NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Vấn đề ngoại ngữ và tầm nhìn 2020 ở Việt Nam

Việt Nam cần làm gì để thực hiện được chiến lược quốc gia về dạy và học ngoại ngữ với tầm nhìn 2020? Đâu là điểm căn bản cần thay đổi để hoàn thiện?

Ngoại ngữ là một trong những điểm nối quan trọng trong quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới. Những lợi thế rõ ràng của việc nắm vững và làm chủ ngoại ngữ đã buộc Việt Nam phải tăng tốc trong quá trình dạy, học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh – ngôn ngữ được coi là quan trọng nhất của quá trình toàn cầu hóa nói riêng. Việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam, xét trong khía cạnh đó, là một đề tài thú vị.

Đề tài nghiên cứu: “The influence of local economies and global policies on English language learning and teaching in Vietnam” (Ảnh hưởng của kinh tế địa phương và các chính sách toàn cầu tới việc dạy và học ngoại ngữ tại Việt Nam) của hai tiến sĩ Martin Borgan và Mark Vicars thuộc Đại học Victoria, Úc cũng nằm trong dòng chảy nghiên cứu chung đó. Các kết quả nghiên cứu của hai ông đã được trình bày trong hội thảo khoa học “Engaging with Vietnam: An Interdisciplinary Dialogue” (Đối thoại liên ngành về các vấn đề Việt Nam) diễn ra trong hai ngày 23 và 24 tháng Hai tại Đại học Monash, Úc. Bay Vút đã có cuộc trao đổi với hai tác giả của nghiên cứu này về vấn đề giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam.

Một cách tổng quan, xin hai ông cho biết đâu là vấn đề chính trong việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam?

TS. Mark Vicars: “Theo tôi đó chính là vấn đề ‘cách đánh giá’ (assessment). Nói chính xác hơn thì Việt Nam phải thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá học sinh trong vấn đề dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng?

“Ta thử so sánh hai trao đổi, thứ nhất là của một giáo viên cấp ba. Anh nói: ‘Hầu hết học sinh của tôi đều rất giỏi tiếng Anh, xét ở góc độ chơi games trên Internet. Tuy nhiên vấn đề là các em phải vượt qua được các kì kiểm tra tiếng Anh ở trường. Vì thế hàng ngày các em vẫn phải học từ vựng và ngữ pháp một cách máy móc”.

“Trao đổi thứ hai là của một giáo viên tại một trung tâm tiếng Anh: ‘Học viên của tôi học tiếng Anh để vượt qua các vòng phỏng vấn xin việc, để có đủ chứng chỉ ngoại ngữ xin việc. Đó là những yêu cầu dành cho môi trường làm việc trong nước. Tuy nhiên họ cũng cần phải giao tiếp một khi bước ra khỏi phạm vi Việt Nam”.

“Như vậy, để đáp ứng được cả hai yêu cầu này, người giáo viên phải thay đổi cách thức giảng dạy. Họ phải kết hợp được cả tính chất toàn cầu và địa phương (glocal).”

“Vì thế, vấn đề ở đây chính là ‘văn hóa kiểm tra’ và chúng ta phải thay đổi cái văn hóa này. Nhiều giáo viên cho biết họ luôn phải cho sinh viên làm các bài kiểm tra hàng tháng và nếu không làm như vậy, họ sẽ bị đánh giá là thiếu trách nhiệm. Tiếng Anh được dùng hàng ngày rất nhiều ở Việt Nam, tuy nhiên thứ tiếng Anh đó khác xa với tiếng Anh được dạy trong nhà trường. Ở đó là một thứ tiếng Anh không tự nhiên và chỉ có tác dụng đánh giá đỗ/trượt”.

TS. Martin Bogan: “Để thay đổi cái văn hóa kiểm tra này, tôi muốn nhấn mạnh tới vấn đề ‘không gian’ (space). Ví dụ thế này: nếu ta có một giáo viên dạy tiếng Anh và những học sinh của người giáo viên đó trong không gian một lớp học Việt Nam thì sẽ thấy ngay sự cứng nhắc, thiếu tự nhiên trong việc dạy và học. Có cảm giác như khoảng cách giữa thầy và trò rất xa nhau. Tuy nhiên cùng những con người ấy, nếu ta di chuyển không gian từ lớp học sang một môi trường khác bên ngoài, ta sẽ thấy họ rất thoải mái, rất năng động. Họ trò chuyện, trao đổi bằng tiếng Anh rất mạnh dạn và tự nhiên. Dù vậy, tôi cũng nhận thấy một điểm khá thú vị liên quan tới văn hóa nói chung của một số nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, đó chính là việc họ có thiên hướng chỉ muốn nghe mà ít bộc lộ quan điểm thông qua đối thoại. Điều này sẽ ảnh hưởng nhiều tới việc học ngoại ngữ và để tránh điều đó cần học cách vượt qua sự xấu hổ”.

Năm 2009, trong một thảo luận xung quanh chiến lược quốc gia về dạy và học ngoại ngữ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam đã nói tới năm 2020 ngoại ngữ sẽ phải là một thế mạnh của người Việt Nam. Vậy một cách thẳng thắn, theo đánh giá của hai ông, khả năng ngoại ngữ của người Việt Nam vào thời điểm này trong so sánh với các nước Đông Nam Á khác ra sao?

TS. Mark Vicars: “Năm 2008, theo đánh giá dựa trên điểm thi IELTS của các thí sinh tham dự, Việt Nam là nước đứng thứ hai toàn Châu Á. Đó là một kết quả khá cao. Theo đánh giá của tôi, hiện khả năng tiếng Anh của Việt Nam ngang ngửa với nước láng giềng Thái Lan trong khu vực Đông Nam Á. Tôi đã được nghe những cuộc trao đổi bằng tiếng Anh trên đường phố Việt Nam không khác mấy so với những đối thoại trên đường phố London hay New York, xét ở ngữ điệu, ngữ âm, từ vựng và sự trôi chảy. Điều đó quả là rất thú vị”.

Trong ‘Dự thảo chiến lược quốc gia tầm nhìn 2020 về vấn đề dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam’, Bộ Giáo dục Việt Nam dự định đầu tư 1 tỷ đô-la cho quá trình này. Tuy nhiên, chính Thứ trưởng Bộ Giáo dục và các tác giả của đề án lại cho rằng để thực hiện được chiến lược này và biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của Việt Nam vào năm 2020, cái khó nhất là vấn đề thiếu đội ngũ giáo viên. Hai ông có đồng ý với ý kiến này không và đánh giá như thế nào về tính thực tiễn của đề án này?

TS. Martin Bogan: “Tôi không nghĩ rằng việc thiếu hụt giáo viên sẽ là trở ngại chính. Chúng ta có thể đào tạo 10 ngàn, thậm chí 100 ngàn giáo viên nếu muốn. Vấn đề là đào tạo như thế nào? Bên cạnh đó, vấn đề cũng không nằm ở số tiền 1 tỷ đô-la được dự án đưa ra. Nó nằm ở việc số tiền đó sẽ được tiêu ra sao, đầu tư vào đâu? Ví dụ, để đào tạo giáo viên, có thể không cần đưa các giáo viên ra nước ngoài học tập mà có thể đào tạo ngay trong nước với các chuyên gia từ nước ngoài tới giảng dạy”.

“Ngoài ra, nên đầu tư vào việc thay đổi hệ thống đánh giá, kiểm tra sinh viên. Một khía cạnh khác cũng nên để ý là cần xem xét khoảng cách về khả năng ngoại ngữ giữa thành thị và nông thôn. Tôi nghĩ cần đầu tư thêm vào vùng nông thôn để tránh tình trạng mất cân bằng vùng miền. Theo tôi, để tầm nhìn 2020 về dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam trở thành hiện thực, cần phải có sự kết hợp tuyệt đối giữa bộ máy giảng dạy, kiểm tra và sinh viên – những người trực tiếp học ngoại ngữ”.

Xin trân trọng cảm ơn hai ông.

Huy Cương