NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hiện đại hóa Ngân hàng và Tài chính bằng « Đặc khu Quốc tế Offshore » - Cạnh tranh của các ngân hàng ngoại quốc

( Những góp ý về lĩnh vực Ngân hàng và Tài chính của Chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản - Kiều bào Thụy Sĩ ).

Theo Hiệp-ước thương-mại Việt - Mỹ thì đến năm 2010, các ngân-hàng Mỹ sẽ được phép mở ngân-hàng con 100% vốn Mỹ ở Việt Nam, với điều-kiện có vốn điều-lệ tối thiểu 10 triệu đô-la Mỹ. Có thể điều-kiện này cũng sẽ được đòi hỏi bởi các đối-tác nước ngoài khác, sau khi Việt Nam trở nên thành-viên của Tổ-chức Thương-mại Thế-giới WTO.

Tại Hội-thảo « Chọn lựa Chiến-thuật trong Công-Nghịệp Ngân-Hàng » ở Hà Nội vào đầu tháng 09/2005, Trung-tâm tư-vấn công-nghệ và đầu-tư ở Việt Nam ( VietBid ) đã phán đoán rằng tới năm 2010, thị-phần của các ngân-hàng quốc-doanh sẽ bị lùi từ 70% xuống 46%, các ngân-hàng cổ-phần sẽ tăng lên 30% ( cũng đúng như dự đoán của Ngân-hàng nhà nước với chính-phủ Úc ), và các ngân.hàng nước ngoài sẽ tăng gấp đôi tới mức 24%.

VietBid cũng phân tích kết quả cuộc thăm dò ý-kiến cho thấy chiều-hướng lớn mạnh của nhiều doanh-nghiệp Việt Nam và các cá-nhân ưa thích chọn các dịch-vụ của các ngân hàng ngoại-quốc hơn các ngân hàng Việt Nam.

Chiều-hướng này được xác nhận bởi 1 cuộc thăm dò ý-kiến tổ-chức bởi Bộ Kế-hoạch, Đầu-tư Việt Nam và Chương-trình Phát-triển của Liên-hiệp-quốc ( UNDP ) cũng cho biết là :

- 42% các doanh-nghiệp, và 50% tư-nhân được hỏi đều cho rằng sẽ chọn ngân-hàng nước ngoài ở Việt Nam để vay tiền, khi những ngân-hàng này được hoạt-động bình-đẳng với ngân-hàng Việt Nam.

- 50% doanh-nghiệp và 62% tư-nhân được hỏi cũng sẽ chọn ngân-hàng nước ngoài để gửi tiền tiết-kiệm.

Những lý-do của sự chọn lựa ngân-hàng nước ngoài là vì họ có kinh-nghiệm hoạt-động quốc-tế, có trình-độ công-nghiệp ngân-hàng cao, thủ-tục hành-chính đơn giản, và chất-lượng phục-vụ tốt hơn ngân-hàng trong nước.

Như vậy các doanh-nghiệp Việt Nam và những cá-nhân chủ-yếu sử dụng các dịch-vụ của ngân-hàng nước ngoài hơn là ngân-hàng Việt Nam ( mặc dầu họ đã cố gắng liên-kết bán cổ-phần cho ngân-hàng nước ngoài, để « cùng làm, vừa học » ) thì sợ rằng ông Trần-Du-Lịch, giám-đốc Viện kinh-tế TP.HCM có lý khi ông « bày tỏ ( với AFP ) mối quan-ngại đặc biệt về tương-lai của các khu vực như dịch-vụ, thị-trường tài-chính, tín-dụng, ngân-hàng và nông-nghiệp Việt Nam hiện đang tụt hậu rất xa so với tiêu-chuẩn quốc-tế »

Trong quá-trình « hiện-đại hóa » dịch-vụ ngân-hàng theo chỉ-thị số 49/2004/CT-TTg của thủ-tướng chính-phủ, thì « Cần đẩy mạnh hệ-thống thanh-toán qua ngân-hàng để hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong quan hệ thương-mại ». Nhưng các ngân-hàng Việt Nam đã theo « phong-trào » phát hành Thẻ ( mà tiện-ích chủ yếu là dùng để thanh-toán hàng hóa, dịch vụ thay vì dùng tiền mặt ), nhưng thực-tế hơn 70% các giao dịch của khách hàng trên máy ATM hiện nay chỉ là để rút tiền ( cũng như chỉ biết dùng máy vi-tính để chơi trò chơi điện-tử, hay để « chat » )! Thậm chí có người không dùng thẻ này để trả hàng hóa tại quầy có đặt máy « quẹt thẻ » .

( Máy POS - Point of Sale : giá khoảng 800 đôla US đến 900 đôla US, so với 20.000 đôla US đến 30.000 đôla US cho 1 máy ATM - Automatic Teller Machine ) , mà lại đi rút tiền mặt từ máy ATM đề trả! Thêm vào đó, các doanh- nghiệp cũng có phong trào thông qua thẻ ngân-hàng để chi trả lương, tiền thưởng, làm cho số lượng thẻ phát hành bởi các ngân-hàng đã nhanh chóng tăng thêm lên, và một số « đại-gia » đến rút hàng chục triệu đồng ờ máy ATM, vì cho rằng như vậy mới là « hiện-đại hóa » chăng? Đấy chỉ thêm một thí-dụ về đầu-tư theo phong trào chỉ đưa đến lãng phí, mà chưa tránh được tụt hậu.

Vậy làm sao ngừng được tụt hậu trước ngưỡng cửa của Tổ-chức thương-mại Thế-giới, và « đi tắt, đón đầu » ngay sau khi vào được trong tổ-chức này ? Nhất là trong lĩnh-vực dịch-vụ ( = 50,4% nền kinh tế của TP.HCM ) mà Ủy Ban Nhân Dân muốn đạt tăng-trưởng 12,5% mỗi năm cho giai đọan 2006-2010, thay vì 9,8% trong giai-đọan 2000-2005.

Nhân dịp Hội-thảo Trí-thức vào tháng 08/2005 tại Hà Nội, ông Tạ-Nguyên-Ngọc, Vụ-truởng Quan –hệ Kinh Tế, Khoa Học và Công Nghệ của Ủy ban về Người Việt Nam ở Nước Ngoài đã phát-biểu trong báo Tuổi trẻ là : « Có rất ít chuyên-gia Việt Kiều đầu đàn về nước, và hầu như không có trường-hợp nào được công-nhận là đã thật sự làm CHUYỂN BIẾN rõ rệt, hoặc để lại DẤU ẤN trong 1 NGÀNH, lãnh-vực, 1 cơ-sở nghiên-cứu quan-trọng nào » .

Muốn như vậy thì trước hết Việt Nam phải tự đánh giá lợi thế so sánh của mình để xác định một vài ngành kinh-tế mũi nhọn trong kế-họach phát triển định kỳ, như Thái-lan đang hướng tới công-nghiệp sản-xuất xe hơi, và Singapore đã nhắm vào ( ngay từ thời lập nước ) kế-họach phát-triển các trung-tâm ngân-hàng. Đây cũng là quan-điểm cho Việt-nam của ông Miura Yuji của Viện Nghiên-cứu Tổng-hợp Nhật-bản.

Thật vậy, Singapore đã áp-dụng ngay từ đầu một hệ-thống thuế rất thấp trong ngành ngân-hàng, cùng với chính sách tài-chính rất tự-do lưu-thông cho các ngoại-tệ và đô-la Singapore ( mà giá-trị hối-đoái chỉ theo cung và cầu của thị-trường ) theo đúng mô hình của Thụy-sĩ, nhằm mục-đích «quyến rũ» các ngân-hàng nước ngoài, và nhiều công-ty tài-chính quốc-tế đến Singapore hoạt-động, ngõ hầu cho người nước này được nhanh chóng đào-tạo «thực-tế» ( mà du-học sinh khó có đuợc, hay cần nhiều thời-gian hơn là «đi tắt,đón đầu » kiểu này, mà ngay tại chỗ làm việc ở nước mình ) để tận dụng công-nghệ, và trình-độ quản-trị tiên tiến nhất thời-đại.

Kết-quả thấy rõ là từ một nước nhỏ ( diện-tích 660 cây số vuông ) như Singapore, mà khi mới được tự trị năm 1960, thì chỉ như một «vũng nước ao tù », và nghèo nàn, lạc-hậu như 1 đảo-quốc không tài-nguyên, còn phài nhập khẩu cả nước ngọt, từ Malaysia, cho hơn 4 triệu dân ( bằng dân số TP.HCM ), đã vươn lên từ nước kém phát-triển thành một trong những nước phát-triển « hàng đầu trên Thế-giới » ( Sách « From the Third World to the First » của Th-T.Lý Quang-Diệu ), chính là nhờ kế-họach phát-triển kinh-tế mũi nhọn trong những ngành dầu khí, máy cơ-khí, máy tính, sàn-phẩm cao-su ( thủa mới lập quốc ), và gần đây trong lãnh-vực tài-chính, ngân-hàng, máy vi-tính, công-nghệ thông-tin, và sinh-học.

Theo ông Lý-quang-Diệu thì « với sức mạnh sẵn có trong những lĩnh-vực kinh-tế mũi nhọn này, Singapore sẽ trở thành một xã-hội phát-triển hoàn-toàn, với sự hiện-hữu của những công-ty đa quốc-gia, và Singapore cũng sẽ là một trung-tâm công-nghiệp đa dạng, nhờ các hoạt-động dựa vào trí-thức ». Cách đây gần 20 năm, ông Lý-quang-Diệu có thố-lộ cho tôi biết ( vào dịp găp ông tại Thụy-sĩ ) rằng ông có tư-vấn cho nhà lãnh-đạo Việt Nam là Việt Nam nên theo mô hình phát-triển kinh-tế của Malaysia ( hơn là mô hình của Singapore ), vì nước này cũng giàu tài-nguyên, và có nhiều dân số cũng như Việt Nam.

Thực vậy, năm 1997 Malaysia là nước duy nhất đã không cần tới trợ giúp cùa Ngân-hàng Thế-giới ( World Bank ) và Quỹ tiền tệ Quốc-tế ( IMF ) để nhanh chóng thoát khỏi cuộc khủng-hoảng kinh-tế và tài-chính cùa các nước Đông Nam Á, nhờ ở :

1) Chính-sách tài-chính và tiền tệ khôn ngoan của chính-phủ nước này do Thủ-tướng Mahathir Mohamah chủ trì, thí-dụ như biện-pháp tạm thời bãi bỏ tự-do hối đoái đồng tiền Ringhi, tái lập kiểm-soát hối-đoái với tất cả ngoại-tệ của các nước khác.

2) Đặc-khu Ngân-hàng và Tài-chính tại tỉnh LUBUAN đã được thành-lập từ 01/10/1990 theo luật « Lubuan International Offshore Financial Centre Act »

Phạm-vi bài này không đủ chỗ để trình bày về sự hữu-hiệu để phát-triển lãnh vực ngân-hàng và tài-chánh bằng những « Đặc-khu Quốc-Tế Offshores » của các nước, thí-dụ như :

1) Anh-quốc có những « đặc-khu Quốc-Tế offshores» trên các đảo biển Manche ( ở giữa Pháp và Anh ) của họ, như đảo Mans, Guersey, Jersey.

2) Nước Pháp có « đặc-khu Quốc-Tế » ở vương-quốc Monaco.

3) Thụy-sĩ có «đặc-khu Quốc-Tế » ở vương-quốc Liechtenstein.

4) Thời xưa Mỹ cũng có « đặc-khu Quốc-Tế » ở Panama.

5) Và dĩ-nhiên Singapore cũng có thể-chế giống như một đặc-khu, nên Lubuan (ở gần, và cũng trên 1 bán đảo) muốn khác biệt là 1 « Đặc-khu offshore Hồi-giáo về ngân-hàng và Tài-chính ».

Đặc-khu Ngân-hàng và Tài-chính của Việt Nam sẽ có nhiều lợi điểm so với Singapore (vì vậy nước này muốn làm trung-tâm ngân-hàng và tài-chính cho cả Việt Nam !) và Lubuan, vì Việt Nam ở trên thềm lục-địa Á-châu, và ở ngay trung-tâm Đông Nam Á.

Thể-chế tổng-quát của«đặc-khu Quốc-Tế Offshores ngân-hàng và tài-chính» :

1) Ngân-khoản ( Deposit account) được mở tự-do bằng những loại tiền quan-trọng nhất thế-giới, và tiền sở tại. Tiền lời của ngân-khoản KHÔNG bị đánh thuế

2) Tín-dụng ( Credit Falilities) cũng được vay bằng đủ loại tiền của thế-giới.

3) Tất cả các dịch-vu ngân-hàng và tài-chính tiên-tiến nhất thế-giới, với phí-tổn thấp hơn là ở ngoài phạm-vi của đặc-khu

4) Hối-đoái hoàn-toàn tự-do cho tiền sở tại và tất cả các loại tiền quan-trọng trên thế-giới.

Kết-quả là hiện nay Đặc-khu Ngân-hàng và tài-chánh Lubuan ( diện-tích 99 cây số vuông ) của Malaysia có 54 ngân-hàng ( đa-số của nước ngoài ), 98 Công ty Bảo-hiểm quốc-tế, 17 Quỹ đầu-tư quốc-tế, 22 Công ty « leasing » quốc-tế, và 3.085 công-ty quốc-tế đăng-ký tại đây.

1) Điều-kiện mở một «Đặc-khu Quốc-Tế Ngân-hàng và Tài-chánh» vùng Thành Phố HCM

Điều-kiện đầu tiên là Đồng tiền lưu-thông trong 1 đặc-khu phải được hoàn-toàn tự-do « hối-đoái », nghĩa là đựợc chuyển, đổi không bị giới hạn ra tiền các nước khác. Đây CHƯA phài là trường-hợp của ĐỒNG tiền Việt-nam phải giải-quyết ra sao vấn-đề quan-trọng này ?

Khi bàn về tương-lai một đồng tiền chung ( như Euro của Âu-châu ) cho các nước thuộc khối ASEAN, thì thấy còn rất nhiều việc phải làm trước là phải đạt được trình-độ phát-triển kinh-tế tương đối đồng đều, giải-quyết vấn-đề thâm hụt cán cân thương-mại, và tình-trạng lạm-phát, cũng như các khúc-mắc tài-chính khác.

Như vậy mô hình một đồng tiền chung cho Asean cũng còn lâu mới thực hiện được.

Nhưng còn 1 mô hình khác là 2 hay nhiều nước Asean có thể ký kết dùng các đồng tiền nội bộ của nhau như là đồng tiền CHUNG có giá trị tương-đương. Mô hình này thiết thực hơn, mà có thể áp-dung ngay với một số nước Asean để thuận-lợi trao đổi thương-mại, và tạo động-lực tăng trường xuất, nhập-khẩu qua các nước thứ ba khác.

Hiện nay Brunei ( gần Lubuan ) và Singapore là 2 nước đầu tiên ( có đồng tiền gần giá-trị tương-đương, và trình-độ phát-triển khá ngang bằng nhau ) đã áp-dụng khá hiệu-quả mô hình này trong việc thanh-toán giao dịch và trao đổi hàng hóa xuất nhập khẩu.

Ngoài ra Việt-nam và Malaysia cũng đang bắt đầu đưa vào áp-dụng việc thanh-toán bằng đồng nội tệ của nhau trong giao-dịch thương-mại. Mà đồng tiền Ringhi của Malaysia được tự-do « hối đoái » không giới hạn .

Như vậy làm sao Việt Nam điều-đình với Malaysia để sử dụng được đồng tiền RM tự-do « hối đoái » ở trong, và từ « đặc-khu Ngân Hàng và Tài Chính » của TP.HCM ra nước ngoài khác ?

2) Địa-điểm mở «Đặc-khu Quốc-Tế Ngân-Hàng và Tài-chánh » ở Thành Phố HCM.

Như đã thấy là phần nhiều các nước trên thế-giới đều mở những đặc- khu trên « địa đầu đất nước » ( như Lubuan, Monaco ), hay trên đảo ( lý tưởng là Phú-quốc, Côn đảo, nhưng tiếc không phụ thuộc TP.HCM ) để áp-dụng thể-chế đăc-biệt ( về thuế má thật thấp, hối-đoái tự-do, v.v...) Vậy trong vùng Thành Phố HCM có « đảo »gì không ?

Hình như vùng Nam Thành Phố HCM có vùng Cần Giờ ( gồm 2 đảo ? ) mới được môt đoàn kiểm-tra khen là « quản-lý đất đai tốt nhất nước » mà thời xưa cũng chỉ là một « vũng nước ao tù» như Singapore, nhưng lớn hơn Lubuan ( diện-tích chỉ có 99 cây số vuông ), mà lại ở vùng Nam Thành Phố HCM có khu đô-thị mới gồm nhiều tổ-chức quốc-tế ( Bệnh Viện Pháp Việt, trường Quốc Tế,v.v...), và nhiều dân-số Việt-kiều và các nước ngoài là những người biết sử dụng những dịch-vụ ngân-hàng và tài-chánh tiên tiến nhất.

Việt-nam đã có nhiều khu « kinh-tế mở » như Chu Lai, Dung Quất, Văn Phong, nhưng vẫn thiếu một « Đặc-khu ngân-hàng và tài-chánh », còn Trung-quốc có hơn 1000 khu Kinh Tế mở, đặc khu chế-xuất ( giống như Tân-thuận ), khu phát-triển Kinh Tế công-nghệ ( cũng như OVS Club có đề-án thành lập ở vùng nam TP.HCM ), hay các khu mang tên khác nhau, nhưng có cùng bản chất.

Về lợi ích của một « Đặc-khu Quốc-tế ngân-hàng và tài-chính », thì chỉ cần xem địa-vị hàng đầu của Singapore trên nền kinh-tế Thế-giới.