NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ngân hàng đua nhau tăng lãi suất tiền gửi : Không đáng lo - GS TS Hà Tôn Vinh,Chuyên gia tài chính , Kiều bào Mỹ

"Không có lý do gì để chúng ta lo ngại mỗi lần ngân hàng thay đổi lãi suất, nhất là khi mức tăng hay giảm vừa phải theo thị trường hay được Ngân hàng Nhà nước giám sát và cho phép"

Lãi suất là một trong những công cụ tài chính quan trọng nhất của các ngân hàng. Lãi suất huy động tiền gửi, còn gọi là lãi suất huy động vốn hay tiết kiệm, và lãi suất cho vay là hai công cụ chính các ngân hàng dùng để nâng cao thế mạnh tài chính của họ và giúp đóng góp vào việc ổn định và phát triển nền kinh tế quốc dân. Công cụ tài chính này thường được các Ngân hàng Trung ương của các quốc gia thường xuyên sử dụng để ổn định nền kinh tế trong nước. Khi nền kinh tế của họ có dấu hiệu chậm lại, các Ngân hàng Quốc gia thường đưa ra một lãi suất cho các ngân hàng tư nhân vay rất thấp để khuyến khích việc họ vay và cho vay lại để tiêu dùng hay đầu tư phát triển giúp hâm nóng nền kinh tế trở lại. Khi tốc độ phát triển của nền kinh tế tăng quá mau dẫn đến tình trạng lạm phát, giá cả leo thang thì các Ngân hàng Quốc gia này sẽ đưa ra lãi suất cao để giảm thiểu số lượng tiền vay của các ngân hàng tư nhân và qua đó giảm nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Ở Việt Nam, đa số các ngân hàng thương mại lớn đều thuộc quyền sở hữu của và chịu sự chi phối của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Một cách nào đó, việc tăng hay giảm lãi suất tiết kiệm hay cho vay đều phản ảnh chính sách của ngân hàng Nhà nước, chiến lược riêng của từng ngân hàng và có sự tác động của nền kinh tế thị trường.

Mỗi ngân hàng đều có chiến lược hay lý do riêng khi quyết định tăng lãi suất tiền gửi. Điểm mấu chốt là khi tăng lãi suất này, các ngân hàng đều nhằm vào việc thu hút thêm lượng tiền hiện đang luân chuyển trong thị trường để phục vụ một mục đích tài chính nào đó. Tùy vào nhu cầu tiền mặt của ngân hàng, của chính phủ hay các khách hàng lớn cần vay để mua bán, đầu tư vào dự án trọng điểm, các ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất thấp hay cao để thu hút dân chúng bỏ tiền vào các tài khoản hoặc quỹ tiết kiệm. Với các nền kinh tế phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng tiền mặt hay đầu tư vào các dự án tăng cao, ngân hàng thường không đủ tiền để cho vay nên phải tìm cách huy động tiền gửi sau đó cho vay lại với một lãi suất cao hơn.

Việc tăng hay giảm lãi suất tiền gửi hoặc cho vay là những sinh hoạt thường xuyên của các ngân hàng, và giúp chúng ta thấy được sức mạnh của ngành ngân hàng cũng như của nền kinh tế. Không có lý do gì để chúng ta lo ngại mỗi lần ngân hàng thay đổi lãi suất, nhất là khi mức tăng hay giảm vừa phải theo thị trường hay được Ngân hàng Nhà nước giám sát và cho phép.

Có những lý do khách quan do thị trường tác động và có những lý do riêng biệt khác mang tính chất hay nhu cầu nội bộ của việc tăng lãi suất tiền gửi. Nhiều ngân hàng vì cần số lượng tiền cho vay lớn và để gấp rút đáp ứng nhu cầu phát triển của chính phủ hay doanh nghiệp (đầu tư, nhập khẩu, v.v.) nên phải huy động tiền gửi qua việc tăng lãi suất tiết kiệm ngắn hay dài hạn. Các ngân hàng khác, vì vị thế và nhu cầu cạnh tranh không muốn mất khách hàng, tuy không có nhu cầu tiền mặt lớn, thường vẫn phải tăng lãi suất để cùng đứng chung với các ngân hàng khác. Việc các ngân hàng theo nhau tăng hay giảm lãi suất cũng là việc bình thường. Rất tiếc trong khuôn khổ bài báo này tôi không thể nói đầy đủ hay đến các khía cạnh khác của việc tăng hay giảm lãi suất. Điều quan trọng là tất cả chúng ta cần quan tâm thường xuyên đến ngành ngân hàng vì tài chính là huyết mạch của thị trường và sự phát triển của đất nước .

Giáo sư Hà Tôn Vinh trở về đóng góp cho quê hương

Sinh tại thành phố Hải Phòng, ra đi từ năm 1953 và trong suốt mấy chục năm trời bôn ba làm ăn, từng đặt chân tới 72 quốc gia ở khắp các châu lục và từng làm cố vấn tài chính dự án cho nhiều tổ chức quốc tế và một số chính phủ trong khu vực châu Á, nhưng Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh không lúc nào thôi day dứt niềm cảm nhận đâu có nơi nào gắn bó hơn quê cha đất tổ. Lần quay trở lại Việt Nam năm 1996, ông lại ngộ ra rằng mình có bổn phận đóng góp cho quê hương. Và năm 1997, ông quyết định về ở hẳn Việt Nam.

Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh có 25 năm kinh nghiệm về giảng dạy, kỹ thuật và quản lý tại hơn 20 nước trong khu vực Thái Bình Dương, châu Âu và Tây Phi, tập trung chính vào các chiến lược phát triển kinh tế, tái thiết bộ máy kinh doanh và doanh nghiệp, cải thiện cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển.

Trong những năm gần đây, ông đã giúp các đối tác nước ngoài của mình thiết lập một số dự án hạ tầng cơ sở và mở rộng kinh doanh tại châu Á. Ông đã thiết kế các chương trình vận hành và tạo lập các thoả thuận tài chính cho các doanh nghiệp của Hoa Kỳ với các công ty đa quốc gia, phát triển và định hướng các liên minh chiến lược cho các đối tác trong và ngoài nước. Kể từ thời gian làm việc tại Việt Nam năm 1995, ông Vinh đã thành lập và hướng dẫn nghiệp vụ tư vấn quản lý cho Công ty Kiểm toán và tư vấn PWC, thành lập các quỹ với sự hỗ trợ của World Bank, ADB, và các quỹ tài trợ đa phương, trực tiếp hỗ trợ cho các cán bộ chính phủ nguồn chịu trách nhiệm về phê chuẩn và phân bổ ODA và hỗ trợ tài chính cho khu vực tư nhân, phê chuẩn các đề nghị giúp đỡ cho các doanh nghiệp nhà nước và các dự án về cơ sở hà tầng. Ông đã phục vụ trong nhiều năm với chức vụ Cố vấn tài chính khu vực châu Á cho Quỹ tư vấn hạ tầng khu vực tư nhân và nhà nước (PPIAF) do ngân hàng Thế giới (WB) quản lý. PPIAF hiện nay do một số nước chính và các cơ quan đa quốc gia sở hữu và điều hành, bao gồm WB, ADB và UNDP.

Hiện nay Giáo sư Vinh, với tư cách là Cố vấn tài chính song phương, đa phương của EAC, đang giúp thiết lập các lựa chọn về tài chính cho một dự án trị giá 2.5 tỉ đô la Mỹ để xây dựng nhà máy thuỷ điện tại Việt Nam, đồng thời là cố vấn cao cấp cho Amec Spie ở châu Á Thái Bình Dương, một công ty đa quốc gia của châu Âu trong việc điều hành sản xuất gas và dầu trong khu vực.

Giáo sư Vinh đã hoàn thành chương trình thạc sỹ và đề tài tiến sỹ của mình tại trường Đại học Geogetown, khoa Dịch vụ quốc tế, bang Washington năm 1978 và Trường Đại học Tổng hợp Mỹ năm 1983. Năm 1981, ông Vinh đã nhận được học ổng tiến sỹ 3 năm do Học viện sức khoẻ quốc gia Hoa kỳ trao tặng.

Hiện nay, Giáo sư Vinh là Cố vấn cao cấp và giáo sư giảng dạy tại Quản trị kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Thương mại Hà Nội, đào tạo MBA tại trường Đại học quản lý kinh doanh thuộc trường Đại học Hawaii, Cố vấn về Việt Nam tại Viện Kenan ở Washington. Ông cũng giảng dạy môn Tài chính cơ sở hạ tầng trong những năm gần đây tại trường Đại học Columbia.

Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh còn là chủ tịch Ban Hội viên của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội và làm việc trong Ban chấp hành trong giai đoạn 2000- 2003.

Bên cạnh công tác giảng dạy, ông còn phát huy sở trường về chuyên môn tài chính khung của mình trong môi trường châu Á. Với những kinh nghiệm thực tế tập hợp được từ thời làm cố vấn cho hai bộ chính là Cơ sở hạ tầng và Tài chính của Mông Cổ và cố vấn cho Bộ Tài chính Trung Quốc thực thi các dự án về cơ sở hạ tầng tại các tỉnh Vân Nam, Quý Châu... ông tham gia vào một số dự án tương tự tại Việt Nam, trong đó có dự án thương mại hoá các công ty điện lực và tư vấn thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dầu khí. Với dự án Thuỷ điện Sơn La, ông may mắn được gắn bó ngay từ đầu khi Chính phủ ta mời bắt tay vào thực hiện bản nghiên cứu khả thi (FS), thông qua Tập đoàn lớn của Mỹ Montgomery Watson Harza (MWH) với tư cách cố vấn trưởng về tài chính cho dự án từ năm 1999. Công việc của ông là cộng tác vào việc thẩm định và nâng cấp báo cáo khả thi của Chính phủ, theo dõi sát dự án này cho tới khi Quốc hội thông qua phương án xây dựng. Ông làm cố vấn tài chính cơ sở hạ tầng cho Ngân hàng phát triển Châu Á. Công việc chính của ông là tiếp cận tính khả thi của các dự án đầu tư vào ngành năng lượng, bao gồm các dự án nhiệt điện, các nhà máy sản xuất than, các nhà máy thuỷ điện cỡ nhỏ, đường dây tải điện 500 KW kết nối 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, đường ống gas, các nhà máy lọc dầu...Tiếp cận các vấn đề mang tính pháp quy có ảnh hưởng đến dự án. Lập ra bản dự thảo về chia sẻ rủi ro chiến lược chính để thu hút nguồn tài chính tư nhân cho dự án. Chuẩn bị các kế hoạch tài chính tóm tắt để đảm bảo cho dự án được thực thi một cách hiệu quả. Ông còn dẫn dắt nhóm các chuyên gia tìm kiếm các nguồn đầu tư và kiểm nghiệm việc hỗ trợ tài chính và vốn trong và ngoài nước cho việc xây dựng một bệnh viện quốc tế ở Hà Nội trị giá 32 triệu USD. Ông nghiên cứu thị trường, chuẩn bị kế hoạch đầu tư, gặp gỡ và đàm phán với các nhà đầu tư tiềm năng và các cơ quan nhà nước...

Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh còn có niềm đam mê về sưu tập đồ cổ. Với ông, đến với cổ vật là tìm về lịch sử, tìm về với văn hóa dân tộc, thấy được thông điệp từ xưa còn để lại. Chính vì thế đã làm ông say mê và ham thích sưu tầm cổ vật, và ông rất tâm đắc với câu nói: “Văn hóa là cái gì còn lại sau khi tất cả đã mất”. Ông cho biết: “Trong lĩnh vực cổ vật, tôi không phải là người chơi chuyên nghiệp mà chỉ xuất phát từ đam mê và muốn tìm cách đóng góp. Hiện tôi cùng các đồng nghiệp trẻ đang cố gắng hoàn tất một website riêng thu thập các cơ sở dữ liệu về gốm sứ có tới vài trăm bài viết, dịch, vài nghìn hình ảnh, được sắp xếp theo từng hệ thống như : bình vôi, gốm sứ tìm thấy trong những con tàu cổ bị đắm, các bộ sưu tập gốm sứ Móng Cái, Chu Đậu... Mong muốn lớn nhất của chúng tôi là xã hội hoá cổ vật để mọi người cùng biết, từ đó hiểu rõ được ý nghĩa và có ý thức gìn giữ để cùng góp sức ngăn chặn dòng cổ vật chảy máu ra nước ngoài. Điều này, theo tôi, càng đặc biệt có ý nghĩa khi Chính phủ ta vừa kêu gọi đăng ký cổ vật. Cách chơi cổ vật của tôi cũng khác với nhiều người chơi chỉ thu thập, tôi muốn chơi sâu hơn bằng cách tìm về cội nguồn. Ví dụ về gốm Chu Đậu, tôi muốn tìm hiểu sâu về sự giao lưu văn hoá giữa gốm sứ Trung Quốc với gốm sứ Việt Nam, với gốm sứ Móng Cái mang phong cách Trung Hoa nhưng do người Trung Quốc và cả người Việt Nam làm tại vùng biên giới Việt - Trung.

Một đề tài khác tôi cũng rất quan tâm là cổ vật tìm thấy trong những con tàu đắm, bởi ở nước ta thực sự đang thiếu ngành khảo cổ học tàu đắm. Tại sao ta không dấn thân vào lĩnh vực này, khi một số nước như Mỹ, Australia, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia cũng chỉ mới đi trước ta mươi năm? Tôi hy vọng có thể tặng lại một phần cho một vài bảo tàng trong nước. Hiện tôi đang tham gia trong ban lãnh đạo Hội Gốm sứ Đông phương và Việt Nam tại Mỹ.”

Bộ sưu tập bình vôi của ông dường như lớn nhất Việt Nam với khoảng 300 chiếc đủ loại kiểu dáng, kích cỡ, có nguồn gốc từ Bắc vào Nam. Và ông cũng đã sưu tầm được khoảng 100 bài viết về bình vôi. Trong sâu thẳm trái tim mình, với ông: “Sưu tầm cổ vật và nhất là bình vôi cổ là sưu tầm lịch sử, tìm về cội nguồn, về với bản sắc văn hóa dân tộc và cũng là tìm về với chính bản thân mình...”.

Ông đã được thị xã Hội An, thành phố Đà Nẵng, quận Long Biên (Hà Nội), và tỉnh Bắc Ninh đề nghị cho đất để làm bảo tàng trưng bầy cổ vật. Ông cho biết nếu được ông sẽ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sau đó sẽ quản lý bảo tàng một thời gian rồi về sau sẽ hiến cho nhà nước.

Và cũng chính với những cổ vật mang đậm tính văn hóa ấy, ông đã có những dự định thông qua việc tổ chức bán đấu giá trong cộng đồng người nước ngoài để gây quỹ giúp trẻ em nạn nhân chất độc da cam, đồng thời để thế giới biết nhiều hơn về văn hóa truyền thống Việt Nam. Ông tâm sự, là người Việt ông thấy mình cần phải có bổn phận đóng góp cho quê hương và ông thấy thật hạnh phúc khi đã thực hiện được phần nào ước muốn của mình.

Phương Thuận