NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Vài Suy Nghĩ Về Năng Lượng Và Chiến Lược Phát Triển Quốc Gia - Trương Nhân Tuấn , Kiều bào Mỹ

Có những quyết-định sai-lầm đem lại hệ-quả trăm năm.

Đã qua rồi thời kỳ dễ dàng khi sử dụng năng lượng để phát triển kinh tế cũng như công kỹ nghệ hóa đất nước. Trong thời kỳ các nước Tây Âu phát triển ( các thập niên 1945-1965 ), giá dầu thô chỉ ở khoảng 1 đến 2 đô la một thùng. Giá dầu hiện nay dao động ở 90 - 100 đô la một thùng . Yếu tố quan trọng khác, nhu cầu năng lượng của thế giới ngày một tăng trong khi nguồn dự trữ lại giảm lần. Nếu không có gì thay thế, dầu hỏa sẽ trở thành khan hiếm vào những năm 2040. Giá cả năng lượng do đó càng ngày càng tăng cao.

Việt-Nam, tuy các số-liệu chính-thức về khai-thác dầu không được công-bố, nhưng qua các ước-lượng của báo-chí nước ngoài thì trữ-lượng cũng như mức sản-xuất của Việt-Nam ở mức rất khiêm-nhường. Ba mươi năm thời-gian không dài. Việt-Nam vì thế phải biết ăn theo thuở ở theo thời, phải biết tiết-kiệm mọi tiềm-năng có sẵn trong nước. Nguồn dầu mỏ khiêm-nhường kia không được hút xài phung-phí như hiện nay, vì nó không phải chỉ của thế-hệ hôm nay mà còn của các thế-hệ mai sau. Vì thế nó phải được ưu-tiên dùng vào mục-tiêu kiến-thiết đất nước. Có thế mới hy-vọng phát-triển đất nước một cách nhanh-chóng và bền-vững.

Trên quan-điểm phát-triển quốc-gia, năng-lượng sử-dụng đại-khái có hai dạng :

- Xăng dầu, cần-thiết cho tàu-bè, xe tải để chuyển-vận hàng-hóa, cho xe hỏa (nếu chạy bằng diesel), phi-cơ cùng các loại xe khác chuyên-chở hàng-hóa và con người. Đặc-biệt ở Việt-Nam, một số lượng lớn các nhà máy sản-xuất nhỏ hay nông-cụ (máy cày, máy kéo…) xài các loại động-cơ diesel.

- Điện, cần-thiết cho công-kỹ-nghệ nặng hay các loại nhà máy sản-xuất khác, cho xe hỏa (xe hỏa cao tốc), gia-dụng v.v… Trường-hợp Việt-Nam là nước nhiệt-đới, lượng điện cần-thiết cho các loại máy điều-hòa không-khí rất lớn.

Bài toán chung của các nước mở-mang là làm thế nào phát-triển quốc-gia nhanh nhất mà kinh-phí về năng-lượng thấp nhất. Bài này sẽ không nhắc lại sự cần-thiết của một nhà máy lọc dầu tại VN để bảo đảm quá-trình phát-triển vì đã có nhiều người nói về vấn-đề này .

Trong kinh-tế học người ta có một chỉ-số để có thể biết được hiệu-năng năng-lượng của quốc-gia (hay nền kinh-tế). Con số này là « cường-độ năng-lượng đối với sản-lượng nội-địa GDP » được tính bằng « tấn tương-đương dầu hỏa (tep ) cho 1000 đô-la của GDP ». Con số này càng nhỏ thì hiệu-năng năng-lượng càng lớn.

Biểu-đồ trên đây cho thấy đường biểu-diễn cường-độ năng-lượng của các nước Anh, Hoa-Kỳ, Pháp, Nhật và Trung-Quốc. Ta thấy biểu-đồ có dạng cái chuông, cho thấy hiệu-năng năng-lượng qua các thời-kỳ phát-triển. Thời-kỳ đầu, cường-độ năng-lượng có khuynh-hướng tăng, việc này do quốc-gia xây-dựng những công-trình lớn về hạ-tầng cơ-sở, về công-nghệ nặng, hệ-thống giao-thông, chỉnh-trang thành-phố v.v… công-cuộc này cần rất nhiều đến năng-lượng, hệ-số năng-lượng / GDP vì vậy cũng tăng theo. Sau đó chuyển sang thời-kỳ bảo-hòa, năm 1880 cho Anh-Quốc, khoảng 1920 cho Hoa-Kỳ, 1930 cho Pháp và Đức, 1960 cho Nhật-Bản. Tiếp theo là thời-kỳ giảm. Việc giảm cường-độ năng-lượng đem lại do trước hết là GDP gia tăng. Mặt khác, việc tiêu-thụ các loại vật-liệu có căn-bản từ năng-lượng ổn-định lần-hồi, khoa-học tiến-bộ cũng làm cho mức tiêu-thụ năng-lượng giảm xuống.

Ta thấy từ biểu-đồ trên, trong quá-trình phát-triển quốc-gia, hiệu-năng năng-lượng của Nhật-Bản cao nhất, sau đó là Pháp và Trung-Quốc (biểu-đồ giả-định).

Các nước đang phát-triển hiện nay không thể đi theo con đường phát-triển từ năm 1840 của Anh-Quốc hay 1870 của Hoa-Kỳ vì hoàn-cảnh kinh-tế chính-trị quốc-tế các thời đó hoàn-toàn khác với hiện nay.

Hiệu-năng năng-lượng cao hay thấp tùy thuộc chiến-lược phát-triển quốc-gia. Nhà-nước sẽ phải đầu-tư vào các hạ-tầng cơ-sở quốc-gia nhưng ưu-tiên đầu-tư sẽ tùy-thuộc vào nhiều yếu-tố.

Lựa chọn này rất quan-trọng. Tốt hay xấu, ảnh-hưởng của nó chi-phối lên đất nước hàng trăm năm sau. Trường-hợp Việt-Nam, bài này chỉ nhắc đến khía cạnh ưu-tiên đầu-tư vào hạ-tầng cơ-sở xét theo yếu-tố hiệu-năng năng-lượng, tức yếu-tố kinh-tế.

Một vài dữ-kiện ghi-nhận :

Tùy theo phương-tiện giao-thông mà hiệu-năng năng-lượng đem lại rất khác nhau. Trong phạm-vi đi lại của con người, cùng một năng-lượng tương-đương dầu-hỏa tiêu-thụ, một người đi TGV (xe hỏa cao-tốc của Pháp 300km/giờ) sẽ đi 4,5 lần xa hơn đi xe-hơi và 9,5 lần xa hơn đi phi-cơ. Việc di-chuyển trong thành-phố thì cùng một năng-lượng tiêu-thụ, xe điện (métro hoặc tramway) sẽ đi gấp 11 lần xa hơn xe-hơi và 2,5 lần xe bus.

Kết-luận rút ra từ việc này, ưu-tiên đầu-tư hạ-tầng cơ-sở sẽ nghiêng về đường xe hỏa cao-tốc. Ở thành-phố lớn thì ưu-tiên đầu-tư vào hệ-thống xe điện, bằng cách thiết-lập các tuyến-đường nối ngang-dọc thành một mạng-lưới để tạo tiện-lợi và rẻ cho khách trong việc đi lại.

Trong phạm-vi vận-chuyển hàng-hóa, cùng một năng-lượng tiêu-thụ, một tấn hàng chuyên-chở sẽ đi xa 5 lần hơn nếu đi bằng đường thủy (cabotage maritime), 4 lần hơn nếu bằng hỏa-xa, so với xe tải.

Từ kết-luận này ưu-tiên đầu-tư hạ-tầng cơ-sở nghiêng về đường thủy và đường sắt.

Trường-hợp Việt-Nam, tạm-thời từ các dữ-kiện trên, ta có thể có một kết-luận tương-đối: Ưu-tiên đầu-tư vào hạ-tầng cơ-sở hỏa-xa, xây bến tàu, đóng tàu, xây-dựng hệ-thống xe điện trong thành-phố để việc chuyên-chở người và hàng-hóa được nhanh-chóng, tiện-lợi và thoải-mái cho khách. Theo thiển ý, nhà-nước nên xây-dựng hệ-thống đường sắt Nam-Bắc, từ biên-giới Việt-Trung cho đến sông Cửu-Long; làm lại đường sắt Lào-Cai – Hải-Phòng, tổ-chức thuế-quan đánh lên hàng-hóa quá-cảnh từ Vân-Nam qua Lào-Cai, Hải-Phòng đến Hồng-Kông.

Tuy-nhiên, các con số từ các dữ kiện trên lấy từ mô-hình phát-triển của Pháp, chưa chắc đúng cho Việt-Nam. Nhưng nhìn chung, tình-hình mới bắt đầu phát-triển của Việt-Nam và viễn-tượng giá dầu hỏa ngày càng tăng và sẽ cạn nguồn vào năm 2040. Nếu không có năng-lượng nào thay thế dầu hỏa cho xe chạy trước thời-điểm này, hoặc giá năng-lượng mới (như hydrogen lỏng) cho xe chạy quá đắt, hệ-thống xa-lộ sẽ không phải là nơi lý-tưởng để đầu-tư về lâu dài như đường sắt.

Trên phương-diện đầu-tư, nhìn kinh-nghiệm phát-triển đường sắt của Nam-Hàn và Trung-Quốc,Việt-Nam nên noi gương. Nhà nước cho các công-ty nước ngoài đấu-giá xây-dựng hệ-thống hỏa-xa. Ngoài giá cả phải chăng, công-nhân, chuyên-viên của Việt-Nam phải được đào-tạo để bảo-hành và sử-dụng hỏa xa trong mọi giai-đoạn khai thác. Ngoài ra, quan-trọng nhất, Việt-Nam phải được chuyển-nhượng kỹ-thuật hỏa-xa này. Tương-tự như Nam-Hàn, nước này được Pháp chuyển-nhượng kỹ-thuật sau khi xây xong hệ-thống TGV.

Nhưng dầu vậy, để phát-triển đồng-bộ, Việt-Nam cũng nên xây hệ-thống đường xa-lộ gồm quốc-lộ 1 và các đường liên-quốc-gia, nối các tỉnh duyên-hải qua các tỉnh cao-nguyên đến Lào và Bắc Thái-Lan; tạo cho Lào và các tỉnh Bắc Thái-Lan có đường ra biển (sang Trung-Quốc, Nhật, Đài-Loan, Đại-Hàn…) và điều-chỉnh thuế-quan sao cho lệ-phí đường này có giá rẻ hơn đường về hướng Nam Thái-Lan vào vịnh Thái-Lan hay Ấn-Độ Dương. Cam-Ranh có thể là một hải-cảng lý-tưởng để cạnh-tranh với Hồng-Kông. Cảng Vũng-Tàu hay Saigon sẽ bị cảng Kompong Som của Kampuchia cạnh-tranh. Vì thế ở các cảng này phải tạo điều-kiện bốc-giở nhanh-chóng và điều-chỉnh giá cả cho thích-hợp để thu-hút khách-hàng.

Sau khi các hệ-thống giao-thông, đường hỏa-xa nối các tỉnh và hệ-thống xe điện trong các thành-phố lớn được xây-dựng, nhà-nước nên có các biện-pháp khuyến-khích người di-chuyển bằng xe-hỏa cao-tốc thay vì xe-hơi, hàng-hóa vận chuyển bằng tàu-thủy hay xe hỏa thay vì xe tải. Trong thành-phố thì khuyến-khích đi xe điện hay xe bus thay vì đi xe hơi hay xe gắn máy. Để thực-hiện, nhà nước có thể đánh thuế xăng dầu thật cao (400% tại Pháp; 10 Euros tiền xăng ở cây xăng thì 8 Euros là tiền thuế, 2 Euros còn lại gồm tiền dầu thô, chi-phí lọc dầu, chuyên-chở cùng các chi-phí khác và mức lời của trạm xăng), một mặt lấy được thuế, mặt khác giải-quyết nạn ùn-tắt xe-cộ trong thành-phố. Đương-nhiên, nhà-nước giữ giá năng-lượng đặc-biệt cho nông, ngư-dân cũng như các ngành-nghề sản-xuất khác. Giá dầu dành cho xe tải cũng được điều-chỉnh để việc chuyển-vận liên-tỉnh dễ-dàng.

Về phần sản-xuất điện năng; điện được sản-xuất bằng các nhà máy phát điện. Vấn-đề là làm thế nào sản-xuất 1 kilowatt điện với giá rẻ nhất. Việc này tùy thuộc vào giá vốn nhiên-liệu, giá đầu-tư ban đầu vào nhà máy và hiệu-năng sản-xuất. Nhà nước cũng có thể tiết-kiệm điện bằng cách đánh thuế cao trên các máy điều-hòa không-khí tư-nhân và dẹp bỏ các máy sử-dụng tại các công-sở nhỏ hay các công-sở phi-công-sở .

Ta thấy có các nhà máy nhiệt-điện (chạy than-đá, gaz, dầu cặn… nhiệt-năng => cơ-năng => điện-năng), thủy-điện (các đập ngăn nước, tạo ra một thế-năng => cơ-năng => điện-năng), nguyên-tử-điện (électronucléaire, phá vỡ hạt nhân uranium 235 hay plutonium 239 => nhiệt-năng => cơ-năng => điện-năng), điện do ánh-sáng mặt-trời, điện do sức gió v.v…

Việc đầu-tư vào lãnh-vực cung-cấp điện có thể giao cho tư-nhân một phần nhỏ nhưng hệ-thống điện nhà-nước, trong mọi hoàn-cảnh, phải có khả-năng cung-cấp điện cho các vùng phát-triển chiến-lược trên toàn quốc.

Theo một dự-báo, Việt-Nam sẽ thiếu 36 tỉ KWh điện năm 2020 và 120 tỉ KWh điện năm 2030. Các nguồn than và hơi đốt có bảo-đảm đủ cho Việt-Nam nhu-cầu này không? Và bảo-đảm trong bao lâu? Nhưng nhìn chung, Việt-Nam nên xây-dựng các loại nhà máy điện mà nguyên-liệu sử-dụng cho nhà máy có sẵn ở Việt-Nam. Thí-dụ, xây nhà máy nhiệt điện chạy than vùng có mỏ than ở miền Bắc, các nhà máy thủy-điện tại các vùng sông hồ thuận-tiện và nhà máy nhiệt điện chạy gaz ở vùng có mỏ dầu-khí như Vũng-Tàu, Bà-Rịa. Những dự-án này nên cho các công-ty xây-dựng Âu-Mỹ đấu-thầu. Chúng ta sẽ ưu-tiên cho các công-ty dùng kỹ-thuật mới, có hiệu-năng cao, ít ô-nhiễm không-khí và cam-kết cho Việt-Nam được quyền thụ-đắc kỹ-thuật-này (có nghĩa là sau này Việt-Nam có thể tự sử-dụng kỹ-thuật này để xây nhà máy điện cho mình mà không phải trả bản quyền).

Riêng về nhà máy điện nguyên-tử, có liên-quan đến lãnh-vực chiến-lược quốc-tế, đòi hỏi lãnh-đạo quốc-gia phải có trách-nhiệm. Hơn nữa, về an-toàn nhân-sự, đòi hỏi chuyên-viên kỹ-thuật cao, nhân-viên quản-lý có tinh-thần tự-giác lớn. Rất tiếc là cho đến hôm nay Việt-Nam vẫn chưa thể thụ-hưởng kỹ-thuật này, mặc dầu nước Việt-Nam rất cần-thiết nó để phát-triển đồng-bộ mọi mặt.

Mặt khác, Việt-Nam có thể đầu-tư sang Lào để xây-dựng các nhà máy thủy-điện trên sông Mé-Kong. Việt-Nam có thể mua điện của Lào với giá rẻ. Các kinh-tế gia quốc-tế tiên-đoán nước Lào có thể trở thành một Thụy-Sỹ ở Đông-Dương nếu tiềm-năng thủy-điện nước này được khai-thác đúng mức. Nhìn tình-hình hiện nay, có thể tiềm-năng thủy-điện của Lào sẽ do Trung-Quốc khai-thác. Nước Pháp có đầu-tư vào đây nhưng về lâu về dài sẽ không qua nổi Trung-Quốc.

Điều quan-trọng khác, theo tài liệu mật của Ngũ-Giác Đài, trong tương-lai rất gần, vì ảnh-hưởng thời-tiết địa-cầu thay đổi, có thể ngũ-cốc thế-giới sẽ thiếu-hụt do trồng trọt mất mùa, đem đến việc thiếu lương-thực; nguồn nước sạch bị ô-nhiễm, các quặng mỏ chiến-lược sẽ khó khai-thác vì bão-giông và băng-tuyết. Các việc này, nếu không lường trước, sự phát-triển của Việt-Nam sẽ bị ngưng-trệ.

Trương Nhân Tuấn