NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những trăn trở đối với ngành Cơ kỹ thuật và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam - TS Nguyễn Lương Dũng , Kiều bào Đức

Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Lương Dũng vốn là học sinh trường Petrus Ký – Sài Gòn (nay là trường phổ thông trung học chuyên Lê Hồng Phong). Ông du học tự túc tại Đức từ năm 1966 và tốt nghiệp kỹ sư hàng không năm 1973. Sau năm 75, do những hoạt động cho phong trào chống chiến tranh Việt Nam, ông gặp một số khó khăn về giấy tờ, qua những mối liên hệ với trong nước, ông được cấp học bổng sang Ba Lan học tiến sĩ, nhưng sau đó ông vượt qua những khó khăn và bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1981.

Từ năm 1977, ông là giảng viên trường đại học kỹ thuật Hannover. Sau khi bảo vệ lận án tiến sĩ, ông sang Canada làm nghiên cứu theo chương trình sau tiến sĩ, sau đó trở về Hannover và các trường đại học tại Stuttgart, Hamburg làm công tác giảng dạy. Năm 1987, ông giành được giải xuất sắc cho những đóng góp kỹ thuật, dành cho những kỹ sư trẻ dưới 40 tuổi của Hiệp hội kỹ sư Đức, một hiệp hội lớn, có đến hơn 40 ngàn hội viên, có thể nói, ông là người nước ngoài đầu tiên giành được giải thưởng này. Ông tham gia Hội Việt kiều yêu nước trong những năm 70, có hai năm làm tổng thư ký hội tương trợ sinh viên Việt Nam tại Đức, lấy những tài trợ của chính phủ Đức tài trợ cho những sinh viên Việt Nam gặp khó khăn về tài chính từ sau năm 1975.

Từ năm 1977, cứ một năm rưỡi ông về nước 1 tháng, làm việc với Ủy ban khoa học Kỹ thuật nhà nước, trường đại học Bách khoa Hà Nội và viện toán cơ quốc gia. Đến năm 1992, theo chương trình hợp tác giữa Đức và Việt Nam, ông tham gia giảng dạy tại đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh với tư cách là giáo viên thỉnh giảng. Sau khi chương trình hợp tác hết hạn vào năm 1997, ông trở về Đức, nhưng chỉ vài tháng sau, ông lại có mặt tại Việt Nam và lần này là dọn về ở hẳn tại quê nhà. Ông tiếp tục giảng dạy tại tại khoa cơ học ứng dụng của trường đại học Bách khoa Sài gòn. Năm 2002, ông được nhà nước phong hàm phó giáo sư, gần như là người nước ngoài đầu tiên được phong danh hiệu này (vì ông vẫn mang quốc tịch Đức). Ông cũng là người hoạt động rất tích cực trong các tổ chức của bà con Việt kiều trong nước. Dù rất bận rộn trong công việc chuyên môn, nhưng ông đã dành một buổi để trò chuyện cùng NVX, sau đây là nội dung cuộc trao đổi.

Thưa ông, sau 5 năm giảng dạy tại Việt Nam , động cơ nào khiến ông chọn con đường ở lại quê nhà?

Nguyện vọng của đa số bà con Việt kiều là muốn làm cái gì đó đóng góp cho đất nước. Nguyện vọng ấy của trí thức lại càng mãnh liệt hơn, mặc dù đã thành đạt tại xứ người nhưng vẫn thấy thiếu thốn. Anh em đều hiểu khi đi du học trước tiên là giúp bản thân và gia đình, sau đó là giúp nước. Phần cho gia đình và bản thân đã xong, nhưng phần cho đất nước thì chưa được mấy. Vì vậy, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi rất đông trí thức Việt kiều luôn hướng về quê nhà và luôn tự nguyện hết lòng trong khả năng cho phép đóng góp chút gì đó cho quê hương. Riêng đối với tôi, sau 5 năm thỉnh giảng tại Việt Nam, đã hội nhập vào cuộc sống nơi đây và cảm thấy hài lòng. Sau khi trở về Đức có mấy tháng, chúng tôi quyết định quay lại Việt Nam bởi một lẽ đơn giản là sau khi quay lại, mình hầu như phải làm lại từ đầu, trong khi đó ở Việt Nam đang rất cần mình. Vợ tôi là nhà báo nên cô ấy cũng không thích ra nước ngoài định cư, ở Việt Nam cô ấy các mối quan hệ rộng rãi hơn, cảm thấy sống có ích hơn. Tôi vẫn giữ quốc tịch Đức, lý do cũng dễ hiểu thôi, tôi muốn con tôi được hưởng những ưu đãi của chính phủ Đức sau này vì tôi sợ rằng đi làm với đồng lương hiện nay thì không thể có khả năng cho con đi du học được.

Ông đánh giá thế nào về năng lực của sinh viên Việt Nam đối với ngành cơ, ngành mà ông đang trực tiếp giảng dạy tại trường đại học Bách khoa?

Cơ học là môn học cơ bản cho những ai muốn trở thành kỹ sư. Cùng với môn toán, đây là vì là môn rất quan trọng, cần thiết cho người kỹ sư. Thế nhưng khó mà nói được về lợi thích kinh tế của các môn học này, dù rằng thiếu nó, người kỹ sư không thể học tiếp chuyên môn của mình ở trình độ cao hơn. Thời gian đầu, tôi hơi bị sốc vì người trong nước chỉ quan tâm đến những ngành học kiếm được tiền nhanh. Thậm chí có nơi còn muốn bỏ hẳn bộ môn cơ kỹ thuật. Chúng tôi đã phải đấu tranh rất nhiều để giữ lại môn học này cho sinh viên bởi nếu người kỹ sư không có căn bản toán tốt thì không thể đi dài hơi trong nghề nghiệp được. Trước tiên, tôi dạy các lớp cao học, chuyên sâu sau đại học, cho các thầy cô khoa cơ khí, (tôi dạy phần tử hữu hạn và cơ chảy dẻo). Sau đó là môn kết cấu hàng không cho ngành kỹ thuật hàng không mới mở vào năm 1997. Trong quá trình giảng dạy, tôi có một số học trò tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ, một anh hiện là trưởng bộ môn cơ kỹ thuật. Khi hướng dẫn luận án cho nghiên cứu sinh, có một điều tôi rất ngạc nhiên là trong suốt 15 năm từ 1975 đến 1990, chỉ có hai người làm luận án tiến sĩ ngành toán cơ tại đại học bách khoa TP.HCM, trong khi đại học Bách khoa Hà Nội năm nào cũng có hàng chục tiến sĩ. Điều này quả là không ổn! Về khả năng, các nghiên cứu sinh hoàn toàn không thiếu, nhưng có lẽ là do chính sách đãi ngộ không phù hợp. Các giảng viên phải đi dạy nhiều quá, không có thời gian nghiên cứu khoa học, như vậy là việc nghiên cứu khoa học ở trường đại học thấp quá. Tình hình bây giờ đã khác trước, số nghiên cứu sinh đã tăng lên nhưng ngành cơ khí cũng chỉ có một vài người.

Ông có biết nguyên nhân, phải chăng nghiên cứu khoa học là quá khó khăn tại Việt Nam?

Làm luận án ở Việt Nam có khi còn khó hơn ở các nước vì: thiếu tài liệu khoa học, thiếu tiền làm thí nghiệm, thầy cô không có thì giờ hướng dẫn hoặc hướng dẫn chủ yếu là kỹ thuật và công nghệ chứ không hướng dẫn kỹ phần lý thuyết nên khi luận án viết ra phần lý thuyết thường không đạt. Còn một lý do khác là những sinh viên giỏi hầu như đi nước ngoài hết vì học bổng nước ngoài bây giờ rất nhiều. Ngành kỹ thuật hàng không, một ngành mới, mỗi năm có hàng chục sinh viên trên tổng số 30 sinh viên của mỗi khoá đào tạo đi du học tiến sĩ, thạc sĩ. Để cho việc nghiên cứu khoa học trong trường đại học được dễ dàng hơn, nhà nước và nhà trường nên tạo điều kiện cho người nghiên cứu khoa học, giảm bớt giờ dạy, cấp kinh phí bằng với đề tài cấp bộ (15 đến 20 triệu), người hướng dẫn cũng phải đầu tư nhiều thì giờ hơn cho nghiên cứu sinh mình hướng dẫn. Người học cũng phải nghiêm túc trong nghiên cứu, không sao chép, không học đối phó…

Đối với các nhà khoa học, việc họ sợ nhất khi về Việt Nam làm việc không phải là thu nhập hay mức sống thấp hơn mà là chuyện sẽ bị lạc hậu về kiến thức, anh nghĩ thế nào về những lo ngại này?

Đối với các nhà khoa học, việc về Việt Nam công tác thì việc cập nhật thông tin khoa học gặp nhiều khó khăn. Đúng là việc lạc hậu về kiến thức là có. Hồi ở Đức, mỗi năm tôi phải báo cáo tại 3, 4 hội nghị khoa học, rồi viết bài cho các báo chuyên ngành, suốt ngày bận rộn với công việc nghiên cứu khoa học. Về Việt Nam, việc tham gia những hoạt động khoa học là rất hiếm hoi, không được như vậy. Điều quan trọng đối với người làm khoa học là sự trao đổi, sự tranh đua trong khoa học. Tại các hội nghị, mình mới có dịp trao đổi với đồng nghiệp, báo cáo những kết quả nghiên cứu mới nhất… Ví dụ ngành của tôi là về cơ phá hủy, rất ít người nghiên cứu lĩnh vực này ở Việt Nam, không có người thi thố với mình cũng không có động lực nghiên cứu. Người làm khoa học rất thích có người thưởng thức và quan tâm đến công việc của mình, rất háo thắng. Họ cũng rất thích được được động viên khen thưởng kịp thời, giống như những đứa trẻ vậy. Việc tạo môi trường thuận lợi cho các nhà khoa học trong nước là rất cần thiết. Ở nước ngoài việc này được tiến hành thường xuyên, liên tục, xuất phát từ những yêu cầu tự thân của họ. Ngoài ra, các hội nghị này có tác dụng rất tốt cho nghiên cứu sinh, vì họ phải có nơi để trình bày, công bố các công trình của mình, một trong những yêu cầu của việc làm luận án…Trước đây, hàng năm tôi đứng ra t963 chức hội nghị cho ngành cơ, nhưng từ năm 1998, tôi không đảm nhiệm công việc ấy nữa mà công việc này do trường tiến hành. Điều cần thiết nhất là phải có trao đổi và môi trường cạnh tranh, buổi quan trọng nhất của những hội nghị là những trao đổi ngoài lề, kết bạn tốt với đồng nghiệp, bạn cả trong khoa học lẫn trong đời thường, khi đã là bạn thì luôn sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, rất hữu dụng cho người làm nghiên cứu

Có phải đó là lý do chính để câu lạc bộ khoa học và kỹ thuật Việt kiều ra đời?

Ở khoa này cũng có một số giáo viên là Việt kiều hồi hương. Từ những năm đầu tiên về Việt Nam làm việc, tôi có thảo luận với nhiều bạn bè tại Đức. Đa số đều không phấn khởi lắm về sự đóng góp của mình. Sự đóng góp, giúp đỡ của Việt kiều trong nhiều năm qua chỉ có tính chất một chiều, trong khi các đơn vị nghiên cứu hay sản xuất trong nước lại không đưa ra được yêu cầu của mình, rất thụ động, không sẵn sàng tiếp nhận sự giúp đỡ ấy, không trân trọng những đóng góp không vụ lợi như vậy. Ngoài ra, có khi còn là do phía đối tác không đủ trình độ, hoặc không đúng chuyên môn của người muốn đóng góp. Vì vậy, người về, dù có tâm huyết, nhưng do tổ chức không tốt, điều phối không tốt nên sự đóng góp không đầy đủ, nên cũng chỉ như cưỡi ngựa xem hoa, chưa hiệu quả. Thực ra, khi chỉ về ngắn hạn, đóng góp chỉ mang tính chất chuyên gia, cố vấn, không trực tiếp. Một sự đóng góp muốn có hiệu quả thì phải có sự ràng buộc về tránh nhiệm và quyền lợi. Hơn nữa, sự đóng góp một chiều đến nay hầu như không còn nữa. Ví dụ đề án do tôi đưa ra thì tôi phải có quyền thực hiện. Việc tổ chức, điều phối hầu như không có: ban Việt kiều trước đây cũng như Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước không làm việc này. Tôi cũng muốn làm một công ty tư vấn cho Việt kiều như vậy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy việc này phải do nhà nước làm thì đúng chức năng hơn. Về câu lạc bộ khoa học và kỹ thuật Việt kiều , đúng ra, chúng tôi định lập ra một Hiệp hội Khoa học - Kỹ thuật Việt kiều TP.HCM, nhưng sau thảo luận này thấy nó mang nặng tính chính trị quá nên gọi là Câu Lạc Bộ ( CLB ) cho nó mềm mại và uyển chuyển hơn trong hoạt động.

Ban vận động thành lập CLB đã được thành lập với mục đích tạo nên sự giao lưu giữa các Việt kiều, đang ở nước ngoài hoặc đã về nước làm việc, trao đổi kinh nghiệm tốt nhất đóng góp cho đất nước, tổ chức và điều phối hoạt động của Việt kiều trên nhiều lĩnh vực như: tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, học bổng, đưa đối tác nước ngoài vào giúp Việt Nam, tìm kiếm những đề án nghiên cứu do nước ngoài tài trợ...Việc quan trọng là làm sao phát huy được vai trò của Việt kiều trong công cuộc công nghiệp hoá đất nước. Lúc này là thời điểm tốt nhất để thành lập CLB vì sau NQ 36, các cơ quan, ban ngành liên quan tích cực hơn với công tác Việt kiều chứ không thờ ơ hơn nữa. CLB cũng phải hoạt động thật tốt để chứng minh vai trò của mình với nhà nước.

Thời gian qua, ông đã vận động được bao nhiêu trí thức Việt kiều tham gia CLB?

Nói chung việc vận động Việt kiều trong nước dễ dàng hơn ngoài nước. Số người không cần nhiều, nhưng phải là những người có uy tín với đồng nghiệp, Việc kết nạp hay không vẫn theo tiêu chí anh làm được gì cho CLB. Tổ chức, điều phối phải nhẹ nhàng, thoải mái, người đóng góp không cảm thấykhông thấy nặng nề về chính trị. Sau khi thành lập CLB, mình phải có những nơi tiếp nhận những đóng góp do CLB giới thiệu: trước mắt sẽ là ủy Ban Người Việt ở Nước ngoài và đại học quốc gia thành phố là nơi tiếp nhận với một Trung tâm tư vấn đào tạo và chuyển giao công nghệ cho Việt kiều trong đại học quốc gia. Giai đoạn đầu sẽ đặt văn phòng liên lạc tại đại học quốc gia với đại diện của CLB và ủy Ban Người Việt ở Nước ngoài, hoạt động dưới ngọn cờ của đại học quốc gia. Đây là hai tổ chức sẽ hỗ trợ tốt cho trí thức Việt kiều. Vẫn với mục tiêu làm sao cho Việt kiều đóng góp một cách trực tiếp và có trách nhiệm với công cuộc hiện đại hoá đất nước chứ không phải gián tiếp như trước, chúng tôi mong muốn trung tâm này phải do Việt kiều điều hành.

Nếu CLB và trung tâm hoạt động tốt, thì đây là cơ hội phát triển tốt cho ít nhất 300.000 Việt kiều có trình độ trên đại học. Thử làm 1 phép tính nhỏ, số tiền đào tạo một kỹ sư ra trường tại châu Âu hoặc Mỹ xấp xỉ 100 ngàn USD. 300 ngàn người, mỗi người 100 ngàn, số tiền đầu tư quả là khổng lồ, đó là tài sản vô giá của Việt Nam mà lại được cho không! Chỉ cần 1% số trí thức ấy làm việc cho Việt Nam thì chúng ta đã thành công. Nếu không sử dụng được sức mạnh chất xám này thì quả là quá lãng phí. Sự lãng phí này không phải do ta không có khả năng, cũng không phải vì lý do chính trị này nọ mà chỉ đơn giản do tổ chức kém, không có một tổ chức riêng chuyên lo chuyện này như các nước khác… Các nước quanh ta họ làm tốt hơn ta rất nhiều trong việc thu hút chất xám của họ từ nước ngoài trở về, vì vậy mà họ tiến nhanh hơn ta. Tháo gỡ những khó khăn này phải là cấp cao hơn. Người làm Khoa Học phải có tâm lý ổn định, cuộc sống ổn thì mới sáng tạo được, torng khi về sống ở Việt Nam có nhiều thứ phải lo quá: nào là gia hạn visa, nào là hộ khẩu, nào là con cái học hành…

Tôi rất ủng hộ chương trình Vinh danh nước Việt của NVX, vì trí thức rất cần những động viên như vậy. Vừa qua có những đóng góp của đông đảo Việt kiều diễn ra rất lặng lẽ, có khi họ về nước mà không qua ủy Ban Người Việt ở Nước ngoài, hội đoàn Việt kiều yêu nước thành lập từ trước chiến tranh nay không còn nữa nên không ai biết đến hoạt động của họ. Vì vậy rất khó được vinh danh tại quê nhà. Nên chăng, những tiêu chuẩn bình chọn cho Vinh danh nước Việt nên sửa lại đôi chút vì theo tôi hiểu theo tiêu chí trước đây, người ấy phải có những thành tựu và đóng góp ở cả hai bên, trong nước và nước ngoài, như vậy e không có bao nhiêu người đạt tiêu chuẩn này.

Thu Thủy