 70% uranium và có tính phóng xạ (radioactive).

3. Sự làm giàu:

Chất Uranium được đốt trong một máy ly tâm cho đến khi nó biến thành một chất hơi (gas, có tên uranium hexafluoride). Chất hơi này được điều chế để phân tách loại uranium – 235 nguyên tử có phản ứng cao ra từ loại uranium – 238 nguyên tử nặng. Người ta thu thập lấy loại u-235 có phản ứng cao này vì nó có khuynh hướng dễ phân trong một phản ứng dây chuyền.

4. Lò phản ứng:

Uranium được làm giàu ờ trên là những viên uranium nhỏ dài chừng 2 – 3 cm. Người ta nối kết chúng lạt thành những cây gậy dài và để nguội chúng trong một phòng có sức ép. Trong một phản ứng phân hạch, chúng sẽ sinh nhiệt để đun nóng nước bốc thành hơi làm quay tua bin để phát sinh điện lực.

5. Phế liệu uranium:

Chất uranium - 238 nguyên tử nặng bị loại ra trong quá trình làm giàu trên được gọi là phế liệu uranium. Chất này chỉ hơi có tính phóng xạ, thường được dùng làm vỏ bọc sắt và các loại vũ khí khác .

6. Vũ khí hạt nhân:

Một lò phản ứng nguyên tử chỉ dùng loại uranium được làm giàu có chứa đựng tối đa 3% loại u-235. Các vũ khí nguyên tử cần loại có chứa ít nhất 90% chất uranium này. Trong một trái bom nguyên tử, một “đầu đạn” u-235 được bắn vào trong một quả cầu chứa đấy u-235, phản ứng dây chuyền gây nên 1 vụ nổ nguyên tử.

Chính quyền và các cuộc tranh luận

Những cuộc tranh luận trên thế giới về vấn đề năng lượng gần đây được khuấy động trở lại, các luật lệ về chính sách đang được tu sửa cho phù hợp với tình hình mới. Giá xăng dầu ngày càng tăng. Giá uranium cũng thế. Sự bốc hơi gas làm cho thời tiết trở nên bất ổn vì 2 cực từ từ tan băng. Những người làm chính sách đang tìm cách giải quyết cho nhu cầu cung ứng đủ nhiên liệu cho sự sản xuất và sự tăng trưởng kinh tế mà vẫn không làm trái đất nóng lên. Đối với một số người, năng lượng nguyên tử (nuclear power) là câu trả lời.

Nhưng ở đây lại nổi lên một sự thách đố: làm sao để chôn giấu an toàn những phế liệu vẫn còn nguy hại của nó và quản lý những kỹ thuật làm giàu uranium như thế nào để khỏi rơi vào tay những kẻ độc ác muốn xử dụng nó để chế tạo vũ khí ngõ hầu có phương tiện đe doạ khống chế toàn thế giới?

Một giải pháp đang ngày càng được ủng hộ là thay vì bán thì chỉ cho thuê các nhiên liệu nguyên tử, như trường hợp Russia đã đề nghị cho Iran (nhưng họ bác bỏ) vài tháng trước đây. Theo giải pháp này. Quốc gia có lò phản ứng để biến thành điện năng có thể thuê nhiên liệu nguyên tử từ một nguồn thật an ninh và được quốc tế chấp nhận.. Sau khi dùng xong, họ phải hoàn trả lại số phế liệu về người cho thuê. Những người này sẽ tồn trữ để đem chôn an toàn lần cuối.. Với cách này, người ta tránh được nguy hiểm của một quốc gia (hay một nhóm người) thu tóm được đủ nhiên liệu dự trữ, rồi dùng kỹ thật cần thiết biến đổi loại nhiên liệu này thành các chất liệu, bao gồm plutonium, chất thường được dùng để chế tạo các loại vũ khí nguy hiểm, kể cả bom bẩn.

Hiện nay trên toàn cầu, phong trào bảo vệ môi sinh đang cứu xét lại lập trường chống nguyên tử cứng rắn của họ.Chẳng hạn, Patrick Moore, một trong những người thành lập và lãnh đạo phong trào xanh, đã công khai ủng hộ năng lượng nguyên tử được xử dụng trong mục đích hoà bình là một phần của chính sách hỗn hợp chống lại sự hâm nóng toàn cầu.

Đầu năm 2006, nhiều lý thuyết gia và các nhà lãnh đạo chính phủ trên thế giới đã đưa nguyên tử vào nguồn năng lượng hỗn hợp của họ.Một số quốc gia đang cộng tác với nhau để cùng khảo sát những phương thức vừa làm tăng độ an toàn của nguồn năng lượng, vừa làm giảm đi những nguy cơ do sự phát sinh nguyên tử.

Vì thế, trong tháng 5 vừa qua, khi đang còn thăm viếng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, thủ tướng Úc John Howward đã tuyên bố rằng, nước Úc cần chú tâm vào nguồn năng lượng nguyên tử. Ông muốn ở trong nước phải có những cuộc tranh luận thật sội nổi và đi đến tận cùng của vấn đề vào những ngày tới.Một phóng viên báo nói với ông về sự độc hại của nguyên tử năng trong lãnh vực chính trị, nhất là với các chất phế thải của nó. Ông thủ tướng trả lời ngay:” Tôi cho rằng ý kiến công luận đã thay đổi. Nhưng cho dù chưa đi nữa, không phải là nhà lãnh đạo có trách nhiệm khơi mào cho việc tranh luận về những vấn đề quan trọng cho đất nước sao? Cho dù vấn đề có khó khăn nan giải đến mấy?”

Nếu tưởng rằng ý tưởng này chỉ mới nảy mầm trong đầu ông vào thời điểm này thì bạn đã lầm. Thực ra, cái diễn tiến chống hay ủng hộ việc Úc có nên bước vào con đường nguyên tử năng hay không đã có từ lâu.

Phía ủng hộ, họ nói đến những lợi ích về tiềm năng của một mội trường xanh trong sạch hơn, viễn ảnh về một nền kỹ nghệ chế tạo nội địa mới(tinh luyện uranium) cho nước Úc, khả năng về một chiều hướng mới về mối liên hệ an ninh quốc phòng với Hoa Kỳ, ngay cả sau khi thời đại thân thiết giữa Howard và Bush đã qua, lại còn có thể có chút áp lực lên cái chính sách cấm khai thác mỏ Uranium lỗi thời của đảng Lao Động đối lập.

Phía chống đối, ngoài những câu hỏi rõ ràng có tính cách chính trị về sự an toàn trong cách bảo quản, tồn trữ và chôn giấu phế liệu, còn có những nghi ngờ về phương diện kinh tế: liệu nguyên tử năng có là một lựa chọn tốt cho nước Úc, nơi nguồn than đá vùa nhiều vừa rẻ không?

Trở lại với sự tranh luận, người ta có thể theo dấu sự khởi đầu của nó từ cuối năm 2004. Các chính trị gia Úc đang nghỉ ngơi sau cuộc bầu cử khó khăn làm họ kiệt sức. Ông Ian Mcfarlane, người cầm đầu bộ tài nguyên và năng lượng cũng không ngoại lệ. Trở về tắm nắng nơi bãi biển Toowomba, quê hương của ông. Trên chiếc ghế bố, Ian không hoàn tòan ngơi nghỉ. Ông bắt đầu nghiên cứu các tài liệu mật về kỹ nghệ khai thác uranium và sự phát triển toàn cầu về nguyên tử năng: Ian đang tìm một lộ trình để nước Úc tham gia vào trò chơi theo bước chân của nhiều nước khác. Một ý tưởng đáng “gờm” cho một quốc gia đã gắn chặt với các mỏ than đá và sự hiểu biết tương đối về nguyên tử chỉ là những hình ảnh ghê rợn của các biến cố Chernobyl và Hòn Đảo Ba Dặm (Three Mile Island). Cho rằng đã có sự thay đổi trong công luận có thể bị coi là mị dân, xảo trá cả về chính sách lẫn chính trị.

Quả thực, Úc đã có những bước đi trên con đường nguyên tử năng từ trước, mặc dù không mấy ai để ý: chính quyền đã có những cuộc thương thảo để bán nguyên liệu uranium cho Trung Quốc. Đây là sự thay đổi lớn cho kỹ nghệ khai mỏ. Công ty Western Mining (thuộc tổ hợp BHP)làm chủ hầm mỏ uranium lớn nhất Úc tại Olympic Dam, tiểu bang Nam Úc từ lâu vẫn theo đuổi mục tiêu được bước chân vào thị trường năng lượng lớn nhất thế giới. Quyết định bán những”miếng bánh vàng” cho Trung Quốc được thông qua dễ dàng., ngoại trừ thiểu số ít ỏi, người dân không ai chú ý, mãi cho tới 2 tháng trước khi bản thoả thuận được ký kết với thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và được công bố vào đấu năm nay (2006). Tuy nhiên, muốn bán uranium cho Trung Quốc, Úc cần phải thay đổi nhiều luật lệ cả về chính sách và chính trị, và cần thay đổi thật mau..

Thứ nhất, Úc phải tăng tốc độ sản xuất và mở rộng kỹ nghệ khai thác mỏ thật nhanh. Có nghĩa là Úc phải tìm cách tháo bỏ những giới hạn về việc cấm khai thác mỏ uranium trong nhiều tiểu bang. Đồng thời. một chiến lược cần khai triển để thuyết phục số công luận vẫn còn do dự, e ngại, cho họ có niềm tin về cái ý niệm nguyên tử đã phát triển vượt khỏi lằn ranh của hiểm hoạ và đáng ngờ vực như đã từng lo sợ trước đây.

Thế là,: từ sự chỉ khai thác uranium như một nguyên liệu thô xuất cảng ,lại nảy sinh một vấn đề khác trong tranh luận: có nên tham gia vào kỹ nghệ nguyên tử năng quốc tế bằng sự phát triển nền kỹ nghệ tinh luyện uranium trong nước, làm tăng giá trị cho chất uranium nhiều lần hơn với sự sản xuất ra loại nhiên liệu “cây gậy nguyên tử” hay không?

Tháng 2 năm ngoái (2005), Ian Macfarlane trở lại Canberra với một sách lược vững vàng để chuẩn bị cho cuộc tranh luận. Trong cương vị một Tổng trưởng kỹ nghệ tài nguyên với những đơn đặt hàng dường như vô hạn về các nguồn nguyên liệu của các quốc gia khác, ông không gặp khó khăn trong chuyện đi tìm hỗ trợ cho sự phát triển mạnh hơnviệc khai thác các mỏ uranium. Được các nhân vật quan trọng trong chính phủ đương nhiệm ở hàng ghế trước như các ông Alexander Downer, ngoại trưởng, đến Brandon Nelson, Tổng trưởng quốc phòng ủng hộ mạnh mẽ, Macfarlane đã đưa ra 3 quyết định về chính sách có tính cách tối quan yếu trong năm 2005. Một là quyết định yêu cầu ủy ban tài nguyên của quốc hội lưỡng viện liên bang điều hành một cuộc khảo sát mới về việc khai thác mỏ uranium. Ủy ban này hiện có một thành viên rất quan trọng cho sự tranh luận: Dân biểu Martin Ferguson của đảng đối lập Lao Động.Ferguson , tuy là đảng viên Lao Động , 1 đảng có chính sách chống lại việc khai thác uranium, lại là người thấu hiểu tầm quan trọng của việc tranh luận. Ông ta có chương trình nghị sự riêng. Quan trọng hơn, ông ta muốn sửa đổi lại chính sách cấm mở mang thêm các mỏ uranium cố hữu của Lao Động. Quyết định thứ hai của Macfarlane là thiết lập một nhóm hội nghị mới, do John White, 1 kỹ nghệ gia thành phố Melbourne cầm đầu để nghiên cứu một kế hoạch phát triển 3 năm cho nền kỹ nghệ khai mỏ uranium. Ba là quyết định xác nhận quyền hạn cũa chính phủ liên bang trong việc điều hành kiểm soát mỏ uranium tại lãnh thổ Bắc Úc . Đây là một thành quả lớn lao cho chính phủ trong việc phát triển tương lai của ngành hầm mỏ trên lãnh thổ này.

Tuy nhiên , chính quyền Canberra (Canberra= thủ đô của Úc, ngụ ý chính phủ liên bang) có những trở ngại lớn với các tiểu bang khác . Xin đươc nói thêm ở đây: Hiện tại, tất cả các vi Thủ Hiến (Premier, tương đương với Thống Đốc của các tiểu bang Mỹ) của các tiểu bang Úc đều thuộc đảng Lao Động, đối lập với chính quyền liên bang. Ngoài tiểu bang Nam Úc (South Australia) và Lãnh thổ Bắc Úc (Northern Territoy) nơi đang có những mỏ uranium được khai thác, những vị Thủ Hiến khác đều chống lại dự án khai thêm mỏ và việc khai thác nguyên tử năng. Steve Bracks, thủ hiến tiểu bang Victoria nói rõ ông ta không có hứng thú về vấn đề nguyên tử. Tuy nhiên, tiểu bang này không có trữ lượng uranium. Việc chính phủ của ông Howard cần làm là thuyết phục 2 tiểu bang Queensland và Tây Úc (Western Australia). 2 tiểu bang này có trữ lượng đáng kể, nhưng cho tới nay vẫn từ chối khai thác. Cho đến nay, ọ vẫn chưa tỏ dấu hiệu muốn thay đổi thái độ. Tuy nhiên, nếu có một sự thay đổi về chính sách của đảng Lao Động liên bang về vấn đề hầm mỏ uranium trong hội nghị toàn quốc vào tháng Tư năm tới, tình hình có thể có chuyển hướng có lợi cho chính quyền liên bang. Thủ hiến Peter Beatie của tiểu bang Queensland ngụ ý đang mong chờ có sự thay đổi.

Thế nhưng, khai thác mỏ hay không mới chỉ là một vấn đề. Dùng nguyên tử như một nguồn năng lượng lại là vần đề hoàn toàn khác. Cho tới lúc này, dường như các vị Thủ Hiến chưa muốn đề cập tới. Lãnh tụ đối lập liên bang Kim Beazley đã tuyên bố chắc chắn, nếu cầm quyên, đảng Lao Động liên bang sẽ không ủng hộ việc dùng nguyên tử năng để phát sinh nguồn điện trong nước Úc.

Ông White, người trong 5 năm qua đã cầm đầu việc nghiên cứu xây dựng một hệ thống kỹ thuật cơ bản để giải quyết những chất thải của thành phố sẽ đưa báo cáo tổng kết lên tổng trưởng Macfarlane vào tháng 7 này. Theo ông, nguyên tử năng hiện là câu trả lời cho việc giải quyết nhu cầu năng lượng thế giới ít nhất cho đến khi tìm được những nguồn năng lượng khác hữu hiệu hơn. Ông cũng là thành viên của nhóm “cho thuê nguyên tử năng toàn cầu”, một tập trung những người, trong thập niên vừa qua, đã đang phát triển một sách lược toàn diện về sự phát triển kỹ nghệ hạt nhân. Nhóm này đang cổ võ tích cực việc cho thuê nhiên liệu hạt nhân như một phương pháp hữu hiệu để vượt qua những lo ngại vể việc dùng nguyên tử năng một cách sai lầm, đồng thời, giúp hạn chế việc hâm nóng toàn cầu. White đánh giá cao những chống đối, những hàng rào ngăn cản xét về mặt chính trị, nhưng cuối cùng, người dân vẫn phải có sự lựa chọn:

“50 năm trước, nước Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki, chúng tạo nên nỗi sợ hãi có cơ sở vể hiểm hoạ của việc phát triển nguồn nhiên liệu nguyên tử và con người đã chọn cách chống lại nó. Ngày hôm nay, hiểm hoạ hủy diệt sự sống của việc hâm nóng toàn cầu còn kinh khủng hơn..Với nền kỹ thuật cao và các biện pháp an toàn, mối nguy hại về nguyên tử được kiềm chế chặt chẽ hơn . Chúng ta cần có một lựa chọn khác. Điều cần tránh là đi vào những tranh cãi đã lỗi thời với những lối nghi ngờ cũ .Chúng ta cần có những con người mới, có lối suy luận căn bản hợp thời, để giúp chúng ta lựa chọn cho thích đáng.”

Chống đối : còn nhiều khủng bố và còn đắt đỏ lắm

Kenneth Davidson, một nhà báo cánh tả thuộc nhóm môi trường xanh, phê bình thủ tướng John Howard chưa đặt nặng vấn đề làm sạch môi trường trừ khi ông sẵn sàng đặt thêm thuế vào khí thải carbon , cũng như đồng ý (và áp lực buộc Hoa Hỳ) ký vào nghị định thư Kyoto về hiệu ứng nhà kính. Theo Davidson, Ông Howard chịu áp lực của giới công nhân mỏ than. Thủ tướng thừa nhận trữ lượng than của Úc (ở Lòng Chảo Sydney và thung lũng Latrobe) rất dồi dào, vì thế, ông sẵn lòng tiêu tiền thuế của dân vào việc nghiên cứu các nguồn năng lực tiềm ẩn trong lòng đất hơn là quan tâm đến sự phát triển các nguồn năng lượng có thể tái tạo khác ( như nhiệt lượng mặt trời, sức gió…). Cánh hữu ở Úc trước đây chỉ nhượng bộ rất miễn cưỡng về việc ô nhiễm môi trường gây ra bời các hoạt động của con người. Cánh tả (Các đảng Lao Động, Dân Chủ, Xanh… trong đó có Davidson) thì nhận thức rất rõ sự tác hại của việc thế giới bị hâm nóng và muốn bàn cãi thật nghiêm chỉnh về những thay đổi cần có về luật lệ và giá cả để cải thiện tình trạng nguy hại này bằng cách chuyển hết phần thuế từ những hoạt động bảo toàn năng lượng sang cho những hoạt động làm ô nhiễm môi trường.

Hơn một năm trước đây, nhà sinh thái học lỗi lạc James Lovelock khẳng định rằng trái đất đã tiến tới một điểm mà nguy cơ của nguyên tử năng không còn đáng kể so sánh với sự nguy hại ghê gớm của thế giới bị hâm nóng. James Lovelock đưa ra lý thuyết Gaia, được so sánh như cuộc cách mạng trong thời kỳ Phục Hưng 500 năm trước, khi con người thay thế thần thánh chi phối địa cầu. Thuyết Gaia cho rằng, trái đất phải được đối xử như một sinh vật (living organism), có nghĩa là khả năng sống còn của nó phải được đặt ưu tiên trước quyền lợi riêng tư của con người hay một quốc gia. John Howard chỉ có được một nửa sự thật khi nói về sự lựa chọn nguyên tử. Không thể không quan tâm đến tính chất thiếu an toàn do sự phóng xạ của phế liệu nguyên tử sau khi đã phát ra điện năng vẫn còn tính huỷ diệt cao độ. Trên thế giới, càng có nhiều lò phản ứng phát điện nguyên tử, các quốc gia côn đồ và các bọn khủng bố cuồng tín càng có nhiều cơ hội để chiếm đoạt, tích trữ chúng để chế tạo các lọai bom bẩn, loại bom có khả năng huỷ diệt nền văn minh của nhân loại. Vì thế, cánh tả chắc chắn sẽ bỏ phiếu chống lại những dự luật của các nhà chính trị muốn xây dựng các nhà máy nguyên tử trong nước.

Có một số quốc gia, vì những đìều kiện địa lý khó khăn trong việc tìm nguồn điện năng, họ phãi lựa chọn giải pháp dùng nguyên tử năng để phát sinh điện. Họ có thể đáng tin tưởng, vì đã ký vào hiệp ước chống vũ khí hạt nhân, sẵn sàng cho các nhân viên Liên Hiêp Quốc vào thanh tra các lò phản ứng. Nước Úc không cần phải day dứt vì đã bán nguyên liệu uranium cho họ, nhưng nước Úc chưa cần đến loại điện năng nguyên tử này vì trữ lượng than đá và ngay vả các loại khí đốt thiên nhiên ít ô nhiễm hơn còn rất dồi dào. Hơn nữa, giá thành của nó còn quá cao so với giá của các nhà máy điện chạy bằng than đá. Giá điện từ nhà máy điện nguyên tử từ $70 đến $100/ MWh so với $13/MWh của máy điện chạy bằng than. Để cho loại điên năng chạy bằng nguyên tử có tính cạnh tranh, chính quyền phải đánh loại thuế ô nhiễm (carbon tax) từ $40 đến $50/ tấn. Liêu người tiêu thụ có chấp nhận? Kết quả: giá tăng quá cao, nhu cầu xử dụng điện năng sẽ bị cắt giảm tối đa đến mức không cần thiết loại điện năng nguyên tử nữa. Điều này không có nghĩa là người dân Úc sẽ chịu lạnh vào mùa đông và nóng nực vào mùa hè. Trái lại, họ sẽ đầu tư vào nguồn khác như các dụng cụ bảo tồn năng lượng (insulation) và hệ thống xử dụng năng lượng mặt trời. Hiện nay, hệ thống tồn trữ năng lượng mặt trời cần tới một thời kỳ 10 năm mới có lợi so với giá điện thường . Nhưng với $40 thuế ô nhiễm phải trả, thơì gian giảm xuống chỉ còn 4 năm.Thuế này cũng phải áp dụng vào các nhiên liệu chuyên chở như xăng dầu làm con người và hàng hoá sẽ xử dụng phương tiện chuyên chở công cộng nhiều hơn. Cuối cùng, khi đánh thuế ô nhiểm cao, chính quyền lại phải tìm cách bớt thuế lợi tức cá nhân và thuế tiêu thụ để làm giảm gánh nặng thuế má cho người dân, cái vòng lẩn quẩn lại xảy ra, rốt cuộc không giải quyết được gì.

Ý kiến của các nhà khoa học,kỹ nghệ

Keith Alder, một cựu ủy viên của ủy ban nguyên tử năng từng có tham vọng phát triển nền kỹ nghệ nguyên tử nước Úc trước khi bị các nhà chính trị loại bỏ. 35 năm trước, vào năm 1971, ông đãđược cấp một kinh phí khoảng 2 triệu Úc kim, đã hoàn tất một con đường thật đẹp dẫn đến vịnh Jervis, một vị trí trên bờ biển New South Wales được chọn làm nơi xây dựng nhà máy điện nguyên tử đấu tiên của Úc. Alder, người cầm đầu uỷ ban, đã đưa ra một dự thảo với đầy đủ chi tiết kỹ thuật cho các nhà thầu kỹ nghệ. Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì bất ngờ thủ tướng thời đó là McMahon huỷ bỏ, hay nói đúng hơn, hoãn lại dự án một năm, sau đó lại hoãn thêm lần nữa, nhưng lúc này, thời hạn đấu thầu cũng đã quá hiệu lực. Là một người nhiệt tâm, Alder tỏ ra rất tiếc. Đối với ông, phải chi dự án hoàn tất vào đúng thời điểm, thời hạn trả góp trong 25 năm đã trôi qua, giờ này nước Úc đã có được một nguồn điện thật rẻ. Tuy thất vọng, Alder không đầu hàng. Ông tập trung vào nghiên cứu việc dùng máy ly tâm làm giàu chất uranium, và ông hoàn tất công việc vào năm 1978. 2 năm sau đó, 4 công ty lớn nhất của Úc kết hợp lại thành một nhóm gọi là nhóm làm giàu chất uranium (UEGA) (1).Nhóm UEGA tính cộng tác với một tổ hợp nước ngoài để xây dựng nhà máy làm giàu chất uranium tại Úc. Những thương lượng đã đi đến bản thoả hiệp cuối cùng với một tổ hợp Âu châu. Một lần nữa, chính trị lại xen vào dự án. Nước Úc có cuộc bầu cử liên bang, chính quyền Lao Động Bob Hawke lên thay thế chính phủ liên đảng. Nhóm UEGA được thông báo rằng sẽ không có những thoả hiệp với chính quyền các quốc gia khác về vấn đề uranium. Như thế, Úc đã đánh mất cơ hội đến 2 lần. Nhưng không phải mất hết.Nước Úc hiên xuất cảng nguyên liệu thô. Năm ngoái, nguyên một mỏ Ranger ở lãnh thổ Bắc Úc đã bán đi 5910 tấn uranium, vào khoảng 12% sự sản xuất toàn cầu. Mặc dù còn đến 43000 tấn dưới lòng đất, đây không phải là mỏ lớn nhất của Úc. Mỏ lớn nhất, không những ở Úc mà là cả thế giới ,ở tại Olympic Dam , tiểu bang Nam Úc , thuộc về tổng công ty BHP Biliton. Tuy thế, hiện nay, mỏ này chưa sản xuất nhiều nhất (Canada đang dẫn đầu). Mỏ đang có kế hoạch đầu tư để gia tăng lượng sản xuất gấp 3 lần vào năm 2013. Úc có khoảng 40% trữ lượng uranium toàn cầu.

Mark Wheatley, thành viên của hội đồng quản trị SXR Uranium One, cho rằng: thực tế, trữ lượng uranium của Úc còn nhiều hơn thế nữa. Khoan nói đến các nhà máy điện năng nguyên tử hay nhà máy làm giàu chất uranium, chỉ nói đến việc khai thác quặng mỏ thôi. Nước Úc có trữ lượng 40% uranium trên thế giới. Tuy nhiên , hơn 20 năm qua, không có thêm sự thám hiểm để tìm kiếm thêm. Wheatley cho rằng với viễn ảnh thực tế, trữ lượng này có thể tăng gấp đôi trong 10 năm tới, và nếu may mắn, gấp 3 lần trữ lượng hiện tại trong 20 năm. Giá thành uranium vào năm 1970 là $US 40 một cân Anh(pound). Sau đó vì chính sách “cấm khai thêm mỏ” của Lao Động, thêm vào các biến cố Chernobyl và Three Miles Island. Giá thành trở nên rẻ mạt, không ai muốn bỏ tiền vào công cuộc khảo sát tìm kiếm thêm nữa.. Cả trăm triệu đô la đổ vào việc thám hiểm khảo sát lúc đó trở nên lỗ lã.

Thế rồi, gió lại đổi chiều, giá cả vụt tăng trở lại và kỹ nghệ khai thác uranium đang trên đà lướt sóng. John Borshoff, giám đốc quản trị công ty Paladin Resources, 30 năm thâm niên trong ngành, đang chứng kiến một cách hài lòng công ty của ông từ cái giá trị cổ phần trên thị trường chứng khoán chỉ 2 triệu Úc kim vào 3 năm trước đây thành khoảng trên 2 tỷ hiện nay. Thành công, nhưng cần kiên nhẫn. Sự kiên nhẫn lại phải dựa trên một sự lạc quan đúng đắn về cái tiềm năng của kỹ nghệ. Một điều mỉa mai là: Borshoff chuẩn bị nhận nhiệm vụ trong cái mỏ uranium đầu tiên của đại công ty Paladin, nhưng không phải trên nước Úc mà là ở quốc gia Nam Phi. Ông vẫn có thể bỏ ra vài năm để tìm khai thác mỏ cho Paladin tại địa phương Úc, nhưng hiện tại ông không thể làm vì chính sách”không khai thác thêm mỏ” của Lao Động. Ngay lúc này, đây là chuyện chính yếu, cần tranh luận nhất.

Các công ty cần biết rõ ràng, khi họ bỏ tiền ra nghiên cứu tìm kiếm thêm uranium, họ cần được biết có thể được phép khai thác hay không khi tìm ra chúng. Các vấn đề khai thác mỏ và làm giàu nguyên liệu, thiết lập lò phản ứng tạo điện năng là những vấn đề hoàn toàn khác biệt. Tại sao không tách rời chúng ra để giải quyết từng phần riêng lẻ? Ron Mathews, quản lý phân bộ thám hiểm khảo sát của tỗ hợp Camecon của Canada ở Úc, công ty sản xuất 20% uranium toàn cầu (lớn nhất thế giới) cũng hoàn toàn đồng ý. Trong khi các công ty khác đã đầu hàng, phân bộ của công ty này vẫn tiếp tục khảo sát với kinh phí trên 4 triệu kể từ 2001. Họ tiếp tục đào và tồn trữ các mẫu đất đá trong một kho ở thành phố Darwin (lãnh thổ Bắc Úc). Thật là vô lý và khó hiểu khi chúng ta đang ngồi trên một đống tài sản lên tới 40% trữ lượng thế giới mà chỉ được phép sản xuất có 20% sản lượng toàn cầu. Có sự không cân đồi ở đâu đó. Người ta đang hy vọng có sự thay đổi.

Một chân trời mới: Năng lực kết hợp

Tranh luận về năng lực nguyên tử, một số người lại muốn bao gồm cả 2 loại : nguyên tử phân hạch (fission ) và nguyên tử kết hợp (fusion), dù nguồn năng lượng phát sinh từ sự kết hợp nguyên tử vẫn còn ở giai đoạn thử nghiệm. Đây là một tiến trình rất khả quan và lâu dài cho nhân loại. Sự kết hợp (fusion), một diễn tiến do nhà bác học siêu việt người Úc Sir Mark Oliphant khám phá, dùng năng lượng mặt trời và các vì sao. Một khi đạt được thành tựu, đây sẽ là nguồn năng lượng vô hạn và sạch sẽ nhất. Như tên gọi, năng lượng kết hợp phát sinh ra từ sự kết kợp lại các hạt nhân ánh sáng (deuterium và tritium, 2 nguyên tố đồng vị của phân tử hydro) bằng một sức nén cực mạnh, ở nhiệt độ cực cao trong một môi trường có từ tính. Phản ứng kết hợp giống phản ứng phân hạch ở chỗ không tạo ra khí ô nhiễm. Khác nhau ở chỗ: phản ứng phân hạch tạo ra phó phẩm là phế liệu phóng xạ, trong khi sự kết hợp hoàn toàn trong sạch., các phế liệu thải ra chỉ phát sinh một cách gián tiếp qua phản ứng trung hoà (neutron activation) bên trong phạm vi của thành lò phản ứng không thoát ra ngoài. Với kỹ thuật hiện đại, người ta cỏ thể tái chế các lò sản xuất năng lượng kết hợp trong 100 năm hay ngắn hơn nữa nếu dùng hợp kim (alloy) và các loại gốm(ceramic) tân kỳ.

Deuterium có rất nhiều trong phân tử nước. Nguồn nước thì vô hạn và có ở khắp nơi trên mặt đất, vì vậy, thế giới sẽ giảm bớt được cường độ căng thẳng (về chính trị) vì sự tranh giành các nguồn tiếp tế năng lượng. So sánh về sự phát sinh năng lượng, sự kết hợp sản sinh năng lượng nhiều gấp 4 lần sự phân hạch, và đáng kinh ngạc hơn, gấp 10 triệu lần nhiều hơn than đá. Đáng nói hơn, nguồn dự trữ deuterium trên thế giới sẽ còn hữu hiệu cho năng lượng hàng triệu năm nữa. Có nghĩa, năng lượng không còn vần đề lo lắng cả về 2 phương diện chính trị và kinh tế. Thêm vào đó, phản ứng kết hợp tuyệt đối an toàn. Tắt nguồn nhiệt năng tạo kết hợp, sự phản ứng ngưng theo. Không có phản ứng dây chuyền, không nóng chảy, không có sự phát nổ.

Mặc dù còn rất nhiều khó khăn, diển tiến về năng luợng kết hợp đã có những bước khả quan. Nhửng thử nghiệm hiện tại đã sản xuất được loại điên năng mạnh tới vài chục megawatt. Các nhà khoa học trong Diễn đàn lò phản ứng nhiệt nguyên tử quốc tế (ITER) (2) đang đi những bước cao hơn. Họ đang chuẩn bị cho một cuộc thử nghiệm điện kết hợp sản sinh tới 500 MW. Ngày 24/5 vừa qua,các bộ trưởng nghiên cứu của 7 quốc gia và Đồng Minh (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,Nam Hàn Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu) đã cùng đồng ý bước đầu (ký tắt) một thoả ước bổ xung về các lò phản ứng. Một khi được phê chuẩn (dự trù tháng 12/2006), một lò phản ứng nguyên tử năng kết hợp sẽ được xây dựng ở Cadarache, miền Nam nước Pháp .

Lò này sẽ là một dự án khoa học lớn nhất của thế giới và sẽ quy tụ hơn 30 quốc gia phát triển nhất. Điều mỉa mai là. mặc dù có một vai trò cơ bản trong việc cộng tác nghiên cứu và phát triển năng lực kết hợp (qua sự khám phá của Sir Mark Oliphant và Dr. Mathew Hole, chủ tịch diễn đàn ITER Úc), nước Úc hiện chưa tham gia vào dự án.

Do đó, hiện đã có một nhóm trên 100 các nhà khoa học và kỹ sư Úc đang thành lập một ủy ban ITER của Úc với mục đích tìm phương thức đưa đất nước tham gia đóng góp một vài vai trò vào công trình vĩ đại này.

(Theo Dr. Mathew Hole, Đại Học Quốc Gia Úc ANU và Prof. John O’conor, khoa trưởng phân khoa toán và vật lý của đại học Newcastle.Australia needs to get back to the front on fusion power. The Age 08/06/2006) .

Nguyên tử năng có nên sử dụng trong mục tiêu hoà bình hay không? Câu hỏi vẫn đang là một chủ đề sôi động.

Phương Duy