NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những Nẻo Đường Việt Nam : thăm viếng ba miền Nam, Trung, Bắc

Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được dịp thăm viếng ba miền Nam, Trung, Bắc Việt Nam , khởi đầu từ Saigon, rồi đến Phú Quốc, Huế, Hà-nội, Vịnh Hạ-long, Thành Phố Sa Pa và miền Cao Nguyên.

Trong những chuyến đi Tours ở trong nước, các hướng dẫn viên du lịch đã dẫn giải cho du khách những điều thích thú liên quan đến những địa danh được tham quan. Những chi tiết do họ trình bày phần lớn được tìm thấy trong hai cuốn sách sau đây :

- Non Nước Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2005, do Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin Du Lịch phát hành.

- Cẩm Nang Du Lịch Việt Nam của Minh Anh - Hải Yến do Nhà Xuất Bản Thế Giới phát hành.

1. THÀNH PHỐ SAIGON : HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG

Khi nhắc đến Saigon, người ta liên tưởng đến danh xưng “Hòn Ngọc Viễn Đông” đã được ban tặng cho thành phố thân yêu đó. Nhưng trong thực tế, cuộc sống của đại đa số dân chúng hiện nay ở tại Thành Phố được ca tụng là “Hòn Ngọc Viễn Đông” đó như thế nào ?

Saigon và Chợ Lớn là hai địa danh gắn liền với nhau như chị với em. Những nơi như Chợ Bến Thành, Chùa Xá Lợi và Vương Cung Thánh Đường Đức Bà là những địa điểm được nhiều du khách tham quan nhất, nhưng ít người biết rõ lai lịch của những địa danh đó.

Saigon

Tính theo đường bộ, Thành Phố Saigon cách Hà Nội 1.730 cây số về phía bắc và cách bờ biển Đông 50 cây số theo đường chim bay, cùng với bờ biển dài 15 cây số. Từ khi được ghi vào sổ sách đầu năm Mậu Dần (1698), đến nay Thành Phố Saigon đã được thành lập trên 300 năm.

Vào năm 1864, Chợ Lớn được tách ra khỏi Saigon ( về phương diện địa bạ ), vì là thành phố của người Hoa đang trên đà phát triển.

Cảng Saigon được thành lập từ năm 1862. Các tàu buôn của người phương Tây và các nước lân cận đã tấp nập ra vào và họ cũng rất quen thuộc với các địa danh như chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Kho, chợ Rẫy, chợ Bến Thành, chợ Saigon. Do đó từ lâu, Saigon đã được ca ngợi là “Hòn Ngọc viễn Đông”.

Cuối thế kỷ 19, tổng thống Cộng Hòa Pháp ký sắc lệnh thành lập Thành Phố Saigon, vào ngày 15/3/1874. Đầu thế kỷ 20, Chợ Lớn được sáp nhập vào Saigon và Thành Phố Saigon trở thành đô thị lớn nhất ở Đông Dương.

Chợ Lớn

Năm 1788, một nhóm người Hoa từ cù lao Phố và Mỹ Tho kéo về bờ rạch Bến Nghé lập chợ buôn bán. Khu chợ đó phát triển thành Chợ Lớn ngày nay. Chợ Lớn còn gọi là Chợ Bình Tây là ngôi chợ được xây cất năm 1928 do một người Hoa tên là Quách Đàm.

Mặt tiền chợ trông ra đại lộ Hậu Giang. Bên trong chợ, Quách Đàm cho dựng tượng mình trên bệ cao. Sau 1975, tượng đó đã được gỡ đi.

Chợ Lớn có thể xem như một China Town (Thành Phố Người Hoa) của Việt Nam với những phố chợ san sát và đầy ấp hàng hóa từ lâm thổ sản đến những hàng tiểu thủ công nghệ.

Chợ Bến Thành ( Chợ Mới )

Chợ Bến Thành nằm ở trung tâm thành phố Saigon. Trước khi Pháp xâm chiếm Saigon năm 1859, có một chợ nhỏ nằm ở khu đất sình lầy kế bên bờ sông Bến Nghé và sát Thành Saigon (lúc bấy giờ). Từ xuất xứ đó mà chợ đã mang tên ghép là Bến Thành – một trung tâm buôn bán lớn không những của TP Saigon mà còn của các tỉnh phía Nam.

Chùa Xá Lợi

Ở Saigon có nhiều ngôi chùa nổi tiếng như chùa Ấn Quang, chùa Vĩnh Nghiêm…nhưng chùa Xá Lợi được giới Phật tử ôn hòa mến chuộng nhất vì nơi đây có Xá Lợi Phật. Chùa nầy tọa lạc tại số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, Saigon.

Chùa được khởi công xây cất ngày 5/8/1956 trên một khuôn viên rộng 2.500 mét vuông, theo bản vẽ thiết kế của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh, với tổn phí 5,5 triệu đồng, dưới thời cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Đại lễ khánh thành được tổ chức vào các ngày 2-4 tháng 5/1958.

Hội Phật Học Nam Việt tổ chức xây cất chùa để thờ Xá Lợi Phật nên quen gọi là Chùa Xá Lợi. Điện thờ ở lầu một có đặt thờ ngọc Xá Lợi Phật do ngài Narada ở Tích Lan dâng cúng cho Phật Giáo Việt Nam.

Bên trái tam quan có tháp chuông cao 7 tầng, được xây cất từ năm 1960 đến cuối năm 1961. Chuông lớn được đưa lên tháp ngày 17/10/1961.

Vương Cung Thánh Đường Đức Bà

Nhà Thờ Đức Bà hay còn gọi là Nhà Thờ Lớn là một công trình kiến trúc bề thế với hai tháp chuông cao, ở nơi trung tâm thành phố Saigon, tại quảng trường hiện nay được gọi là “Công Xã Paris”, nhưng trước kia được mang một cái tên thật dễ thương và được mọi người mến chuộng là “Công Trường Hòa Bình”.

Vương Cung Thánh Đường nầy được khởi công xây cất ngày 7/10/1877 và được khánh thành ngày 11/4/1880. Nhà thờ được thiết kế tại Pháp và công trình xây cất do kỹ sư người Pháp là Bourard chỉ huy thực hiện. Tổng kinh phí xây cất lúc bấy giờ là 2,5 triệu Phật lăng.

Thánh đường có chiều dài 133 mét, tính từ cửa ngăn đến cuối phòng mặc áo lễ, chiều ngang 35 mét và chiều cao 21 mét.

Ban đầu, hai tháp chuông được xây cất năm 1895 với chiều cao tính từ mặt đất lên là 36,6 mét. Sau đó xây thêm hai chóp nhọn lầu chuông 21 mét nữa và chiều cao của tháp tổng cộng được hơn 57 mét. Sáu đại hồng chung, nặng 25,850kg được đặt dưới hai lầu chuông.

Ngày 7 và 8 tháng 12/1959, được sự chấp thuận của Tòa Thánh Vatican, nhà thờ được làm lễ “xức dầu thánh” để trở thành “Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Saigon”.

Hiện nay, vào mỗi sáng Chúa nhật, lúc 10 giờ 30, có Thánh Lễ bằng tiếng Anh dành cho người ngoại quốc. Thật cảm động khi thấy nhiều du khách thuộc nhiều quốc gia khác nhau như Hoa Kỳ, Pháp, Úc…già cũng như trẻ, trai cũng như gái, sốt sắng tham dự Thánh Lễ.

Có lẽ họ đến đây vì tò mò và điều đó cũng nằm trong chương trình du lịch cá nhân của họ. Nhưng biết đâu ở xứ sở họ, không bao giờ họ đặt chân đến nhà thờ vào mỗi Chúa nhật. Nhưng tại nơi xa xôi nầy, họ lại gặp gỡ Chúa trong thinh lặng ngỡ ngàng.

CUỘC SỐNG NHỘN NHỊP

Thành phố Saigon còn có nhiều địa danh nổi tiếng khác, cũng như những nơi du lịch thu hút nhiều du khách chẳng hạn Suối Tiên, Đầm Sen… cùng với một số chùa chiền, thánh đường và thánh thất được nhiều người biết đến. Nhưng đó không phải là những nơi tôi thăm viếng nên không được viết ra ở đây.

Cuộc sống ở Thành phố Saigon thật đa dạng, nhất là những nơi ăn chơi nổi tiếng với những “cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm” đã được mô tả qua báo chí hay các cuộn băng video được phổ biến ở hải ngoại. Nhưng đó không phải là những nơi tôi giao lưu.

Ở đây, tôi chỉ ghi lại những gì tôi tiếp cận hằng ngày mà thôi, như những chuyến di chuyển bằng xe buýt, xe ôm hay xe taxi. Những người mà tôi gặp gỡ là những người lao động phục dịch trong các tuyến giao thông đó hay những em học sinh, sinh viên tình cờ tôi gặp gỡ trong các tuyến xê dịch.

Trăm xe đua chạy

Tôi trở lại Saigon vào một buổi xế trưa Chúa nhật. Tuy sắp sửa vào thu, nhưng trời Saigon vẫn còn nóng nực. Điều đập vào mắt tôi trước tiên là nhà cửa được xây cất nhiều hơn, so với hai năm về trước, ở dọc hai bên những đại lộ mà tôi đi qua.

Nạn xe cộ chen chúc nhau như mắc cửi, khiến một vài con đường lớn phải ngăn đôi bằng những hàng rào sắt để tránh cảnh lấn tuyến, có thể gây ra tai nạn. Đây là sự kiện mới mẻ mà hai năm về trước chưa có.

Lần nầy tôi tạm trú ở một căn nhà gần chợ Bà Chiểu, tại quận Bình Thạnh, tức Gia Định trước kia. Quang cảnh ở đây cũng khác xa những quận lỵ thuộc trung tâm Thành phố Saigon, nên tôi được tiếp cận với nếp sống của dân chúng nửa thành thị, nửa thôn quê, mang lại cho tôi một số nhận thức khá thích thú.

Cảnh kẹt xe ở Saigon có nhiều nét đặc trưng. Vào những giờ cao điểm, các xe gắn máy tràn lan trên các tuyến đường, chẳng khác nào cơn lũ lụt. Đặc biệt là hệ thống đèn lưu thông, hình như chỉ cò đèn báo hiệu màu “xanh” và “đỏ”, còn đèn “vàng” hầu như không có, hay chỉ loé lên trong nháy mắt, không đủ thời gian báo hiệu cho xe cộ chuẩn bị dừng lại khi đèn đỏ lên màu. Những người chạy xe gắn máy hình như không quan tâm đến hệ thống đèn màu: họ chỉ cắm đầu chạy mà thôi, nhất là khi vắng bóng nhân viên công lực.

Tệ hại hơn nữa, dù đèn đỏ đã bật, nhưng xe cộ ít khi dừng lại ngay. Hầu hết cứ hối hả chạy tới, tranh thủ thời gian vượt qua ngã tư. Thêm vào đó, thay vì chỉ được “ghẹo phải” khi đèn đỏ như luật lệ cho phép, ở Saigon ( cũng như Huế, Hà-Nội là những thành phố lớn), người ta thoải mái “ghẹo phải, ghẹo trái”, ngay cả “ghẹo xiên, ghẹo xéo” nữa…gây nên cảnh lưu thông hổn độn và kẹt xe trầm trọng.

Phương tiện lưu thông

Rất ít người đi xe hơi. Phải chăng đó là phương tiện lưu thông trang trọng dành riêng cho hạng quyền quí. Đa số đi xe gắn máy: xe nhà hay xe ôm. Ngoài ra còn có xe taxi và xe buýt nữa.

Có thể nói, xe ôm là phương tiện lưu thông công cộng tiện lợi nhất và đầy dẫy khắp phố phường, giá cả tương đối trung bình. Đó cũng là phương tiện sinh sống của một số đông đàn ông gặp cảnh lỡ thầy lỡ thợ. Ở bất cứ góc đường nào cũng có vài ba chiếc xe ôm chờ sẵn đón khách, chẳng khác nào những ngư ông ngồi thả câu ở các khúc sông thời xa xưa, chờ đợi cá cắn mồi, như Nguyễn Khuyến đã mô tả :

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

( Thu Điếu, Nguyễn Khuyến )

Khi vắng khách, tài xế xe ôm, sung sướng ngồi nghỉ hay nằm ngửa trên xe, thoải mái đọc báo để biết tin tức thời sự đó đây như những chuyện trộm cắp hay cướp giật nơi nầy nơi khác.

Hiện nay xe xích lô đạp rất hiếm. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc. Hình như loại xe nầy quá cũ kỹ và ở Saigon hầu như vắng bóng hoàn toàn. Ngoài ra hành khách cũng không ưa thích mấy. Ở Huế và Hà-Nội thỉnh thoảng còn sử dụng loại xe nầy.

Vì cảnh kẹt xe ban ngày gần như thường xuyên nên ít người sử dụng taxi vì phải trả cước phí cao. Trái lại xe buýt là phương tiện giao thông được nhiều người ưa thích, nhất là những người lớn tuổi, do lợi ích an toàn, ít bị ô nhiễm hay tai nạn lưu thông, thêm vào đó giá cả rất rẻ (2000 đồng VN cho một lượt đi ở trong thành phố, gần đây được tăng lên 3000 đồng VN).

Đi xe buýt tránh được việc phải hít khói xăng hay dầu khí như khi đi xe ôm. Xe buýt cũng tương đối sạch sẽ, có máy điều hòa không khí. Nạn móc túi trên xe buýt hiện nay ít xảy ra hơn như trước kia.

Những chuyện vui buồn trên xe buýt

Dù thế, xe buýt cũng có phần nguy hiểm, vì tài xế thường dừng lại quá nhanh mỗi khi hành khách lên xuống, khiến họ có nguy cơ bị té ngã. Những anh chị lơ xe, ngoại trừ một số ít có lương tâm nghề nghiệp, biết phục vụ khách hàng, đa số thiếu lịch sự, ít niềm nở. Có lẽ vì đồng lương không cao nên họ làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm.

Đôi khi, thay vì phải đứng nơi cửa hành khách lên xuống để giúp đỡ họ, trái lại lơ xe thoải mái ngồi ở ghế phía trước xe, cạnh tài xế và cả hai vui vẻ cười đùa, nói chuyện…không quan tâm đến sự an toàn của hành khách lên xuống. Lắm khi khách chưa lên xuống hẳn, tài xế đã bắt đầu chạy, khiến nhiều hành khách suýt phải té ngã, nhất là những người lớn tuổi.

Ngày nay, những em học sinh, sinh viên trên xe buýt đã biết nhường chỗ ngồi cho những người cao niên. Trái lại những anh chị em nhân công trẻ tuổi, ít khi nhường chỗ cho những người lớn. Họ cứ ung dung ngồi nghỉ, dựa lưng vào ghế, mắt lim dim, có lẽ vì đã tốn quá nhiều sức lao động nơi sở làm nên thời gian ngồi xe buýt là dịp rất tốt để nghỉ xả hơi.

Có vài xe buýt đặt tượng Phật hay tượng Chúa ở đầu xe, với vòng đèn điện bao quanh. Đó cũng là một ấn tượng khá độc đáo. Trong khi tại các nước Âu Mỹ, người ta đòi triệt hạ các cây thánh giá treo trong các lớp học hay yêu cầu dời bảng ghi mười điều răn khỏi các tòa án thì những biểu tượng tôn giáo được trưng bày như thế trên một vài xe buýt ở Saigon, đã nói lên niềm tin của dân chúng .

Ở hải ngoại, người ta không quên câu chuyện một người vô thần ở Elk Crove (cạnh Sacramento) đã kiện Ty Học Chánh ra tòa về tội để học sinh đọc lời thề trung thành với quốc kỳ Mỹ, trong đó có câu: “Hoa Kỳ là một dân tộc tôn thờ Thiên Chúa” (“one nation under God”).

Ty Học Chánh thua kiện và người vô thần đó thắng kiện vì tòa án đồng ý với ông ta là “dân Mỹ không phải là dân thờ Thiên Chúa”.

Còn có chuyện ông tòa Roy Moore, Chánh Nhất Tối Cao Pháp Viện tiểu bang Alabama bị nhóm vô thần ACLU lôi ra tòa Liên Bang cấp hạt về tội đặt bia đá khắc Mười Giới Răn Thiên Chúa trước tiền đình tòa án Tối Cao Pháp Viện của ông tại Montgomery.

Ông đã thua kiện và kháng cáo lên Tối Cao Pháp Viện Liên Bang tại thủ đô Hoa-thịnh-đốn. Trong phán quyến ngày 2/10/2004, Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Hoa Kỳ đã y án tòa dưới. Kết quả ông tòa Roy Moore thua kiện và mất chức Chánh Nhất Tối Cao Pháp Viện Alabama.

Buôn thúng bán bưng

Tôi không có dịp tiếp cận những quan chức trong chính quyền, những đại gia hoặc những doanh gia là những người thuộc thành phần ưu đãi trong xã hội Việt-Nam hiện nay, nên không rõ sinh hoạt và nếp sống của họ như thế nào. Hằng ngày, tôi chỉ tiếp xúc với giới lao động, những người buôn thúng bán bưng…khiến tôi chứng kiến cuộc sống của họ thật vất vả lầm than!

Từ tảng sáng, những người bán hàng rong đã ngồi sẵn hai bên vệ đường để bán hàng: đó là những thức ăn ban sáng cho giới bình dân như những gói xôi, những ổ bánh mì thịt…với giá cả không quá vài ngàn. Hoặc những bó rau, những nắm đậu cho người có lợi tức thấp mua về làm thức ăn trong ngày.

Ngoài những phụ nữ bán hàng, khoảng bốn năm mươi tuổi, cũng không thiếu những bà già trên dưới bảy mươi, mặc dù sức cùng lực kiệt, cũng cố lê lết với những tay thúng tay xách để kiếm sống.

Với số thu nhập kém cỏi mỗi ngày, ước độ vài chục ngàn (khoảng ba bốn Mỹ-kim), người ta có thể hình dung cuộc sống chật vật của họ như thế nào, chưa kể tới những lúc đau yếu. Như cha ông chúng ta đã nói từ ngàn xưa: “Trời sinh voi, sinh cỏ”, nên họ đã âm thầm sống cho qua ngày.

Khi ốm đau, họ chỉ cần ghé vào các tiệm thuốc tư nhân mua vài viên thuốc độ dăm ba ngàn đồng để uống cho qua cơn đau, rồi lại tiếp tục chuỗi ngày dài như thế, không biết bao giờ chấm dứt.

Những người lái xe ôm, nếu may mắn lắm mỗi ngày cũng chạy được năm ba cuốc xe, có thể kiếm được trên năm bảy chục ngàn là nhiều. Với số tiền thu nhập như thế, cuộc sống của họ cũng rất chật vật.

Giới taxi có thể kiếm tiền khá hơn, ngang bằng hoặc trên mức lương trung bình của nhân công, khoảng một triệu rưỡi tiền VN một tháng.

Có lần tôi ngồi xe taxi mà anh tài xế là một thanh niên khoảng dưới bốn mươi tuổi, với vẻ mặt khôi ngô tuấn tú. Anh cho biết cách đây gần hai mươi năm, anh đã vượt biên, nhưng không được may mắn đi lọt. Nay anh phải vất vả lái xe taxi. Nhưng anh cũng cảm thấy an ủi phần nào là không phải chạy xe ôm.

Tôi cảm thấy đau buồn cho anh: nếu lần đó anh may mắn đi trót lọt và được định cư ở một quốc gia thứ ba, có lẽ anh đã có cơ hội làm lại cuộc đời ở nước ngoài và biết đâu giờ đây anh cũng trở thành bác sĩ, kỹ sư hay chuyên viên một ngành nghề nào đó. Và cũng như bao nhiêu Việt kiều cùng lứa tuổi với anh đã thành công ở xứ người, anh cũng có thể trở về thăm quê hương mà không phải ôm một nỗi buồn ray rứt là phải lái xe taxi như ngày hôm nay.

Giới trẻ

Vào một buổi trưa trong tuần, tôi đi ngang qua một tiệm bán vật dụng điện toán ở góc đường Lê Văn Duyệt trưóc kia (nay là Cách Mạng Tháng Tám) và đường Hồng Thập Tự cũ, nhiều xe gắn máy của các bạn trẻ tuôn đến đậu chật trước một cửa tiệm, họ chen chúc nhau vào mua hàng.

Tôi tò mò bước vào mới biết đó là ngày bán “sale” nhiều vật dụng điện toán. Cả trăm bạn trẻ ra vào tấp nập, xâm chiếm hai tầng lầu. Ai nấy ôm đầy những vật dụng điện toán, sắp hàng dài trước các két trả tiền.

Điều nầy khiến tôi đâm ra sửng sốt: giới trẻ Việt Nam hiện nay đang say mê điện toán như người ta mê say cờ bạc vậy. Có em suốt cuối tuần ngồi trước máy điện toán, quên ăn quên uống.

Những tiệm công cộng cho mướn các máy điện toán, cứ chiều chiều và đến tối khuya, các em nam cũng như nữ ngồi chật trước các máy, vào internet để “chat” trên mạng hoặc chơi “game”. Đó là một hiện tượng đáng vui hay đáng buồn cho giới trẻ Việt Nam hiện nay???

Tuy nhiên có một số nhỏ cũng cố vươn lên để chiếm một chỗ đứng cho tương lai mình. Có lần tôi ngồi cạnh một em nữ sinh viên trên một chuyến xe buýt. Sau khi hỏi chuyện, tôi được biết em đang theo học ngành ngoại giao và sáng đó em đi xe buýt đến trường đại học. Tôi nói đùa: chắc rồi đây em sẽ làm ở Bộ Ngoại Giao. Em cười trả lời: Ở Việt Nam hiện nay, muốn thành công trong ngành ngoại giao, phải có bốn yếu tố “ngoại” sau đây: ngoại hình, ngoại ngữ, ngoại giao và ngoại tệ.

Em cười và nói tiếp: nhưng trên hết phải có văn bằng “COCC”. Tôi ngạc nhiên không hiểu thì em cho biết “COCC” là “con ông cháu cha”. Nghe em giải thích như thế, tôi cũng bật cười với em qua làn nước mắt.

Lần khác, tôi đang đứng đợi xe buýt ở ngã tư Phú Nhuận để về Gia Định, một em gái được người dì chở xe gắn máy đến chỗ đó đợi xe buýt. Nhìn quanh một lúc, em hỏi tôi xe buýt nào đi về bến xe Miền Đông. Tôi chỉ cho em hai số xe trên bảng hiệu và cho biết tôi cũng đi xe đó để về Gia Định.

Ngồi trên xe buýt, sau khi dò hỏi, tôi được biết em ra bến xe Miền Đông để trở về quê ở Long Khánh, nơi em mới rời khỏi cách đây hai tuần lễ để lên đây kiếm việc, nhưng không có kết quả. Em cho biết thêm em 18 tuổi, vừa mới học xong lớp 12, muốn lên Saigon để kiếm việc, nhưng vì mất thẻ “chứng minh nhân dân” nên không ai mướn hết. Muốn xin thẻ mới, người ta đòi hỏi một số tiền mấy triệu đồng.

Tôi thông cảm hoàn cảnh khó khăn của em nên khuyên bảo em phải thận trọng, kẻo rơi vào những cạm bẫy nơi đô thị đa tạp nầy. Em tỏ ra thông hiểu, nhưng không biết rồi đây sẽ ra sao. Khi giã biệt, tôi chỉ biết cầu nguyện cho em thoát khỏi những ảo ảnh của cuộc đời nơi đô thị phồn hoa để không phải rơi vào vực thẳm như trăm ngàn vạn em khác trước em cũng vì lỡ lầm, để rồi nghìn thu mang hận.

Nhà Hát Thành Phố

Những ngày ở Saigon, tôi thường xuyên qua lại đại lộ Lê Lợi mà cuối đường là “Nhà Hát Thành Phố”. Nơi đây trước 30/4/1975 là trụ sở Quốc Hội Lập Hiến và Lập Pháp qua hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.

Mỗi lần ngang qua tòa nhà đó, tôi cảm thấy một nỗi buồn dâng lên trong tâm hồn, khi liên tưởng đến những người múa rối đã một thời “làm trò”, nhất là sau biến cố 1/11/1963. Và tôi cũng nghĩ tới Hội Trường Diên Hồng trước kia – không biết hiện nay trở thành cơ quan gì – với những người múa rối khác: đó là mấy quân nhân gây nên biến cố 1/11/1963 cùng với vài phản thần khác về sau thất cơ lỡ vận, bị gạt ra ngoài. Họ đã vào an trú nơi đó để rồi cũng quay cuồng múa rối trong cái gọi là “Thượng Viện” thời đó.

Thật là một trò dâu bể khác, cũng não lòng không kém! Từ trụ sở Quốc Hội biến thành “Nhà Hát Thành Phố” mà không phải chỉ từ sau 30/4/1975, nhưng đã bắt đầu từ 1/11/1963.

Mỗi khi đi ngang qua “Nhà Hát Thành Phố” đó, bỗng hiện ra trong đầu óc tôi hai câu thơ châm biếm đầy chua chát của thi sĩ Trần Tế Xương ở thế kỷ 19 đối với nhóm “hát tuồng” trong thời đại của ông, nhưng cũng ứng với những người hát tuồng về sau nầy :

“Lẳng lặng mà xem lũ hát tuồng,

Cũng hò cũng hét cũng i uông…

Gặp nhau trên mạng

Trên năm năm trở lại đây, tôi có dịp quen biết một nhóm thân hữu ở trên mạng, sống rải rác nhiều nơi ở Saigon, Âu châu và Bắc Mỹ. Nhóm chúng tôi độ 20 người, gồm vài linh mục, số còn lại là những giáo dân thuộc những ngành chuyên môn khác nhau, nhưng có một điểm chung là hoạt động trong môi trường truyền thông.

Trong quá khứ, chúng tôi thường có dịp trao đổi với nhau về nhiều đề tài liên quan đến Giáo-Hội. Dịp nầy, tôi được hội ngộ với ba linh mục thuộc ba hội dòng khác nhau và mấy anh em giáo dân khác ở Saigon. Cuộc họp mặt hôm đó khá đầy đủ và thật thích thú.

Một điểm nổi bật, tuy là những tay cầm bút, nhưng giờ đây ai nấy đều có chiều hướng muốn trở vể đời sống nội tâm. Từ các linh mục cũng như giáo dân, tất cả đều đang truy tầm một môi trường thích hợp để đời sống nội tâm dễ phát triển hơn.

Một trong ba linh mục hiện diện là giáo sư thần học nên tôi lợi dụng dịp nầy để nêu lên một vấn đề khá nóng bỏng do một số giáo dân đưa lên trên vài trang mạng trong thời gian gần đây. Đó là “con người có thiên tính”. Sau khi trình bày xong, tôi đặt câu hỏi với vị linh mục đó là ngài có thiên tính hay không?

Câu hỏi của tôi đã làm cho mọi người bật cười, kể cả vị linh mục đó. Tuy nhiên, ngài đã điềm tĩnh trả lời: “Tôi chỉ có nhân tính, chứ không có thiên tính, vì thiên tính chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa mà thôi.”

Ngài còn lưu ý một điểm khá quan trọng là Thánh Tôma Aquinô đã định nghĩa “thiên tính” cùng với nội dung hàm chứa trong đó. Nếu nay mình dùng từ “thiên tính” đó của ngài, nhưng thay đổi nội dung đó đi thì cần phải sáng chế một từ khác cho thích hợp với nội dung mới.

Tôi nhận thấy không ai có ý kiến gì đối với những lời giải thích của vị linh mục đó. Không biết “im lặng” trong trường hợp nầy có nghĩa là “đồng ý” không? Riêng tôi thì rất tâm đắc với lối giải thích đó.

Thiên Tính

Một tuần lễ sau, tôi đi Tour ở Hải Đảo Phú Quốc. Nhân khi thăm viếng một ngôi chùa nổi tiếng ở đây, anh hướng dẫn viên, sau khi cắt nghĩa sự tích ngôi chùa, đã chia sẻ thêm: đối với Phật tử thì ai cũng có thể thành Phật được vì sẵn có Phật tính trong mình. Nhưng đối với Kitô giáo thì người Kitô hữu không thể thành Chúa được. Tuy nhiên hiện nay người ta đang bàn cãi xem người ta có thiên tính không ?

Câu nói của anh hướng dẫn viên đoàn du lịch – tôi đoán có thể anh là một Phật tử – đã khiến tôi đâm ra nghĩ ngợi: câu chuyện lạm bàn về “thiên tính” của một số giáo dân đưa lên mạng đã khiến một số người quan tâm, nhất là các Phật tử.

Sau nầy, trong một dịp chia sẻ khác, một người đã nêu ý kiến: vấn nạn “Thiên Tính” hiện nay dường như có hai lối nhìn. Một số người khẳng định: Con người chỉ có nhân tính, chứ không có thiên tính, vì thiên tính chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Một số người lại xác tín: Con người có cả nhân tính về phần thể lý, và con người có cả thiên tính về mặt tâm linh. Đây là một vấn nạn rất quan trọng vẫn còn bỏ ngỏ, mời gọi mỗi người đặt lại vấn đề cho riêng mình để tìm ra lời giải đáp cho chính cuộc đời Sống Đạo của mình.

Khi về lại Canada, trong một cuộc “chat” trên mạng với một người anh em khác trong nhóm ở Âu châu là một giáo dân có căn bản thần học, tôi đã trình bày sự việc trên đây. Người anh em đó đã đưa ý kiến: “Là thiên tính rất khác với có thiên tính. Thiên Chúa vốn là thiên tính, còn con người có thể có thiên tính do được thông phần vào Thiên Tính của Thiên Chúa”. Tôi thiết tưởng đây là quan điểm được đại đa số Kitô hữu chấp nhận từ trước đến nay.

2. HẢI ĐẢO PHÚ QUỐC

Địa điểm du lịch gần Saigon mà nhiều người ưa thích là hải đảo Phú Quốc. Nơi đây cảnh đẹp lại có vài bãi biển nổi tiếng.

Hòn đảo ngọc

Phú Quốc là nơi tôi thăm viếng trước tiên, ngoài Saigon. Đó là hải đảo Việt Nam lớn nhất, nằm phía Tây Nam, trong vịnh Thái Lan, thuộc tỉnh Kiên Giang, cách Hà Tiên 45 cây số. Đi máy bay từ Saigon ra Phú Quốc mất độ 40 phút. Dương Đông là thủ phủ của Phú Quốc và là cảng cá lớn, ở trung tâm phía tây đảo.

Tên “Phú Quốc” được xuất phát từ chữ “Phục Quốc” do Chúa Nguyễn Ánh trong thời gian trôi dạt đã dùng hải đảo nầy làm căn cứ địa để hướng về đất liền giành lại chủ quyền.

Phú Quốc được mênh danh là “hòn đảo ngọc” bởi sự giàu có do thiên nhiên ban tặng. Phú Quốc có hàng ngàn loài động vật và là một ngư trường lớn mà sản lượng hằng năm lên tới 56.000 tấn hải sản.

Nhiều loại hải sản có giá trị như bào ngư, đồi mồi, cá sùng, cá trích, cá bớp, tôm, mực, ghẹ. Nhưng nổi tiếng nhất là cá cơm (để làm nước mắm), hương vị ngọt và thơm, có độ đạm cao (trên 25%). Ngoài ra còn có cá ngựa và trai ngọc (điệp dĩa).

Tiềm năng du lịch của Phú Quốc thật phong phú, nhưng còn là một vùng đất mới lạ. Quanh đảo có nhiều bãi biển thật đẹp.

Bắc đảo và Nam đảo

Tôi đến Phú Quốc vào một ngày ảm đạm và hôm sau, trời mưa như trút nên cũng không tham quan được nhiều.

Ở Bắc đảo, chúng tôi đã thăm viếng đền thờ Nguyễn Trung Trực và chùa Sùng Hưng. Nguyễn Trung Trực là người lãnh đạo phong trào chống Pháp trong suốt 7 năm, đã đốt tàu Espérance của Pháp trên sông Nhật Tảo năm 1861 và đánh thành Kiên Giang năm 1868.

Kế đó, chúng tôi có dịp tham quan cơ sở nuôi cấy Ngọc Trai, đi ngang qua nhà tù Phú Quốc, Suối Tranh và chùa Sư Muôn ở Nam Đảo.

Suối Tranh bắt nguồn từ dãy đá Hàm Ninh (ở phía đông bắc Phú Quốc), mang theo nhiều giòng suối nhỏ, chảy từ các khe núi, len lỏi qua nhiều bãi cỏ xanh mượt, nhập vào giòng chính để thành con suối lớn, dài 16 cây số. Suối Tranh chảy hiền hòa, bên cạnh những phiến đá nối tiếp nhau chạy dài đến ngút ngàn.

Thêm vào đó chúng tôi có dịp quan sát một số vườn “tiêu” và vườn “điều” là hai loại cây đặc biệt trồng ở đây, nên người ta gán cho Phú Quốc cái tên là “hòn đảo tiêu điều”.

Với chính sách khuyến khích ngành du lịch của nhà nước Việt Nam hiện nay, Phú Quốc đang chuyển hướng để hấp dẫn du khách. Tuy nhiên hệ thống giao thông cần được chỉnh trang và công tác làm sạch các bãi biển phải triệt để thi hành thì mới có thể thu hút du khách được.

Con đường Bắc Nam đảo

Hiện tại phương tiện giao thông duy nhất ở Phú Quốc từ Bắc đảo xuống Nam đảo dài trên 45 cây số là xe gắn máy: xe nhà hay xe ôm. Xe taxi hầu như không có. Khách sạn và nhà hàng còn quá ít ỏi.

Phương tiện di chuyển bằng xe gắn máy chỉ thích hợp cho những người trung niên, khỏe mạnh. Đối với những người lớn tuổi là một vấn đề khó khăn.

Hiện nay, chỉ có một thánh đường duy nhất ở Nam đảo cho toàn thể tín đồ Công giáo trên đảo. Trước nguyện vọng của trên năm trăm gia đình Công giáo với khoảng hai ngàn tín đồ ở Bắc đảo muốn xây cất một ngôi thánh đường ở đây đã không được chính quyền địa phương chấp thuận, với lý do không có nhu cầu.

Mỗi sáng Chúa nhật, trong những ngày nắng ấm, những thanh niên nam nữ có thể dùng xe gắn máy đi xem lễ ở Nam đảo với đoạn đường dài trên 45 cây số. Gặp khi trời mưa thì đường sá có nơi trở nên lầy lội hoặc ngập nước, đi đứng khó khăn nguy hiểm. Đối với những người già cả, dù trời mưa hay nắng, cũng đành bó tay!

3. ĐÀ NẴNG HỘI AN

Sau khi thăm viếng hải đảo Phú Quốc, tôi đã tham gia chuyến du lịch Xuyên Việt trong chín ngày tám đêm. Đà-nẵng Hội-an là trạm dừng chân đầu tiên, kế đó là Thừa-Thiên Huế, trước khi ra Hà-nội rồi đi Vịnh Hạ-long và TP Sapa.

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành Phố Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, trên trục đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Phía bắc là đèo Hải Vân, giáp tỉnh Thửa Thiên - Huế. Phía tây nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông là biển Đông.

Đây là một thành phố được thành lập từ năm 1888. Từ xưa, Đà Nẵng đã là một hải cảng quan trọng của Việt Nam và hiện nay là một trung tâm kinh tế và là một thành phố lớn nhất miền Trung.

Ngũ Hành Sơn – Non Nước

Đến Đà-nẵng, chúng tôi đi tham quan Ngũ Hành Sơn – Non Nước. Vùng nầy cách Thành Phố Đà Nẵng khoảng 8 cây số về phía đông nam, bên bờ biển Đông và giòng Trường giang.

Leo lên năm ngọn núi đứng sừng sững giữa trời mây, tôi chợt nghĩ ra người dân gọi đây là “Non Nước”, vì núi gần biển. Trước đây quần thể nầy được gọi là “Ngũ Uẩn Sơn”, “Ngũ Chỉ Sơn” và khoảng đầu thế kỷ 19 là “Ngũ Hành Sơn” cho đến ngày nay.

Cô hướng dẫn viên cho biết vào năm 1837, lần thứ ba vua Minh Mạng ngự du và nhận ra thế đứng của 5 ngọn núi ở đây theo phương vị ngũ hành của thuyết kinh dịch Đông phương nên đã đặt tên 5 ngọn núi là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn và cho khắc tên vào núi.

Ngọn Thủy Sơn đẹp nhất. Nhà vua rất thích cảnh non nước hữu tình của Ngũ Hành Sơn nên đã cho xây hành cung tại núi Thủy Sơn. Có lần vua đến và lưu lại khá lâu, triều thần phải dâng sớ can ngăn, mời vua hồi triều để lo quốc sự.

Ngũ Hành Sơn có nhiều hang động như Hoa Nghiêm, Huyền Không, Linh Nham…Ngoài ra còn có “Vọng Giang Đài” là nơi có thể nhìn giòng sông uốn khúc chảy quanh co giữa đồng lúa xanh ngắt và làng mạc trù phú, cùng “Vọng Hải Đài” là nơi có thể nhìn ra biển Đông mênh mông xa tít…

Chúng tôi đi tham quan bãi biển Non Nước, sau trận bão Xangsane (bão số 6) nên quang cảnh có phần tiêu điều, mặc dù đây là một nơi đang được qui hoạch để xây dựng một khu du lịch lớn lao hầu phục vụ du khách quốc tế và nội địa.

Làng đá mỹ nghệ Non Nước

Kế đó, chúng tôi đi thăm làng đá mỹ nghệ Non Nước, được hình thành vào thế kỷ 18 do nghệ nhân người Thanh Hóa tên là Huỳnh Bá Quát khai phá. Sang thế kỷ 19 thì cả làng Quan Khải (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) đều sinh sống bằng nghề nầy.

Nguyên liệu để chế biến các sản phẩm mỹ nghệ là đá cẩm thạch trước đây được khai thác ở Ngũ Hành Sơn. Đó là loại đá có nhiều vân ngũ sắc, vẻ đẹp cao sang và mặt hàng được ưa chuộng trong việc kiến trúc.

Sản phẩm mỹ nghệ bằng đá cẩm thạch ở đây khá phong phú. Ngoài những pho tượng, còn có những sản phẩm thông dụng trong cuộc sống hàng ngày (như cái chày, cái cối), những vật dụng trong nhà (như bàn, ghế), đồ trang sức (như vòng, nhẫn, chuỗi hạt) và những sản phẩm trưng bày ngoài trời (như những cặp sư tử hí cầu, những con đại bàng với đôi cánh sải rộng, những cặp cá thần tiên).

Các pho tượng trưng bày có đủ kích cỡ từ vài chục phân đến vài mét được điêu khắc theo cả mô hình cổ truyền và hiện đại.

HỘI AN

Sau Đà Nẵng, chúng tôi đi thăm Hội An là thành phổ cổ nằm ở phía nam Đà-nẵng, nơi được nhiều du khách ngoại quốc ưa thích vì những nét đặc trưng của thành phố nầy.

Phố cổ Hội An

Đó là một đô thị cổ nằm bên Cửa Đại, nơi con sông Thu Bồn đổ ra biển Đông. Nơi đây vào thế kỷ 16, 17 đã nổi tiếng với tên gọi là Faifoo và rất quen thuộc với các thương gia Nhật Bản, Indônêxia, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi…Thời đó, thương cảng Hội An rất sầm uất, vì là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á.

Do sự bồi đắp của sông và qua bao biến động lịch sử sau nhiều thế kỷ, Hội An không còn là thương cảng, nhưng dấu ấn một thời vàng son của nó vẫn để lại những giá trị văn hoá vô giá. Đến nay khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng một quần thể di tích kiến trúc.

Cuộc sống thường ngày của cư dân với những tập quán sinh hoạt văn hóa lâu đời vẫn được duy trì. Nơi đây là bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị. Chính vì lý do đó, vào tháng 12 năm 1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Ngoài những di sản vật thể, cộng đồng người dân Hội An còn bảo tồn, lưu giữ những vốn cổ trong cuộc sống, hoạt động văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghi lễ, ẩm thực…Tất cả các yếu tố đó tạo cho phố cổ Hội An dáng vẻ riêng đậm nét xưa.

Một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo là tại phố cổ Hội An, cứ đến ngày rằm âm lịch hằng tháng, cả thị xã không sử dụng đèn điện. Trên phố, trong nhà đều treo những đèn lồng muôn hình muôn vẻ. Du khách dạo chơi phố cổ dưới ánh sáng huyền ảo muôn màu của đèn lồng, tạo ra một nét riêng độc đáo của văn hóa Hội An.

Chùa Cầu hay Cầu Nhật Bản

Cầu cổ duy nhất còn lại ở Hội An là Chùa Cầu hay Cầu Nhật Bản, được xây dựng vào đầu thế kỷ 17, là công trình kiến trúc duy nhất được coi là có gốc tích Nhật Bản còn lại. Cầu do các thương gia Nhật Bản thực hiện, bắc ngang con lạch chảy ra sông Thu Bồn.

Đó là một tài sản văn hóa quý giá, một biểu tượng độc đáo của Hội An. Trên cửa chính của Chùa Cầu có một tấm biển lớn chạm nổi ba chữ Hán là “Lai Viễn Kiều”. Chùa không thờ Phật mà thờ Bắc Đế Trấn Võ là vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui hạnh phúc cho con người, thể hiện khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gởi gắm cùng trời đất nhằm cầu mong mọi điều tốt đẹp.

Chùa Cầu là một di tích có lối kiến trúc khá đặc biệt. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu dài 18 mét. Chùa và cầu đều bằng gỗ sơn son chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu: một đầu là tượng chó và một đầu là tượng khỉ. Tương truyền đó là những con vật mà người Nhật sùng bái thờ tự từ cổ xưa.

Sông Thu Bồn

Đó là một trong những con sông tuyệt đẹp đã từng đi vào thi ca Việt Nam. Sông nầy bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Linh cao 2.598 mét, chảy qua vùng núi phía tây nam, hòa cùng sông Tiên, sông Tranh tại Quế Tân, chảy qua các vùng Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên và Điện Bàn, phố cổ Hội An, rồi đổ ra biển Cửa Đại. Vào những ngày đẹp trời, du khách thường đi du thuyền trên sông và thưởng thức thắng cảnh hai bên bờ cùng các làng trồng cây ăn trái dọc ven sông.

4. THỪA THIÊN – HUẾ

Điểm tham quan gây nhiều ấn tượng nhất ở miền Trung là cố đô Huế. Tại đây, ngoài cung điện nhà vua và các lăng tẩm, tôi được thưởng ngoạn những danh lam thắng cảnh như sông Hương, cầu Trường Tiền, Chợ Đông Ba, Chùa Thiên Mụ, Nhà Thờ Chánh Tòa Phủ Cam… Đó chỉ là những cảnh cũ rất quen thuộc đối với tôi thuở thiếu thời, nhưng nay đã được tân trang và khác xa rất nhiều.

TỈNH THỪA THIÊN VÀ ĐÔ THỊ HUẾ

Đèo Hải Vân

Sau khi thăm viếng Hội An, ngày hôm sau chúng tôi đi ra Thừa Thiên - Huế, ngang qua Đèo Hải Vân. Đèo nầy trải dài theo sườn núi Hải Vân với chiều dài khoảng 20 cây số, từ địa phận Đà Nẵng đến Thừa Thiên.

Trong nhiều thế kỷ, vùng đèo nầy đã tạo thành một bức tường ngăn cách giữa nền văn hóa Chàm cổ ở phía Nam và nền văn minh kế thừa của Việt tộc tại vùng châu thổ sông Hồng. Dãy núi Hải Vân là một bức tường thành thiên nhiên quan trọng ngăn các đợt gió mạnh từ phương Bắc tràn vào. Vì vậy các tỉnh từ Đà Nẵng, Quảng Nam trở vào hầu như quanh năm ấm áp và không có mùa Đông.

Thắng cảnh nổi tiếng ở đây là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Từ trên cao độ 496 mét của đỉnh đèo Hải vân, du khách có thể ngắm nhìn toàn bộ thành phố Đà Nẵng và làng chài Lăng Cô thanh bình, nằm ở chân đèo phía bắc. Làng chài Lăng Cô nằm gần bãi biển Lăng Cô. Bãi nầy dài 10 cây số, cạnh quốc lộ 1A, có bờ biển thoai thoải, cát trắng, độ sâu trung bình dưới 1 mét. Vào mùa tắm biển (từ tháng 4 đến cuối tháng 7), nhiệt độ trung bình là 25 độ C. Khu vực biển Lăng Cô có nhiều loại hải sản như tôm hùm, tôm sú, tôm bạc, tôm he, tôm vằn, tôm đất, cua, cá thu, cá chim, sò huyết…

Trên đỉnh đèo có miếu nhỏ thờ thần núi được hình tượng hóa bằng một con hổ. Rong rêu đã phủ đầy trên chiếc lô cốt – được gọi là Đồn Nhất – do người Pháp xây dựng vào năm 1826 để bảo vệ con đèo chiến lược nầy. Hiện nay có đường hầm xuyên qua đèo Hải Vân nên ít khi xe leo lên đèo, ngoại trừ trường hợp du ngoạn.

Tỉnh Thừa Thiên

Đây là một tỉnh ở miền Trung Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng, tây nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ và cũng là biên giới Việt Lào, phía đông trông ra biển.

Ở tỉnh Thừa Thiên, núi chiếm khoảng ¼ diện tích và miền trung du chiếm khoảng ½ với độ cao phần lớn dưới 500 mét, với chiều rộng vài trăm mét. Đồng bằng nằm dọc miền duyên hải, bề ngang hẹp và chiều dọc dài, song song với bờ biển, lẫn với cồn cát, đầm phá. Những cồn cát có độ dài từ 5-30 mét, hai sườn không cân xứng. Vùng đồng bằng sát núi có một số hồ nhỏ, nước ngọt. Hầu hết các sông lớn ở tỉnh Thừa Thiên bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua đồng bằng, xuống đầm phá, đổ ra biển như sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Truồi, sông Hương. Con sông nầy lớn nhất, với diện tích lưu vực khoảng 300 cây số vuông.

Bờ biển Thừa Thiên dài 120 cây số, có cảng Thuận An và cảng Chân Mây với độ sâu 18-20 mét. Bờ biển nầy có hai nơi nổi tiếng là cửa Thần Phù và phá Tam Giang, xưa kia là hai nơi hiểm trở, nên ca dao có những câu :

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù,

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”

Và :

“Yêu em anh cũng muốn vô,

Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Phá Tam Giang ngày rày đã cạn…”

Quả thế, khi xe chạy ngang qua phá Tam Giang, hiện ra trước mắt tôi một bãi biển mênh mông, trông chừng không sâu lắm, với những gợn sóng nhỏ, không lấy gì làm ghê sợ hãi hùng, nhưng có vẻ mông lung vô định.

Sân bay Phú Bài nằm cạnh quốc lộ 1A và mọi giao thông xuyên Việt bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy đều chạy qua tỉnh Thừa Thiên.

Thật là một tỉnh thành có nét đa dạng về quang cảnh thiên nhiên, cộng với yếu tố nhân tạo đã mang lại cho Thừa Thiên Huế một vẻ đẹp hài hòa: sông Hương chảy giữa lòng thành phố, những khu vườn xum xuê, những kênh đào bao quanh, những đồi thông soi bóng xuống những hồ nước trong xanh, trải rộng, những bãi tắm Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô với nước trong, cát mịn và khu nghỉ mát Bạch Mã.

Đô thị Huế

Huế là tỉnh lỵ của Thừa Thiên, một vùng đất cổ. Vào thế kỷ 13, vùng đất thơ mộng nầy đã hòa nhập vào nước Đại Việt do quà tặng của vua Chiêm Thành khi cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần, khiến nhân gian đã tiếc rẻ cho một sắc nước hương trời:

“Tiếc thay cây quế giữa rừng,

Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”.

(Ca dao)

Phong cảnh tuyệt vời với địa hình hiểm trở đã tạo cho Huế một vị trí đặc biệt trong lịch sử nước Việt nên đã được chọn làm kinh đô của triều đại Tây Sơn (1788-1802) bởi vua Quang Trung và của triều Nguyễn (1802-1945) bởi vua Gia Long. Trong hơn 400 năm, Thừa Thiên nói chung và Huế nói riêng đã là trung tâm chính trị và văn hóa của nhà nước Việt Nam qua những thời kỳ đó.

Chính vì vậy, nơi đây còn lưu giữ hằng trăm di tích lịch sử, văn hóa mà nổi bật nhất là các cung điện, lăng tẩm của các vua chúa nhà Nguyễn nên Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993, với trên 300 công trình kiến trúc bao gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, các kiến trúc cung đình, kiến trúc dân gian, các chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ, hệ thống nhà vườn…Tháng 11/2003, UNESCO công nhận nhã nhạc Huế là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Sông Hương

Chúng tôi trú tại một khách sạn vùng An Cựu, cạnh Đập Đá, bên cạnh sông Hương. Gọi là Sông Hương vì từ xa xưa, dòng sông nầy chảy qua những cánh rừng nhiều thảo mộc có hương thơm nên khi chảy qua Huế, dòng sông mang theo hương thơm của cây cỏ thiên nhiên. Sông Hương có hai ngọn nguồn là Tả Trạch và Hữu Trạch. Nguồn Hữu Trạch đến ngã ba Bằng Lăng họp dòng với Tả Trạch thành sông Hương thơ mộng.

Với độ dài 30 cây số, đoạn sông chảy qua Huế uốn lượn như có sự sắp đặt, nhằm tăng thêm vẻ kiều diễm cho xứ Huế. Sắc nước sông Hương trở nên xanh hơn khi vượt qua chân núi Ngọc Trản - điện Hòn Chén, tạo nên một lòng vực sâu thẳm. Quang cảnh hai bên bờ sông bày ra thành quách, phố xá, vườn cây, chùa tháp…bóng lồng mặt nước phản chiếu lung linh làm cho dòng sông đã yêu kiều càng nên thơ, nên nhạc.

Những du khách có dịp đi thuyền, sẽ dạo chơi bên khu kinh thành, dưới cầu Dã Viên, Phú Xuân, Trường Tiền và lên thăm lăng Minh Mạng, điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ. Nếu lưu lại Huế lâu hơn, người ta sẽ có dịp xuôi về Thuận An tắm biển hoặc lên rừng thông lăng Thiên Thọ để nghe thông reo vi vu.

Đêm hôm đó, chúng tôi ngồi du thuyền trên sông Hương để nghe ca Huế. Dưới ánh trăng, mặt sông như dát bạc, giọng hò man mác của các cô gái Huế cất lên, ai nấy được thưởng thức vị ngọt ngào của tiếng đàn, giọng hát trong trẻo. Tôi nhớ lại mấy câu ca dao:

“Đi đâu cũng nhớ quê mình,

Nhớ sông Hương gió mát,

Nhớ Ngự Bình trăng treo”

(Ca dao)

Nhưng nếu cứ thưởng thức những điệu “Nam Ai” hoài, chắc cũng chán chết! Trong khi được thưởng thức lần đầu tiên, chúng tôi say mê như bị thu hút bởi tiếng đàn, tiếng hát ví von của mấy cô ca sĩ trẻ tuổi yêu kiều dễ thương thì ở một góc xó du thuyền, tôi thoáng thấy cô hướng dẫn viên lim dim gật gù…Thật tôi nghiệp cho cô vì phải “bị thưởng thức” như thế ít nhất mỗi tuần một lần!

Cầu Trường Tiền

Bắc qua sông Hương có rất nhiều cầu, nhưng chỉ có một cây cầu đã trở thành một trong những biểu tượng của Huế, đó là cầu Trường Tiền. Trong mấy ngày lưu lại Huế, chúng tôi đã qua lại chiếc cầu nầy vài lần, ban ngày và ban đêm.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn: “Cầu sắt Trường Tiền ở đông nam kinh thành…khởi làm năm Thành Thái thứ 9 (1897), cầu có 6 vài, 12 nhịp, dài khoảng 400m, đến năm 1899 mới xong”.

Tháng 8 năm 1904, một cơn bão dữ dội tràn vào miền Trung Việt Nam, cầu bị sập 4 nhịp. Năm 1906, cầu được sửa chữa lại. Cầu Trường Tiền hôm nay cũng đã được tu bổ nhiều lần. Đầu cầu phía bắc xưa có chợ nhỏ bên bến đò Trường Tiền là chợ Đông Ba. Nay chợ Đông Ba đã trở thành trung tâm thương mại lớn nhất của thành phố Huế.

Thuở nhỏ, khi còn là học sinh trung học, tôi qua lại cầu Trường Tiền mỗi ngày mấy lượt bằng xe đạp. Về mùa đông, trời hay mưa râm râm, cộng thêm cơn gió heo may, một cái lạnh thấm thía xâm nhập vào da thịt khiến tâm hồn cũng trở nên tê tái, như một thi sĩ tiền chiến đã viết:

“Đã nghe rét nướt luồn trong gió,

Đã vắng người sang những chuyến đò”.

Chợ Đông Ba

Chợ Đông Ba nằm bên đường Trần Hưng Đạo, cách cầu Trường Tiền khoảng 100m về phía bắc. Đầu tiên, chợ mang tên là “Chợ Đông Hoa”, nhưng “Hoa” là tên húy của một vị thuộc hoàng triều nhà Nguyễn nên phải đọc trại ra là “Ba”, do đó mới có tên “Chợ Đông Ba”. Sau nhiều biến cố và sự tàn phá của thiên nhiên, chợ được xây dựng lại năm 1986. Nơi đây hầu như có đủ các ngành hàng, từ hàng tiêu dùng thông thường, hàng công nghiệp giá trị cao đến các sản phẩm địa phương…rất đa dạng và phong phú.

Chúng tôi ghé lại thăm chợ vào một buổi xế chiều. Trong chợ, các sạp bán nón thu hút nhiều du khách hơn cả. Từ lâu nón Huế là một loại hàng nổi tiếng ở trong và ngoài nước. Nón ở đây mỏng, nhẹ, thanh thoát. Đã vậy ở mỗi chiếc nón lại hiện lên một nét độc đáo riêng khi cầm nón soi lên ánh sáng, thông thường là bốn câu thơ, nên có tên là “chiếc nón bài thơ”. Do đó, người thợ làm nón đã nói hộ bao người thân thương của mình khi nhận được chiếc nón làm quà…

Chùa Thiên Mụ

Tôi có dịp đi thăm lại Chùa Thiên Mụ là một trong những ngôi chùa cổ nhất và đẹp nhất ở Huế. Chùa được xây dựng trên đồi Hà Khê bên tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 cây số về phía tây.

Khi còn niên thiếu, vào những ngày đẹp trời cuối tuần, tôi thường đạp xe đạp lên chùa nầy để ngồi nhìn sông Hương trầm lắng uốn khúc dưới những cánh đồi chạy dài gần như bất tận. Mùa hè, tôi hay ra phía sau chùa, nơi trải dài một cánh đồng bát ngát. Vào mùa gặt, mùi lúa thơm phảng phất từ đồng ruộng đưa lên dễ đưa tâm hồn con người vào cõi hư vô tĩnh mịch.

Chùa được xây cất đầu thế kỷ 17, gắn liền với một huyền thoại “bà tiên áo đỏ”. Bởi vậy chùa có tên là Thiên Mụ (bà tiên trên trời). Kiến trúc chùa Thiên Mụ chia làm hai phần: phía trước là pháp đình, phía sau là điện vũ. Trên sân tháp có nhà bia và lầu chuông.

Vào năm 1844, vua Thiệu Trị cho xây ngọn tháp Phước Duyên. Tháp xây hình khối bát giác cao trên 21-24 mét, chia làm 7 tầng. Ở mặt phía nam, mỗi tầng tháp có một cửa cuốn đặt tượng Phật như một khán nhỏ. Riêng tầng trên cùng đặt ba pho tượng (trước kia bằng vàng đã bị mất trộm, nay được thay bằng tượng khác).

Chuông chùa Thiên Mụ có tên là Đại Hồng Chung, cao 2,5m, đường kính 1,4m, nặng 3.285 kg là một trong những thành tựu về nghệ thuật đúc đồngViệt Nam thế kỷ 18. Bia đá chùa Thiên Mụ được dựng vào năm 1715, cao 2,6m, rộng 1,2m, đứng trên lưng con rùa lớn tạc đá cẩm thạch.

Sau Y môn là ba nếp chùa chính, với tên gọi là Đại Hùng, Địa Tạng và Quan Thế Âm là nơi thờ Phật.

CUNG ĐIỆN

Chúng tôi dành trọn một ngày đi thăm các “cung điện” và lăng tẩm của các vua chúa nhà Nguyễn.

Kinh thành Huế

Phần kinh thành Huế còn lại đến ngày nay được xây dựng từ năm 1805, (thời vua Gia Long) và hoàn thành vào năm 1832 (thời vua Minh Mạng), trên một diện tích khoảng 5,2 cây số vuông, bên bờ bắc sông Hương.

Kinh thành Huế được xây cất theo kiến trúc của phương Tây, kết hợp một cách hài hòa với kiến trúc thành quách phương Đông. Kinh thành gồm ba vòng thành: Phòng Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Bên trong các lớp thành cao hào sâu là một tổng thể với hằng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ. Tất cả được xây lên xung quanh một trục chính, theo hướng nam bắc.

Khởi đầu là Kỳ Đài (cột cờ), tiếp đến là Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, điện Kiến Trung và kết thúc ở cửa Hòa Bình. Các công trình kiến trúc còn lại được xây đang đối ở hai bên đường trục.

Phòng Thành là vòng thành ngoài cùng, với chu vi 9.950 mét. Thành có mười một cửa đường bộ và hai cửa đường thủy. Thành dày 21 mét với 24 pháo đài.

Hoàng Thành là vòng thành thứ hai, với chu vi 2.450 mét. Hoàng thành có bốn cửa: Ngọ Môn (Nam), Hòa Bình (Bắc), Hiển Nhơn (Đông) và Chương Đức (Tây). “Ngọ Môn” là cửa chính nam của Hoàng Thành. Ngày xưa chỉ nhà vua đi qua cửa nầy. Đây là một công trình kiến trúc còn lại gần như nguyên vẹn.

Tử Cấm Thành là vòng thành trong cùng với chu vi 1.225 mét, có 10 cửa ra vào. Đây là nơi ở và làm việc của nhà vua cùng hoàng gia. Nơi đây hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài.

Ngọ Môn

Ngọ Môn là cửa chính nam của Hoàng Thành. Đó là một công trình kiến trúc bề thế, dài 58 mét, rộng 27,5 mét và cao 17 mét, gồm 3 tầng. Ngọ Môn có 5 cửa. “Cửa chính giữa” chỉ dành cho vua đi, cao chừng 5 mét, rộng gần 4 mét. Hai cửa kế cận là “tả, hữu giáp môn”, dành cho các quan. Hai cửa ngoài cùng là “tả hữu dịch môn” dành cho lính hầu và đoàn tùy tùng. Tầng trên là “lầu Ngũ Phụng”, nơi nhà vua ngự trong các dịp lễ trọng.

Ngọ Môn cũng là nơi cử hành lễ xướng danh các sĩ tử trúng tuyển trong các khoa thi Hội, thi Đình, trước khi đem yết bảng ở Phú văn Lâu. Suốt triều nhà Nguyễn, chỉ những khi vua qua lại hoặc tiếp các sứ thần thì Ngọ Môn mới được mở cửa.

Điện Thái Hòa

Điện được xây dựng năm 1805, theo mô hình chung của các cung điện, miếu tẩm ở kinh thành Huế vào thế kỷ 19. Mặt bằng kiến trúc khoảng 1.300 mét vuông. Căn nhà chính dài 43,3 mét và rộng 30,3 mét. Điện gồm hai nhà ghép lại, nhà trưóc là tiền điện, nhà sau là chính điện, nơi đặt ngai vàng của vua. Điện Thái Hòa là trung tâm quan trọng nhất của kinh thành. Tại đây tổ chức các buổi lễ đại triều.

Thế Miếu

Đây là một trong nhiều khu miếu thờ cúng các vua, chúa triều Nguyễn. Trong Hoàng Thành có năm miếu thờ gồm có :

- Triệu Miếu ( thờ Nguyễn Kim, được coi là người mở đầu triều Nguyễn ).

- Thái Miếu ( thờ 9 chúa Nguyễn ).

- Hưng Miếu ( thờ cha và mẹ của vua Gia Long ).

- Thế Miếu ( thờ các vua nhà Nguyễn ).

- Điện Phụng Tiên ( cũng thờ các vua nhà Nguyễn, nhưng dành cho các bà ở nội cung đến lễ vì họ không được vào Thế Miếu ).

Thế Miếu được xây dựng năm 1821 để thờ vua Gia Long, sau đó thờ các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh và Khải Định. Vào tháng 1 năm 1959, trước yêu cầu của Hoàng Tộc và quần chúng, linh vị ba vua có tinh thần chống Pháp là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được đưa vào thờ ở Thế Miếu và như vậy cho tới nay, Thế Miếu thờ 10 vua nhà Nguyễn.

Thế Miếu là một nhà kép như điện Thái Hòa, dài 55 mét, rộng 28 mét. Mỗi gian trong nội thất của Thế Miếu bày một chân quỳ sơn son thiếp vàng, khán thờ, bài vị và một số đồ tế khí quý giá. Tại đây vào ngày mất của các vua triều Nguyễn đời trước, triều đình tổ chức tế lễ rất lớn do đích thân nhà vua đứng ra chủ trì. So với các miếu điện ở Việt Nam, Thế Miếu là một công trình kiến trúc to lớn bậc nhất.

Cửu đỉnh

Đó là chín cái đỉnh bằng đồng, mỗi đỉnh mang một tên: Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền. Lớn nhất là Cao Đỉnh nặng 4.307 cân (2.601kg), cao 2,5 mét. Huyền Đỉnh là đỉnh bé nhất, cao 2, 31 mét, nặng 3,201 cân (1.935kg). Chín đỉnh nầy được đúc trong 3 năm từ 1835-1837 và phải sử dụng tới trên 20 tấn đồng. Đây chính là những thành tựu xuất sắc về kỹ thuật và nghệ thuật đúc đồng của Việt Nam ở thế kỷ 19.

Mỗi đỉnh tượng trưng cho một vị vua và cả hàng đỉnh tượng trưng cho sự bền vững của triều đại nhà Nguyễn. Trên thân mỗi đỉnh có 17 họa tiết (tổng cộng 153 họa tiết), chữ đúc nổi rất thanh thoát, sắc nét theo mô hình cổ điển về các chủ đề phong cảnh, sản vật, chim muông, hoa lá và cảnh mô tả sinh hoạt của người Việt Nam. Cửu đỉnh cũng giống như một bộ bách khoa thư tóm tắt về đất nước và con người Việt Nam.

Cung thất

Cung thất là nơi ở của vua và hoàng gia. Khu vực nầy là một bộ phận quan trọng của kinh thành Huế, gồm các cung :

- Cung Càn Thành ( nơi ở của vua ).

- Cung Khôn Thái ( nơi ở của hoàng hậu ).

- Cung Diên Thọ ( nơi dành cho mẹ vua ).

- Cung Trường Sinh ( nơi dành cho bà nội vua )…

Đáng tiếc, khu vực quan trọng nầy đã bị phá huỷ gần hết, hiện còn lại cung Diên Thọ và cung Trường Sinh là khá nguyên dạng. Cung Diên Thọ được xây cất từ năm 1804. Kiến trúc nổi bật ở đây là hệ thống hành lang có mái che, nối liền với nơi vua ở, để nhà vua có thể đi thăm mẹ.

LĂNG TẨM

Lăng tẩm là nơi an nghỉ nghìn thu của các vua nhà Nguyễn. Huế có 7 khu lăng mộ của 9 vì vua. Các lăng nầy được xây cất rất công phu, nhiều lăng mộ xây dựng từ khi vua đang trị vì. Do đó, lăng không chỉ là nơi dành cho khi chết mà còn là hành cung thứ hai để vua thưởng ngoạn.

Hầu hết các lăng đều được xây về hướng tây nam của kinh thành Huế, với kiến trúc có hai khu: khu thờ phụng tưởng niệm (tẩm) và khu phần mộ (lăng). Bên cạnh những hạng mục chủ yếu, có lăng còn có hồ sen, núi giả, vườn hoa, cây cảnh, đồi thông, đình, cầu quán…tạo nên một quần thể kiến trúc gắn bó hài hòa với khung cảnh thiên nhiên. Bao quanh mỗi khu lăng tẩm thường có tường bao (la thành).

Lăng tẩm các vua triều Nguyễn rất đa dạng về kiến trúc, tuy nhiên mỗi lăng có một kiểu kiến trúc riêng. Điều đó phản ảnh phần nào tư tưởng, quan điểm, thẩm mỹ, cá tính, thị hiếu của từng vị vua đương thời.

Lăng Minh Mạng

Lăng Minh Mạng – còn gọi là Hiếu lăng – được xây cất vào năm 1840 và hoàn thành vào năm 1843, trên một diện tích gần 20ha, tại vùng đồi Cẩm Khê, huyện Hương trà, cách Huế khoảng 12 cây số. Bao quanh lăng là bức tường thành cao 3 mét, dày 0,5 mét. Mặt trước lăng có tam quan. Trong lăng có hơn 30 công trình kiến trúc lớn nhỏ, đưọc bố trí đang đối theo một trục thẳng. Lăng Minh mạng toát lên vẻ đường bệ, uy nghiêm, nhưng rất hài hòa giữa các công trình kiến trúc và thiên nhiên.

Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức – còn gọi là Khiêm lăng – được xây dựng ở hữu ngạn sông Hương, trên núi Dương Xuân, làng Dương Xuân Thượng, Xã Thủy Xuân (cách Huế chừng 8 cây số), giữa khu đồi thông bát ngát tĩnh lặng. Lăng khởi công năm 1864, hoàn thành năm 1867, trên diện tích đất khoảng 12ha. Toàn bộ lăng được bao quanh bởi một bức tường dày uốn lượn theo địa hình đồi núi. Kiến trúc trong lăng, ngoài những yếu tố cần thiết của một lăng, còn có những công trình kiến trúc phù hợp với nơi ở của vua Tự Đức.

Lăng Khải Định

Lăng Khải Định – còn gọi là Ứng lăng – được xây dựng từ 1920 đến 1931, trên đỉnh núi Châu Ê, cách Huế 10 cây số. Nếu các lăng khác được xây trên một vùng núi non chập chùng với diện tích nhiều héc ta, thì lăng Khải Định như một tòa lâu đài đồ sộ xây bên triền núi. Từ dưới chân núi lên tới tẩm điện qua 109 bậc.

Vật liệu xây dựng lăng Khải Định chủ yếu là sắt thép, bê tông và sành sứ. Nét đặt trưng trong lăng Khải Định chính là kỹ thuật khảm sành sứ, trang trí lộng lẫy trên mặt tường, cột nhà và trần nhà. Đây là sự kết hợp giữa hai nền kiến trúc, văn hóa Đông Tây rất tinh xảo.

Trên đây là ba lăng tẩm mà đoàn du lịch chúng tôi đã đặt chân tới. Những lăng tẩm khác cũng có những nết đặc trưng, nhưng không nằm trong chương trình tham quan của chúng tôi nên không đề cập ở đây.

AI VỀ BẾN NGỰ

Lợi dụng ban trưa là giờ nghỉ ngơi, tôi đã âm thầm một mình lang thang ngoài phố để đi thăm lại nơi tôi đã lớn lên lúc còn là học sinh trung học. Đó là khu Bến Ngự, giáo xứ Phủ Cam và khuôn viên tòa Tổng Giám Mục Huế.

Bến Ngự

Tôi rảo bước qua khu Bến Ngự vào giữa ban trưa. Cảnh vật im lìm. Chợ búa vắng tanh. Nhìn vào hàng quán, các người bán hàng xem ra ngái ngủ, vì người dân xứ Huế khó bỏ giấc ngủ trưa được. Trông vào một tiệm hớt tóc thanh nữ, vào lúc ban trưa vắng khách, cô thiếu nữ hớt tóc thoải mái ngồi dựa lưng vào ghế, đánh một giấc ngon lành.

Tôi đi băng qua cầu Bến Ngự, dọc theo kênh đào Phủ Cam là nơi tôi sinh sống lúc còn tấm bé. Giờ đây cảnh vật đã đổi thay: hầu hết nhà cửa đã đổi chủ và được xây cất lại; hàng phượng vĩ già nua cằn cỗi trước kia, nay được thay thế bằng những cây còn non, cao hơn một thước. Cảnh cũ đã đổi khác và người xưa cũng không còn.

5. HÀ-NỘI

Sau ba ngày tham quan ba thành phố Đà Nẵng, Hội An và Thừa Thiên - Huế ở miền Trung, chúng tôi đã đi máy bay ra Hà Nội và đáp xuống sân bay Nội Bài để tiếp tục chuyến du hành Xuyên Việt tới Hà-nội, rồi đi vịnh Hạ-Long và Sa Pa.

VĂN MIẾU – THÀNH CỔ THĂNG LONG

Địa lý Hà Nội

Hà Nội là thủ đô nước Việt Nam, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ trù phú với khí hậu nhiệt đới. Phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía nam giáp tỉnh Hà Tây, phía đông và đông nam giáp tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên, phía tây giáp tỉnh Hà Tây và Vĩnh Phúc.

Đây là thành phố cổ, với lịch sử gần 1000 năm văn hiến, có trên 300 di tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Hà Nội được sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo nên, do đó Hà Nội gắn bó với sông Hồng mật thiết như con với mẹ. Xưa kia người ta gọi sông Hồng là sông Cái – sông Mẹ.

Tên gọi Hà Nội mang ý nghĩa là “vùng đất bên trong sông”. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 36 cây số. Đó chỉ là một phần nhỏ chảy trên phần đất Việt Nam vì chiều dài của sông nầy khoảng 550 cây số. Các sông khác chảy qua địa hạt Hà Nội là các sông Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và Kim Ngâu. Sông Tô Lịch được nhắc đến nhiều trong văn chương Hà Nội xưa, như một con sông đẹp chảy trong lòng thành phố.

Ngoài ra, nội thành Hà Nội có 30 hồ, trong đó những hồ nổi tiếng đã đi vào thơ văn như các hồ Hoàn Kiếm (hồ Gươm), hồ Tây, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ Lệ, Giảng Võ…Hồ ở Hà Nội còn là những “lá phổi xanh”, cùng với vườn hoa và những hàng cây bên đường tạo cho không khí của thành phố thêm trong lành, tươi mát và vẻ đẹp kiều diễm riêng…

Về mặt hành chánh, Hà Nội chia thành chín quận nội thành và năm huyện ngoại thành.

Lịch sử Hà Nội

Kể từ khi dựng nước, vùng đất Hà Nội vẫn là mảnh đất thiêng, tiêu biểu cho cả nước. Cách đây 23 thế kỷ, Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh) đã là kinh đô nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương.

Hơn một ngàn năm tiếp theo, Hà Nội luôn là trung tâm của phong trào đấu tranh chống quân xâm lược phương Bắc, giành độc lập cho dân tộc. Với địa hình và vị trí thuận lợi, trung tâm đồng bằng sông Hồng dần dần được mở mang thành một điểm dân cư trù phú.

Đã có nhiều thời kỳ, thành Đại La được chọn là thủ phủ của quận Giao Chỉ – tức phần đất miền Bắc Việt Nam dưới thời thống trị của Bắc phương. Tuy nhiên, chỉ đến khi Việt Nam giành được độc lập, Thăng Long mới được chọn là thủ đô của nước Đại Việt.

Mùa thu năm Canh tuất (1010), Lý Công Uẩn – tức Lý Thái Tổ, người sáng lập triều Lý – đã dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Khi đoàn thuyền của vua Lý vừa cập bến sông Nhị – tức sông Hồng ngày nay, bỗng thấy có Rồng Vàng hiện ra. Nghĩ là điềm lành, vua cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (rồng bay), còn cố đô Hoa Lư đổi thành phủ Trường Yên (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Do đó, năm 1010 trở thành năm lịch sử đối với Hà Nội nói riêng và đối với cả nước nói chung.

Ngày đầu tiên chúng tôi được hướng dẫn đi thăm Văn Miếu, Quốc Tử Giám và Thành Cổ Thăng Long Hà Nội

Văn Miếu

Văn Miếu được xây dựng từ thời vua Lý Thánh Tông (1070), thờ Khổng Tử và các vị hiền Nho. Đó là một trong số những di tích quý báu ở thủ đô Hà nội, được công nhận là di tích Quốc Gia ngày 28-4-1962. Văn Miếu được bao quanh bởi bức tường xây bằng gạch Bát Tràng với bốn phố mà Quốc Tử Giám ở trước cổng chính.

Bên trong Văn Miếu, có năm khu được ngăn bằng những bức tường :

- Khu thứ nhất từ Văn Miếu Môn đến Đại Trung Môn.

- Khu thứ hai từ Đại Trung Môn đến Khuê Văn Các.

- Khu thứ ba từ Khuê Văn Các tới Đại Thành Môn: trong khu nầy đặt 82 bia đá lưu danh những người đỗ tiến sỹ từ khoa thi Đại Bảo thứ ba (1442) đến Cảnh Hưng thứ 40 (1779).

- Qua Đại Thành Môn là khu thứ tư: cuối sân là nhà Đại Bái, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tiếp theo là Hậu Cung, nơi đặt tượng Khổng Tử và bốn môn đệ là Nhan Hồi, Tăng Tử, Mạnh Tử, Tử Tư.

- Cuối cùng là trường Quốc Tử Giám đời Lý.

Quốc Tử Giám

Quốc Tử Giám là một phần trong cụm di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Tính từ “Văn Miếu Môn” vào, đây là khu thứ năm, sau “Hậu Cung”.

Quốc Tử Giám được xây dựng năm 1076. Đây là trường đại học đầu tiên của nước ta. Ban đầu, nơi đây dùng dạy chữ cho các hoàng tử, sau mở rộng ra, thu nhận cả những học trò giỏi trong nước. Năm 1253, Quốc Tử Giám đổi tên là Quốc Học Viện. Năm 1483 đổi thành Thái Học Viện (có nghĩa là học cao).

Đến đời vua Gia Long (Nhà Nguyễn), trường Quốc tử Giám được dời vào Huế nên địa điểm nầy chuyển thành Khải thành. Sau nhiều năm chiến tranh và thiên nhiên tàn phá, công trình đã bị hư hỏng hoàn toàn. Quốc Tử Giám xưa không còn dấu tích nên không có cơ sở để trùng tu, tân tạo. Để thực hiện dự án trùng tu, tái tạo công trình nầy, các nhà khoa học, khảo cổ học đã kiến trúc theo hình mẫu của Thái Học viện, theo phong cách truyền thống, sử dụng vật liệu cổ truyền như gỗ quý, gạch Bát Tràng, ngói mũi hài…

Thành cổ Thăng Long – Hà Nội

Kinh thành Thăng Long – Hà Nội đã từng tồn tại trong nhiều thế kỷ. Thời nhà Lý, thành Thăng Long xây cất trên vị trí thành Đại La. Đến thời nhà Trần, thời Hậu Lê, thành vẫn ở trên vị trí cũ nhưng thay đổi về quy mô và các công trình ở trong thành. Đến thời nhà Nguyễn, kinh đô dời vào Phú Xuân (Huế); thành Hà Nội trở thành Tổng Trấn Bắc, với quy mô nhỏ hơn so với thời trước đó.

Thành Cổ Thăng Long Hà Nội xưa có ba vòng ( tam trùng thành quách ) :

- Kinh Thành là vòng thành ngoài cùng đắp bằng đất. Đó là nơi ở và sinh sống của dân cư. Nối giữa Kinh Thành với bên ngoài có nhiều cửa. Thời Lê, Kinh Thành Thăng Long có 16 cửa ô, đến thời Nguyễn còn lại 12 cửa ô. Đầu thế kỷ 20 vẫn còn 5 cửa ô. Đến nay chỉ còn lại cửa ô Quan Chưởng (tên cũ là “Đông Hà Môn”, nghĩa là cửa sông phía đông).

- Hoàng Thành là vòng thành thứ hai (ở giữa). Đó là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan lại trong triều. Giữa Hoàng Thánh và Kinh Thành hiện chỉ còn lại một cửa là Bắc Môn.

- Tử Cấm Thành là thành nhỏ nhất ở trong cùng, nơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ. Phần thành nầy có nhiều tên gọi qua các triều đại: Cung Thành (thời Lý), Long Phượng Thành (thời Trần), và Cấm Thành (thời Lê). Cửa duy nhất giữa Tử Cấm Thành và Hoàng Thành là Đoan Môn.

ĐỀN CHÙA – THẮNG CẢNH

Ngày thứ hai chúng tôi đi tham quan những đền chùa và thắng cảnh nổi tiếng ở Hà Nội như Đền Quán Thánh, Đền Ngọc Sơn, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, cầu Long Biên, Phố Cổ, chợ Đồng Xuân và những hồ thơ mộng như hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch.

Đền Quán Thánh

Khi bước vào Đền Quán Thánh, người ta thấy ba chữ Hán tạc trên cổng vào là “Trấn Vũ Quán”, nghĩa là quán thờ Thánh Trấn Vũ. Ngôi đền nầy là một trong “Thăng Long tứ trấn”, nằm bên Hồ Tây. Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp giữa một nhân vật thần thoại Việt Nam (ông thánh giúp An Dương Vương trừ ma quỷ quấy rối khi xây dựng thành Cổ Loa) và một nhân vật thần thoại Trung Quốc (một ông thánh coi giữ phương Bắc).

Đền Quán Thánh được xây dựng vào đời vua Lý Thái Tổ ( 1010 - 1028 ). Năm 1893 đền được tu sửa lớn như thấy ngày nay. Di vật quý trong đền là pho tượng Trấn Vũ bằng đồng đen nổi tiếng do phường Ngũ Xã đúc năm 1677-1681. Tượng nặng 3.600kg, cao 3,96m, chu vi 3,48m. Đền Quán Thánh còn có một bức tượng đồng đen cỡ nhỏ, tương truyền đó là tượng ông trùm Trọng, là thợ cả hiệp thợ đúc đồng tài hoa đã chỉ huy đúc tượng Thánh Trấn Vũ và quả chuông trên gác tam quan. Để ghi công ơn của thầy, những học trò đã đúc tượng ông và xin được thờ trong đền nầy.

Đền Ngọc Sơn

Đền nầy được xây cất từ thế kỷ 19, trên đảo ngọc của Hồ Hoàn Kiếm. Lúc đầu gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi là đền Ngọc Sơn, vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ về văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo, vị anh hùng đã đánh thắng quân Nguyên vào thế kỷ 13. Ngôi đền ngày nay được tu sửa bởi Nguyễn Văn Siêu, một nhà văn hóa lớn của Hà Nội. Ông đã cho xây Tháp Bút bên lối vào. Trên tháp có tạc ba chữ Hán “tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh), nói lên ý chí của những người chân chính.

Chùa Trấn Quốc

Chùa nằm trên một hòn đảo của Hồ Tây, là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được khởi dựng từ thời Lý Nam Đế ( 544 - 548 ). Đứng ở xa đã nhìn thấy nhiều ngọn tháp vươn lên trời xanh. Trong chùa có nhiều tượng, trong đó có pho tượng quý là Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, kiệt tác của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam, 14 tấm bia ghi lại nhiều tư liệu quý. Trong khuôn viên chùa có cây bồ đề cành lá xum xuê. Đó là quà tặng của Tổng Thống Ấn Độ Nehru khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959.

Chùa Một Cột

Tên chữ là chùa Diên Hựu ( nghĩa là “phúc lành dài lâu” ), hoặc Liên Hoa Đài. Chùa ở quận Ba Đình, xây dựng năm 1049, thời vua Lý Thái Tông. Tương truyền vào thời kỳ đó, vua Lý Thái Tông đã cao tuổi mà chưa có con trai nên nhà vua thường đến các chùa cầu tự. Một đêm vua chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện trên đài sen ở một hồ nước hình vuông, phía tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai đưa cho nhà vua. Ít lâu sau, hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa Một Cột có dáng dấp như đã thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm. Chùa Một Cột nhỏ, nhưng có kiến trúc độc đáo, được tạo dựng theo hình dáng như một bông sen từ dưới nước vươn lên.

Cầu Long Biên

Khi đi qua cầu Long Biên, tôi nhớ đến tên cũ là cầu Paul Doumer ( tên của viên toàn quyền Đông Dương ). Cầu nầy bắc qua hai bờ tả và hữu ngạn sông Hồng, khởi công xây dựng tháng 9/1898, khánh thành ngày 28/2/1902, do hãng Eiffel thiết kế, hãng Daydé - pillié thi công. Cầu chính dài 1.682 m, cầu dẫn dài 880 m. Kết cấu ban đầu 19 nhịp dầm bằng thép đặt trên 20 trụ cao hơn 40 m. Trong thời chiến tranh, không quân Mỹ đã ném bom đánh sập nhiều đoạn, trong nhiều lần, phải sửa chữa nên kết cấu ban đầu đã bị biến dạng.

Thoạt đầu, cầu chỉ có đường xe lửa, đến năm 1919 mới mở thêm phần đường bộ ở hai bên. Hiện tại cầu dùng cho xe lửa, xe thô sơ và khách bộ hành. Ngày nay, cùng với cầu Long Biên, bắc ngang sông Hồng còn có cầu Thăng Long hai tầng và cầu Chương Dương được đưa vào sử dụng năm 1985.

Phố cổ – phố nghề

Chúng tôi được dịp đi tản bộ xem phố cổ hay phố nghề. Đặc điểm chung của các phố nầy là tên phố bắt đầu bằng chữ “Hàng”. Tiếp đó là một từ chỉ mặt hàng hay nghề cụ thể. Thí dụ: Hàng Đào, Hàng Chiếu, Hàng Mã, Hàng Thiếc…Hiện còn trên 50 phố như vậy.

Từ phía bắc hồ Hoàn Kiếm, chúng tôi đi bộ qua các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường rồi đến chợ Đồng Xuân. Phố Hàng Đào hình thành từ thế kỷ 15. Hồi xưa cư dân ở đây làm nghề nhuộm vải với các màu đặc trưng đỏ, hồng là màu của hoa đào nên có tên là Hàng Đào: “Hàng Đào tơ lụa làm say lòng người” ( Ca dao cổ ). Hiện nay, phố nầy trở thành phố buôn bán đủ các mặt hàng. Nhà số 10 phố nầy, năm 1907 là trường Đông Kinh Nghĩa Thục, một tổ chức dạy từ thiện của nhóm nhân sĩ yêu nước, đứng đầu là cụ Phan Bội Châu.

Từ đời Lê (thế kỷ 15), nhiều người Hoa được phép cư trú ở Thăng Long. Trên hai đầu một đoạn phố của người Hoa, người ta dựng hai cái cổng chắn ngang đường, tối đến thì đóng lại. Lâu dần thành tên phố Hàng Ngang. Ngoài ra, Hàng Đường cũng như tên gọi, là nơi ngày trước chuyên buôn bán đường, mật, bánh, kẹo…

Gần chợ Đồng Xuân có phố Hàng Mã, chuyên sản xuất và buôn bán mặt hàng truyền thống từ các loại giấy màu. Hằng năm, vào dịp Tết Trung Thu của trẻ em (15/8 âm lịch), cả phố Hàng Mã trở thành một chợ bán đồ chơi muôn sắc màu: đèn ông sao, đèn xếp, đèn kéo quân, đầu sư tử…

Đối diện phố Hàng Mã là phố Hàng Chiếu, nơi chuyên bán các mặt hàng sản xuất từ cói. Qua Hàng Chiếu là ô Quan Chưởng, di tích còn khá nguyên vẹn của Thăng Long – 36 phố phường xưa. Đây là cửa ô duy nhất còn lại tới hôm nay của tòa thành đất đắp năm 1749 và được xây lại năm 1817.

Đến chợ Hàng Thiếc, chúng tôi nghe râm ran tiếng búa gõ vào tôn và nhìn thấy những mảnh thiếc trắng lấp lánh. Những người thợ thiếc ở phố nầy chuyên sản xuất các đồ dùng từ nhỏ đến lớn như thùng, chậu, gáo múc nước, hòm tôn, bể nước…

Chợ Đồng Xuân

Khi đi vào Chợ Đồng Xuân, tôi có cảm tưởng như đi vào chợ Bến Thành (Saigon) hay chợ Đông Ba (Huế). Chợ Đồng Xuân lớn nhất trong các chợ ở thủ đô như chợ Mơ, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, chợ Ngọc Hà….Đó cũng là chợ buôn bán lớn nhất ở miền Bắc. Chợ Đồng Xuân được xây cất năm 1889-1890, do hai chợ Bạch Mai và Cầu Đông dồn lại hợp thành, trên địa phận phường Đồng Xuân.

Ban đầu chợ họp ngoài trời, sau xây dựng nhà bằng sắt, mái lợp tôn tráng kẽm, chiều dài mỗi nhà 52m, cao 19m. Chợ nằm ở gần sông Hồng, gần ga xe lửa, thuận lợi về giao thông nên dễ tiếp nhận hàng hóa từ khắp nơi cũng như chuyển đi nhiều nơi khác. Trong chợ Đồng Xuân hầu như có đủ tất cả các mặt hàng, ngành hàng phục vụ sinh hoạt và đời sống. Ngày nay chợ Đồng Xuân đã được tái thiết với qui mô lớn hơn gồm ba tầng hiện đại, khang trang, rộng rãi, nhưng vẫn giữ lại một phần kiến trúc mặt tiền của chợ Đồng Xuân cũ.

Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Hoàn Kiếm là hồ đầu tiên chúng tôi đi tham quan. Hồ nầy nằm ở trung tâm thành phố nên được ví như một lẵng hoa giữa lòng Hà Nội.

Hồ gắn với truyền thuyết “trả gươm” như sau: vua Lê Thái Tổ có một thanh gươm quý luôn đeo ở bên mình suốt 10 năm kháng chiến chống quân Minh (thế kỷ 15). Sau khi chiến thắng, lần kia vua Lê du thuyền trên hồ, bỗng có con rùa nổi lên, vua rút gươm báu ra chỉ cho quân sĩ biết thì rùa liền đớp ngay thanh gươm rồi lặn xuống nước. Vua cho rằng trước đây rùa thần đã giúp gươm báu đánh thắng quân Minh, nay đất nước đã thanh bình lấy lại gươm, nên nhà vua đổi tên hồ là Hoàn Kiếm (trả gươm) thay cho tên cũ là Lục Thủy.

Hồ Tây

Đây là một quần thể có nhiều di tích và thắng cảnh đẹp ở phía tây thành phố. Có thể ví đường Thanh Niên (Cổ Ngư) như một cây cầu tạo thành hai hồ nước: một bên là Hồ Tây, bên kia là hồ Trúc Bạch. Đoạn đường đôi nầy dài 992m, dải phân cách là một hàng cây xanh, hai bên đường là những hàng cây phượng, cây liễu, cây bằng lăng…

Hồ Tây ở phía bắc đường Thanh Niên (Cổ Ngư), với diện tích khoảng 500 ha, lớn nhất trong số hồ của Hà Nội. Con đường chạy quanh hồ dài 17 cây số,, đi qua các địa danh Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân, Bưởi, Thụy Khuê…và nhiều đền chùa đẹp nổi tiếng như Trấn Quốc, Kim Liên, phủ Tây Hồ, đền Đồng Cổ, đền Quán Thánh…Từ xa xưa, nhiều triều đại đã xây cất cung điện bên hai hồ nầy làm nơi nghỉ ngơi, hưởng lạc. Ngày nay, xung quanh khu vực Hồ Tây tập trung nhiều khách sạn lớn, cơ sở lưu trú, các dịch vụ nhà hàng, khu vui chơi giải trí…Hồ Tây trở thành trung tâm du lịch quan trọng ở Hà Nội.

Hồ Trúc Bạch

Hồ nầy cách Hồ Tây bởi đường Thanh Niên (Cổ Ngư). Thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung nghỉ mát ở bên hồ gọi là viện Trúc Lâm. Về sau viện nầy trở thành nơi an trí những cung nữ phạm tội, buộc phải tự dệt lụa để nuôi thân. Lụa do các cung nữ dệt rất đẹp, nổi tiếng khắp kinh thành, có tên là lụa làng Trúc. Vì vậy hồ được gọi là Trúc Bạch.

Ven bờ hồ Trúc Bạch còn có nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc nghệ thuật. Góc phía tây nam hồ là đền Quán Thánh, phía đông có chùa Châu Long, đông bắc là làng đúc đồng Ngũ Xá, góc phía bắc hồ có một đảo nhỏ, trên đảo là đền Cẩu Nhi.

5.VỊNH HẠ LONG

Ngày hôm sau, từ sáng sớm, chúng tôi đi xe buýt từ Hà Nội để tham quan Vịnh Hạ Long là một trong những kỳ quan thế giới.

Núi Thiêng Yên Tử

Trên đường đi vào Vịnh Hạ Long, chúng tôi dừng chân ở núi Thiêng Yên Tử là nơi ghi lại nhiều di tích lịch sử. Giữa những núi cánh cung trùng điệp của miền Đông Bắc mênh mông, núi Yên Tử với 1.068 m, cao vút như một tòa tháp nổi lên trên thảm rừng xanh. Từ xa xưa, cảnh núi rừng Yên Tử đã nổi tiếng là ngoạn mục. Các triều đại vua chúa đã xếp Yên Tử vào hàng “danh sơn” (núi đẹp) của cả nước.

Yên Tử trước đây có tên là “Núi Voi”, bởi dáng núi giống hình con voi quay đầu về phía biển. Trong sử sách, Yên Tử còn có tên là “Bạch Vân Sơn” (núi mây trắng), bởi quanh năm đỉnh núi chìm trong mây trắng. Yên Tử càng nổi tiếng hơn từ khi các vua nhà Trần (thế kỷ 13) chọn núi rừng Yên Tử làm nơi tu hành và phát triển đạo Phật, hình thành thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ. Cũng từ đó, hệ thống chùa tháp uy nghi được xây dựng suốt trên tuyến đường hàng chục cây số. Hai câu thơ sau đây của một tác giả khuyết danh đã nói lên tính cách linh thiêng của nơi nầy:

“Trăm năm tích đức tu hành,

Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu”.

Từ thị xã Uông Bí tới khu di tích ước chừng 15 cây số. Yên Tử hiện có 11 cụm kiến trúc gồm chùa, am, tháp. Tính từ ngoài vào là “Chùa Lân” (thiền viện Trúc Lâm) lên tới đỉnh núi là “Chùa Đồng”. Nếu đi bộ qua tất cả các di tích ở đây nhanh nhất cũng phải mất một ngày, từ sớm tới tối mịt. Hiện tại cáp treo đã đưa du khách gần tới chùa Hoa Yên. Thời gian lượt lên là 6 phút, lượt xuống mất 5 phút, đỡ được 1/3 quảng đường leo núi.

Đảo Tuần Châu

Kế đó, chúng tôi đến Đảo Tuần Châu là điểm du lịch đầu tiên của vịnh Hạ Long. Một con đường bê tông khoảng 2 cây số nối đảo Tuần Châu với đất liền. Diện tích đảo khoảng 3 cây số vuông. Tên đảo Tuần Châu do việc ghép lại hai cụm từ “Lính Tuần” và “Tri Châu” mà thành. Hiện nay đảo Tuần Châu là một trung tâm du lịch với dịch vụ hiện đại và hấp dẫn nhất ở thành phố Hạ Long.

Vị trí Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần vịnh Bắc bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Về phía tây nam, vịnh Hạ Long giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 cây số , với tổng diện tích 1553 cây số vuông gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Các đảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là “đảo đá vôi” và “đảo phiến thạch”, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long), có tuổi kiến tạo địa chất từ 250-280 triệu năm.

Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng. Đó là vùng trung tâm Di Sản Thiên Nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng Di sản Thiên Nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 cây số vuông, bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông), vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng năm 1962.

Giá trị lịch sử, văn hóa và sinh học

Vịnh Hạ Long gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn – nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ lưu bút tích của nhiều bậc vua chúa, danh nhân. Xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Đằng – nơi đã chứng kiến hai trận thủy chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm…

Ngày nay, Vịnh Hạ Long được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hóa Hạ Long từ hậu kỷ đồ đá mới với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng… Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới…với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực… Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.

Với những giá trị đặc biệt như vậy, Vịnh Hạ Long đã được công nhận là Di sản Thiên Nhiên Thế Giới vào năm 1994. Đến năm 2000, lần thứ hai, UNESCO lại công nhận Di Sản Thế Giới bởi giá trị địa chất, địa mạo của Vịnh Hạ Long.

Hình dáng các đảo vịnh Hạ Long

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sống động. Đi giữa vịnh Hạ Long, người ta có cảm tưởng như lạc vào một thế giới cổ tích bị hóa đá. Có đảo giống hình một người đang đứng hướng về đất liền ( hòn Đầu Người ), đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng), đảo thì giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Ông Lã Vọng). Ngoài ra còn có hòn Cánh Buồm, hòn Trống Mái, hòn Lư Hương… Tất cả trông rất thực.

Hình ảnh những đảo đá diệu kỳ đó biến hóa khôn lường theo góc độ ánh sáng trong ngày và theo góc nhìn. Tiềm ẩn trong lòng các đảo ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt, động Tam Cung… Đó thực sự là những lâu đài của tạo hóa giữa chốn trần gian. Từ xưa Nguyễn Trải đã gọi vịnh Hạ Long là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao”.

Động Thiên Cung

Động Thiên Cung và Hang Đầu Gỗ là hai địa điểm du lịch quan trọng ở Vịnh Hạ-Long mà chúng tôi đã tham quan. Cả hai địa danh nầy ở trên Đảo Đầu Gỗ.

Đảo Đầu Gỗ xưa còn có tên là đảo Canh Độc, với đỉnh cao 189 m. Dãy đảo như một chiếc ngai ôm trong lòng mình hai hang động đẹp. Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” có ghi: “Hòn Canh Độc lưng đảo có động rộng rãi có thể chứa vài ngàn người, gần đó có Hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La…”

Động Thiên Cung là một trong những hang động nổi tiếng, mới được phát hiện trong những năm gần đây. Động nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long, cách bến tàu du lịch 4 cây số, trên đảo Đầu Gỗ, ở độ cao 25m so với mực nước biển.

Đường lên động Thiên Cung vách đá cheo leo, hai bên tán lá rừng che phủ um tùm. Theo anh hướng dẫn viên, vào những đêm trăng, những chú khỉ tinh nghịch leo xuống tận đây để kiếm hoa quả. Qua một khe cửa hẹp, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác, với chiều dài hơn 130m. Càng vào trong, người ta càng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp lộng lẫy của Tạo Hóa.

Trên vách động phía đông là một bức tranh hoành tráng, trong đó chạm nổi những nhân vật trong truyện cổ tích xưa, nét chạm khắc mềm mại uyển chuyển và vô cùng tinh tế, sắc sảo tới từng chi tiết nhỏ. Những khối điêu khắc dù là đồ sộ hay nhỏ bé đều được bàn tay của tạo hóa trau chuốt tỉ mỉ.

Trung tâm động là 4 cột trụ to lớn để chống đỡ thiên đình. Từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người… Dưới vòm động cao vút, từng chụm nhũ đá rủ xuống muôn màu tạo thành bức rèm đá thiên nhiên lộng lẫy. Đâu đó có tiếng gió thổi qua kẻ đá như tiếng trống bập bùng trong đêm hội làng xưa. Tới ngăn động cuối cùng, những luồng ánh sáng trắng, xanh, đỏ xen lẫn, phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ. Một vòi nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách với ba chiếc ao, nước trong vắt.

Anh hướng dẫn viên cho biết Động gắn liền với truyền thuyết về vua Rồng xưa, theo đó sau khi vua Rồng giúp dân ta đánh tan giặc giã, đã trở về động của mình an tọa. Năm ấy trời hạn hán nặng, dân tình mất mùa nhiều nên họ phải cầu cứu vua Rồng ra tay làm mưa. Bao nhiêu người đã ra đi mà không trở về. Không sợ nguy hiểm gian nan, một đôi trai gái quyết tâm cùng nhau đi tìm gặp vua Rồng. Người con gái của họ ra đời được đặt tên là nàng Mây. Nàng Mây lớn lên đã làm xao xuyến trái tim Hoàng Tử Rồng và tình yêu đã giúp họ tìm đến với nhau: đám cưới được tổ chức 7 ngày 7 đêm, tại khu vực trung tâm động.

Để chúc mừng đám cưới, những chú rồng bay lượn lúc ẩn lúc hiện trong rừng mây nhũ đá, những chú voi con công kênh nhau lên nhảy múa, những con mãng xà lớn trườn mình quấn quanh cây đa cổ thụ, hai chú sư tử đá nhảy múa bờm tóc tung bay, trên cao những chú đại bàng giang rộng đôi cánh khổng lồ trên không trung… Một chú voi lớn được trang trí diêm dúa công phu đang nằm phủ phục chờ cô dâu chú rể bước xuống. Nam Tào Bắc Đẩu tóc bạc như mây cũng đến dự tiệc vui. Cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt và vô cùng sống động. Tất cả những hình ảnh đó như vừa được hóa đá nơi nầy.

Hang Đầu Gỗ

Hang nầy nằm trong Đảo Đầu Gỗ, như đã trình bày ở trên. Anh hướng dẫn viên cho biết sở dĩ gọi như thế, vì theo truyền thuyết: xưa kia, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo đã cho chuẩn bị nhiều cọc gỗ lim ở đây để cắm xuống lòng sông Bạch Đằng, có rất nhiều mẫu gỗ còn sót lại, vì vậy động mang tên là Hang Đầu Gỗ. Từ phía xa nhìn lại, cửa hang có màu xanh lam hình một con sứa biển. Qua 90 bậc đá xây, người ta tới cửa động. Nếu Động Thiên Cung hoành tráng, hiện đại thì Hang Đầu Gỗ trầm mặc uy nghi, nhưng cũng rất đồ sộ.

Năm 1917, vua Khải Định lên thăm hang Đầu Gỗ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần tiên của tạo hoá, ông đã cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long và hang Đầu Gỗ. Hiện nay, tấm bia đá đó vẫn còn ở phía bên phải động. Cuốn sách “Les Merveilles du Monde” (“Những Kỳ Quan Thế Giới”) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch, giới thiệu các danh lam thắng cảnh trên thế giới đã mệnh danh Hang Đầu Gỗ là “Grotto des Merveilles” (“Động Của Các Kỳ Quan”).

7.THÀNH PHỐ SA PA

Hai ngày sau đó, chúng tôi đi tham quan thành phố Sa Pa. Khởi đầu, lúc chiều tối, chúng tôi lên xe lửa từ Hà Nội và ngủ đêm trên tàu cho đến sáng sớm hôm sau thì đến thành phố Lào Cai. Đi xe lửa có phần vất vả vì xe chưa được tối tân hóa như ở Âu Mỹ, các tiện nghi rất còn thô sơ. Sau đó, chúng tôi đi xe buýt trên một giờ đồng hồ và xe phải chạy lên dốc xuống ghềnh, để đến thành phố Sa Pa.

Lượt về, khi đến thành Phố Lào Cai lúc xế trưa, trong khi chờ đợi lên xe lửa về lại Hà Nội, chúng tôi được dịp đi tham quan biên giới Việt Hoa. Chúng tôi mong ước được đi thăm Ải Nam Quan, nhưng anh hướng dẫn viên cho biết Ải đó thuộc tỉnh Cao Bằng và hiện nay nằm trong nội địa Trung Quốc.

Nếu Vịnh Hạ-long là thắng cảnh thuộc miền biển thì Sa Pa là thành phố thơ mộng nghỉ mát ở miền núi. Đó là sự quân bình hài hòa về địa lý, giữa biển và núi.

Địa thế Sa Pa

Thị trấn Sa Pa thuộc tỉnh Lào Cai – một tỉnh vùng biên giới Việt Hoa. Sa Pa là một địa danh du lịch xinh đẹp và thơ mộng nằm trên độ cao 1.600 m so với mặt biển, cách Hà Nội 370 cây số, và cách thành phố Lào Cai 38 cây số,.

Nhiệt độ trung bình trong năm từ 15 đến 18 độ C. Chúng tôi đến Sa Pa vào mùa thu nên khí hậu dễ chịu. Tuy nhiên, vào mùa hè, khí hậu Sa Pa cũng dịu mát hơn những nơi khác. Vào một ngày mùa hạ, thời tiết ở Sa Pa có bốn mùa: sáng là mùa xuân, trưa mùa hè, chiều mùa thu và đêm là mùa đông. Về mùa đông, thường có mây mù bao phủ và rất lạnh, nhiệt độ đôi khi xuống dưới 0 độ C, có năm tuyết rơi.

Ở trung tâm thị trấn, xen giữa các vườn đào và những hàng samu xanh ngát là những biệt thự cổ kính bên cạnh những công trình hiện đại, màu sắc xinh xắn, hình khối đa dạng, khi ẩn khi hiện, lúc trên cao lúc dưới thấp, ở hai bên đường phố, làm cho thị trấn có vẻ đẹp riêng, đầy quyến rũ, như một đô thị nho nhỏ của châu Âu.

Từ thị trấn Sa Pa nhìn sang phía tây là dãy Hoàng Liên Sơn xanh thẫm, trên đó có đỉnh núi Phan Xi Păng cao 3.143 m, bốn mùa mây phủ. Ngoài ra Sa Pa còn có nhiều cảnh đẹp tự nhiên hay nhân tạo như những địa danh du lịch núi Hàm Rồng, thác Bạc, cầu Mây, các bản dân tộc, hang Tả Phìn…

Nhờ khí hậu Sa Pa trong lành, mùa hè luôn dịu mát là điều kiện thuận tiện trồng các loại rau ôn đới như bắp cải, su hào, su su…, nhiều cây dược liệu, gia vị quý như thảo quả và nhiều cây ăn quả như đào, mận, lê…

Dãy Hoàng Liên Sơn

Khi đến Sa Pa, vào chiều ngày hôm đó, chúng tôi đi tham quan dãy Hoàng Liên Sơn với nhiều đỉnh núi cao, tổng cộng chiều dài là 280 cây số,, từ Phong Thổ đến địa phận Hòa Bình. Chiều ngang ở chân núi, nơi rộng nhất là 75 cây số, và hẹp nhất là 45 cây số,. Nhiều du khách muốn chinh phục đỉnh Phan Xi Păng ở cao độ 3.143 m.

Dưới chân núi Phan Xi Păng là quần thể những cây bản địa: thảo quả, gạo, mít, cơi…mọc khá dày. Tiếp đó là những cánh rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Nhóm cây họ là kim như: pơmu, lãnh sam, thiết sam, liễu sam, kim sang, thông đỏ, hoàng đàn…

Núi Hàm Rồng

Chúng tôi chỉ có dịp tham quan núi Hàm Rồng mà thôi. Núi nầy cao gần 2.000 m, so với mặt biển, nằm ở trung tâm thị trấn Sa Pa.

Anh hướng dẫn viên cho biết sự tích núi Hàm Rồng như sau: từ xa xưa các con vật đều sống hỗn độn. Một hôm Ngọc Hoàng Thượng Đế ban lệnh tất cả các loài vật hãy tự xác lập địa phận của riêng mình. Chúng tranh nhau tìm chỗ trú ngụ.

Lúc nầy ba anh em nhà Rồng đang sống trong một hồ lớn, nghe tin vội chạy sang hướng đông thì đã hết chỗ, chúng bèn chạy sang hướng tây. Hai người anh chạy nhanh hơn nên ở đó chờ người em. Người em chạy chậm, lạc vào đám đông toàn sư tử, hổ báo, sợ quá, rùng mình co người, há mồm để tự vệ. Vừa lúc đó lời ban của Ngọc Hoàng hết thời hạn.

Thế là hai người anh nhà Rồng hoá thành đá quay về hướng Lào Cai, còn người em út hoá đá trong tư thế đầu ngẩng cao, mồm há to, nhe răng hướng về dãy Hoàng Liên Sơn. Từ đó có tên “Hàm Rồng”.

Thác Bạc

Sau núi Hàm Rồng, chúng tôi đi xem Thác Bạc. Thác nầy nằm bên quốc lộ 4D, cách thị trấn Sa Pa khoảng 12 cây số, trên đường đèo vắt qua dãy Hoàng Liên Sơn nên rất thuận tiện cho du khách đến dừng chân tham quan.

Từ trên khe núi cao, dòng nước ầm ầm đổ xuống thành những dải trắng bạc, bọt tung trắng xoá, có lẽ vì thế mà có tên “Thác Bạc”. Khi còn xa xa, đã nghe tiếng thác đổ ào ào, âm thanh vọng lại từ vách núi càng tăng thêm cảm giác hoang dã và huyền bí.

Du khách

Tuy ở vị thế xa xôi, hoang dã, nhưng thị trấn nho nhỏ Sa Pa đã thu hút rất nhiều du khách ngoại quốc. Người Pháp đến đây rất đông để tìm lại những vết tích thuộc địa của một thời xa xưa, đồng thời hít thở chút khí hậu mát mẻ của miền rừng núi Bắc Việt phần nào giống như khí hậu ở Pháp. Người Mỹ thích cảnh hoang dã nên họ đến đây rất đông để đi vào các làng mạc người sắc tộc, quan sát nếp sống của họ.

Trên các nẻo phố Sa Pa, những em nhỏ người sắc tộc – vừa trai vừa gái – chạy theo những du khách ngoại quốc để xin tiền với những câu tiếng Anh bập bẹ, nhưng đa dạng, chứ không đơn thuần “OK! Salem!” như trước 1975. Nhưng cũng có một số em sắc tộc lớn tuổi hơn, nói tiếng Anh thành thạo, đã hướng dẫn những du khách ngoại quốc đi thăm các vùng sinh sống của cư dân bản địa, để được tiền thưởng.

Du khách Việt Nam đến đây, ngoài việc khám phá những phong tục độc đáo trong cuộc sống của cư dân địa phương, ở các thôn bản, như các du khách ngoại quốc khác, người Việt còn thích thú tắm nước lá Sa Pa, giúp bồi bổ sinh lực mà hình như chỉ có ở thị trấn Sa Pa mà thôi.

Hương Vĩnh