NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Tình hình phát triển Khoa Học Công Nghệ Nano ở một số nước và khu vực trên thế giới

Chính tiềm năng to lớn tạo ra những ứng dụng nâng cao chất lượng cuộc sống con người của Khoa Học Công Nghệ Nano rất lớn, nên rất nhiều nước trên thế giới đã chú trọng và phát triển mạnh nghiên cứu lĩnh vực này. Đây là lĩnh vực đang thu hút những khoản đầu tư tăng nhanh chóng từ các Chính phủ và các doanh nghiệp ở khắp nơi trên thế giới. Chi tiêu cho Công Nghệ Nano của các nước liên tục tăng trong những năm qua, đạt mức cao đáng ghi nhận vào năm 2005. Lux Research ( 2004 ), một báo cáo được công bố gần đây của Mỹ, cho biết, trên toàn thế giới ước tính chi tiêu của các Chính phủ cho nghiên cứu Công Nghệ Nano đạt 4,6 tỷ USD năm 2004, trong đó có khoảng 35% ( 1,6 tỷ USD ) là của các nước Bắc Mỹ, 35% ( 1,6 tỷ USD ) là của các nước châu Á, 28% ( 1,3 tỷ ) là của các nước châu Âu ( trong đó có Liên minh châu Âu - EU ), và 3% ( 133 triệu USD ) còn lại là của các nước khác. ở khu vực tư nhân, xu hướng tăng đầu tư cho Khoa Học Công Nghệ Nano cũng diễn ra mạnh mẽ. Cũng theo bản báo cáo nêu trên, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển ( R&D ) cho Công Nghệ Nano của khu vực tư nhân trên toàn thế giới đạt 3,8 tỷ USD, trong đó 46% ( 1,7 tỷ USD ) là của các công ty Bắc Mỹ ( chủ yếu là của Mỹ ), 36% ( 1,4 tỷ USD ) là của các công ty châu Á, 17% ( 650 triệu USD ) của các công ty châu Âu và chưa tới 1% ( 40 triệu USD ) là của các công ty ở những khu vực khác.

Tình hình đầu tư của các Chính phủ vào nghiên cứu và phát triển ( R&D ) của Công Nghệ Nano giai đoạn từ 1997 - 2005 được thể hiện qua số liệu ở Bảng 1.

Bảng 1: Ước tính đầu tư vào nghiên cứu và phát triển ( R&D ) công nghệ nano giai đoạn 1997 - 2005 của các Chính phủ ( triệu USD )

Khu vực 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005*
EU 126 151 179 200 225 400 650 950 ~1050
Nhật Bản 120 135 157 245 465 720 800 900 ~950
Mỹ 116 190 255 270 465 697 862 989 ~1081
Những nước khác 70 83 96 110 380 550 800 900 ~1000
Tổng 432 559 687 825 1535 2350 3100 3700 ~4100
Tỷ lệ % so với năm 1997 100 129 159 191 355 547 720 866 ~945

Nguồn : Quỹ Khoa học Quốc gia, Mỹ *: ước tính năm 2005

Có thể nói, Mỹ là quốc gia đi đầu trong việc phát triển Khoa Học Công Nghệ Nano. Cùng với việc thông qua Đạo luật nghiên cứu và phát triển ( R&D ) Công nghệ nano Thế kỷ 21 và tiếp theo đó là Sáng kiến Công nghệ nano Quốc gia, Mỹ đã dành 3,7 tỷ USD đầu tư cho Công Nghệ Nano giai đoạn 2005 - 2008. ở Bảng 1, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ( R&D ) của Mỹ năm 2004 đã xấp xỉ gần 1 tỷ USD và dự kiến sẽ vượt 1 tỷ USD vào cuối năm 2005. Tại Mỹ, sáng kiến của các bang đóng vai trò là những động lực thúc đẩy bổ sung tài trợ nghiên cứu và phát triển ( R&D ), cũng như thúc đẩy các hoạt động kinh tế và thương mại hóa. Năm 2004, các chính quyền các bang đã đầu tư hơn 400 triệu USD cho các chương trình nghiên cứu, các tiện ích và cho việc ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực Công Nghệ Nano.

Tại châu Âu, những nỗ lực phát triển Khoa Học Công Nghệ Nano thể hiện ở cả cấp độ quốc gia, với việc từng nước theo đuổi những chương trình nghiên cứu có mục tiêu riêng; và cả cấp độ EU, với một chương trình có nền tảng rộng rãi hơn. Ví dụ, theo Chương trình Khung về Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ lần thứ 6 (FP 6), EU đã cam kết tài trợ 350 triệu euro cho Công Nghệ Nano năm 2003, chiếm 1/3 tổng chi tiêu của châu Âu. Trong một thông báo gần đây (2004), EU đã nhất trí về cách tiếp cận nghiên cứu và phát triển ( R&D ) Công Nghệ Nano phối hợp lớn hơn giữa các nước trong khối, trong khi vẫn thừa nhận những chương trình của từng nước riêng rẽ. Trong EU, các nước phát triển mạnh Công Nghệ Nano đều có những kế hoạch chiến lược thúc đẩy Công Nghệ Nano theo mục tiêu của nước mình. Ngoài Anh và Pháp là những nước dành đầu tư lớn cho Khoa Học Công Nghệ Nano, tại EU, có thể coi Đức là một ví dụ điển hình nữa về đầu tư mạnh cho Khoa Học Công Nghệ Nano. Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, khi Công Nghệ Nano được xác định là một lĩnh vực có nhiều hứa hẹn, Đức đã triển khai một chiến lược dành ưu tiên phần lớn tài trợ của Chính phủ cho lĩnh vực điện tử nano, vật liệu nano, kỹ thuật và khoa học quang học.

Bảng 2 :

Tài trợ của Liên bang Đức cho các khu vực ưu đãi ( triệu euro )

Lĩnh vực 2002 2003 2004 2005
điện tử nano 19,9 25,0 44,7 46,2
vật liệu nano 19,2 20,3 32,7 38,1
kỹ thuật và khoa học về quang học 18,5 25,2 26,0 26,0
Kỹ thuật vi hệ 7,0 7,0 9,4 10,2
nano sinh học 4,6 5,4 5,0 3,1
Truyền thông 4,3 4,0 3,6 3,4
Các lĩnh vực khác 0,4 1,3 2,4 2,2
Tổng 73,9 88,2 123,8 129,2

Nguồn: Roos, U, 2004. Germany’s Nanotechnology Strategy. Berlin: Bristissh Embassy Berlin.

Tại châu Á, theo các báo cáo của Chương trình Thông tin về Công nghệ Châu Á (ATIP), chương trình này có nhiệm vụ theo dõi những hoạt động phát triển công nghệ của các quốc gia châu Á, Nhật Bản là nước đầu tư mạnh cho Khoa Học Công Nghệ Nano hàng đầu thế giới. Như thấy ở Bảng 1, đầu tư của Nhật Bản trong lĩnh vực này đã đạt 900 triệu USD năm 2004 và sẽ tăng lên 950 triệu USD vào cuối năm 2005. Mặc dù Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ mạnh cho nghiên cứu Công Nghệ Nano với một phạm vi rộng, nhưng nước này đã nhận ra được thế mạnh của mình là ở cơ sở hạ tầng và chế tạo dụng cụ. Nhật Bản cũng đặc biệt tập trung vào việc thương mại hoá Công Nghệ Nano. Gần đây, Nhật Bản đã tiến hành một loạt các sáng kiến nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhật Bản và phát triển các chiến lược nhằm hình thành những ngành công nghiệp liên quan tới Công Nghệ Nano mới. Với vai trò là một bộ phận của chiến lược khoa học và công nghệ (KH&CN), Chính phủ Nhật Bản đã coi việc “phát triển những linh kiện mới sử dụng CNNN” là một trong “5 dự án hàng đầu” nhằm phục hồi nền kinh tế của đất nước.

Trung Quốc đặc biệt có thế mạnh trong việc phát triển vật liệu nano. Với trọng tâm nghiên cứu tập trung vào vật liệu nano, chi phí kinh doanh thấp, lực lượng lao động có chuyên môn cao và thị trường nội địa tiềm năng lớn của Trung Quốc sẽ khuyến khích những tập đoàn nước ngoài đang tìm kiếm cơ hội đầu tư phát triển vật liệu nano đầu tư nhiều hơn vào nước này. Số lượng các công ty đăng ký hoạt động trong lĩnh vực Công Nghệ Nano ở Trung Quốc bắt đầu tăng từ năm 2000 với tổng số vốn đăng ký vào khoảng 92 triệu USD. Năm 2003, số các công ty đăng ký hoạt động trong lĩnh vực này là 800 với tổng số vốn đăng ký là 1,2 tỷ USD. Tháng 6/2005, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố sẽ tăng đầu tư của Chính phủ vào Công Nghệ Nano nhằm tăng cường sử dụng công nghệ này trong các ngành công nghiệp chế tạo và y học. Mặc dù không tiết lộ rõ ràng con số đầu tư, nhưng các quan chức Trung Quốc cho biết khoản đầu tư trong giai đoạn kế hoạch 5 năm tới ( 2006 - 2010 ) sẽ tăng gấp vài lần con số 25,36 triệu USD được Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đầu tư giai đoạn 2001 - 2005.

Ấn Độ cũng bắt đầu hướng sự chú ý vào Công Nghệ Nano. Bộ Khoa học và Công nghệ nước này tuyên bố sẽ đầu tư 20 triệu USD trong giai đoạn 5 năm ( 2004 - 2009 ) cho Sáng kiến Công nghệ và Khoa học Vật liệu nano. Những nước châu Á khác cũng đang tập trung những nỗ lực nghiên cứu Công Nghệ Nano vào những ngành công nghiệp mà họ có lợi thế so sánh. Theo ATIP, Hàn Quốc đang tập trung vào lĩnh vực điện tử nano với sự tham gia quan trọng của ngành công nghiệp. Theo Kế hoạch 10 năm về Thúc đẩy Công nghệ nano ( 2001 - 2010 ), Hàn Quốc cam kết sẽ tài trợ 1,3 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển ( R&D ) công nghệ nano, trong đó 66% là của Chính phủ và phần còn lại là của khu vực tư nhân. Đài Loan cũng chủ trương hướng tới lĩnh vực điện tử nano dựa trên thế mạnh của nền công nghiệp điện tử của hòn đảo này. Hội đồng Khoa học Quốc gia của Đài Loan, cơ quan điều hành tài trợ Chính phủ cho Công Nghệ Nano của Đài Loan, dự định xây dựng 3 công viên nghiên cứu công nghệ, trong đó 2 công viên sẽ tập trung vào nghiên cứu Công Nghệ Nano. Tại khu vực Đông Nam á, ngoài Singapo đặc biệt chú trọng tới Công Nghệ Nano sinh học dựa trên lợi thế về công nghệ sinh học của nước này, Thái Lan cũng đang ấp ủ dự thảo một kế hoạch chiến lược 10 năm để thúc đẩy nghiên cứu và phát triển ( R&D ) công nghệ nano với tham vọng trở thành nước dẫn đầu ASEAN về nghiên cứu và phát triển ( R&D ) công nghệ nano. Kế hoạch này nhằm thúc đẩy phát triển Công Nghệ Nano để hỗ trợ 7 ngành công nghiệp lớn của nước này gồm: lương thực và nông nghiệp, sản xuất ô tô và linh kiện ô tô, điện tử, xăng, hóa chất và dệt, năng lượng, môi trường và y tế. Mục tiêu của kế hoạch là sản xuất ra những sản phẩm dựa trên công nghệ nano trị giá 2,9 tỷ USD trong vòng 10 năm tới. 6 sản phẩm mục tiêu gồm: các thiết bị cảm biến, các linh kiện điện tử nano, các hệ thống cung cấp thuốc, các vật liệu vỏ bọc nano, các chất xúc tác nano và nano composit. Kế hoạch này cũng dự định sẽ tăng ngân sách nghiên cứu và phát triển ( R&D ) công nghệ nano lên 290 triệu USD trong 10 năm tới.

Số lượng paten Công Nghệ Nano được đăng ký cũng phản ánh mức độ phát triển của Khoa Học Công Nghệ Nano. Có thể coi paten là một đơn vị được sử dụng để đánh giá vai trò, mức độ nổi trội trong đổi mới công nghệ và thể hiện xu hướng tiến tới ứng dụng thương mại hoá. Theo số liệu của Văn phòng Thương hiệu và Paten Mỹ (USTPO), số lượng các paten liên quan tới Công Nghệ Nano đã tăng mạnh trong những năm qua. Năm 2003, hơn 8600 paten về Công Nghệ Nano đã được đăng ký, tăng khoảng 50% so với số lượng được đăng ký năm 2000. 5 nước có số lượng paten Công Nghệ Nano đăng ký cao nhất trong năm 2003 là Mỹ (5228), Nhật Bản (926), Đức (684), Canađa (244) và Pháp (183). Số lượng paten Công Nghệ Nano của những nước khác được USTPO công bố như Hà Lan, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng tăng mạnh.

Sự phát triển của Khoa Học Công Nghệ Nano còn được thể hiện qua các lĩnh vực nghiên cứu Khoa Học Công Nghệ Nano của các nước. Tháng 6/2004, Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) đã tiến hành điều tra về nghiên cứu và phát triển ( R&D ) Công Nghệ Nano ở 25 nước và EU. Các kết quả của cuộc điều tra đã cho thấy một số nước có những chương trình nghiên cứu rộng, ví dụ như Mỹ, trong khi đó một số nước khác lại chọn lựa đầu tư nghiên cứu có trọng điểm. Bảng 3 cho thấy những lĩnh vực chủ chốt của Công nghệ nano mà một số nước đang tập trung vào nghiên cứu.

Bảng 3:

Những lĩnh vực Công Nghệ Nano được các Chính phủ tập trung đầu tư

Quốc Gia Vật liệu/chế tạo Linh kiện ( gồm linh kiện điện tử và quang học ) Năng lượng và môi trường Công nghệ sinh/y học Phát triển dụng cụ Giáo dục
Áchentina * - - - - -
Ôxtrâylia * * * * - -
Áo - - - - - -
Bỉ * * - * - -
Braxin * * - * - -
Canađa * * - * - -
Cộng Hoà Séc * * - * - -
EU * * * * * * *
Pháp * - - * - -
Đức * * - * * -
ấn Độ * * - * * *
Aixơlen * * * * - -
Ixraen * - - * - -
Italia * * - * * -
Nhật Bản * * * * * -
Hàn Quốc * * - - - -
Mexicô * - - - - -
Hà Lan * * - * * -
Niu Zilân * - - - - -
Rumani * - - * - -
Nam Phi * - * * - -
Thuỵ Sỹ * * - * * -
Đài Loan * * - * - -
Anh * * - * - -
Mỹ * * * * * *

* : Có

- : Không

Nguồn : 6/2004 International Dialogue on Responsible Research ADN Development of Nanotechnology.

http://www.nanoADNthepoor.orglinternational.php

Mặc dù EU với tư cách là một liên minh các nước theo đuổi một chương trình nghiên cứu rộng, nhưng từng thành viên EU ( như Anh, Pháp, Đức, Thụy Sỹ...) vẫn theo đuổi những lĩnh vực nghiên cứu mang tính trọng điểm hơn.

Có thể nhận thấy, phần lớn các nước thường đầu tư vào vật liệu/chế tạo, công nghệ sinh học và điện tử. Kết quả là những lĩnh vực nghiên cứu này đặc biệt phát triển mạnh và hứa hẹn góp phần cải thiện cuộc sống của con người. Ngoài ra, việc phát triển nghiên cứu toàn diện hoặc có trọng điểm của các nước còn góp phần làm đa dạng hóa các thành tựu đạt được trong lĩnh vực Khoa Học Công Nghệ Nano.