NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Người nhập cư – chất xúc tác cho phát triển của nước nghèo

Với việc gửi tiền và nhiều phương tiện vật chất khác về quê hương, người nhập cư đã trở thành chất xúc tác như thế nào cho sự phát triển ở các quốc gia mà họ từ đó ra đi ?

Sau các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, các quan chức ở Mỹ và nhiều nước khác đã bắt đầu theo dõi sát sao các dòng tiền xuyên biên giới của những người nhập cư, với hy vọng phát hiện các phần tử khủng bố. Các công ty gửi tiền đã có điều chỉnh lớn, việc chuyển tiền mặt của các công nhân nước ngoài được giám sát chặt chẽ. Song người ta đã không phát hiện được gì nhiều liên quan đến khủng bố, trong khi xuất hiện nhiều dữ liệu mới liên quan đến kinh tế học về nhập cư.

Đó là một tác dụng phụ tích cực. Trong vài năm qua, các chuyên gia về người nhập cư đã có được một cái nhìn rõ ràng hơn về việc khoảng 200 triệu người lao động ở nước ngoài ảnh hưởng tới cuộc sống của người thân đang ở nhà thế nào. Hóa ra, tác động là khá lớn và rất tốt.

Nói một cách khách quan, người nhập cư giúp người thân ở quê hương bằng việc gửi rất nhiều tiền mặt về. Số tiền mà rất đông những người giúp việc, rửa bát, đóng đồ hộp và thợ hàn tha hương gửi về các nước nghèo còn nhiều hơn các nỗ lực trợ giúp của phương Tây. Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết năm ngoái, người lao động nước ngoài gửi 328 tỷ USD từ các nước giàu về các nước nghèo, tức là hơn gấp đôi con số 120 tỷ USD viện trợ chính thức từ các thành viên OECD. Ấn Độ nhận được 52 tỷ USD từ cộng đồng người Ấn ở Mỹ , nhiều hơn số tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đây.

Những con số trên thật ấn tượng, song tính toán các tác động thực tế thì rất khó. Không phải toàn bộ số tiền mặt đó được chuyển tới những nơi nghèo nhất. Những nơi có mức thu nhập trung bình như Ba Lan và Mexico được nhận nhiều tiền kiều bào gửi nhất; trong khi những nơi nghèo khó và cô lập như các nước châu Phi thì không xuất khẩu lao động nhiều. Hơn thế, số tiền khổng lồ trên, khi đến được các nước nghèo, không phải lúc nào cũng đến được tay những người nghèo nhất. Hầu hết người đi lao động nước ngoài cần một ngân quỹ và phải có học thức mới có thể đi lao động nước ngoài, vì vậy gia đình họ thường khá giả.

Nhưng tiền gửi của người lao động nước ngoài là cách hiệu quả và mang tính thị trường nhằm chuyển tiền tới những người đang gặp khó khăn. Chủ yếu tiền mặt không được chuyển qua kênh của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hay các tổ chức dân sự, thường bị triết khấu ( và làm lãng phí ) một phần lớn. Các quan chức tham nhũng cũng dễ dàng "đánh cắp" các nguồn tiền này. Công nghệ, đặc biệt là điện thoại di động và ngân hàng trên mạng, cùng với sự cạnh tranh giữa các công ty chuyển tiền, đã khiến việc chuyển tiền giữa các cá nhân trở nên dễ dàng, an toàn và rẻ hơn bao giờ hết.

Ngay cả khi một lượng tiền gửi về nước bị "lãng phí" cho hàng tiêu dùng, thì nguồn tiền mặt này cũng giúp kích cầu trong các nền kinh tế nhận và cung cấp ngoại tệ mạnh quý báu. Và một số lượng tiền gửi được chi trả cho các lĩnh vực phát triển có ích như giáo dục và y tế. Khi các quỹ của người nhập cư giúp xóa nghèo trong một hộ gia đình, các bé gái được đi học dài hơn, bữa ăn được cải thiện và sức khỏe trẻ sơ sinh được nâng cao.

Trong các trường hợp khẩn cấp - như trận sóng thần ở Thái Bình Dương hồi tháng trước - những người thân ở nước ngoài có thể giúp đỡ bằng các hỗ trợ vật chất và tiền mặt. Tương tự, những người Zimbabwe lưu vong, nhiều người sống tại Nam Phi, đã cứu sống những người thân của mình bằng cách gửi bột mì và dầu ăn, cả tiền mặt, qua các tài xế xe bus trong vai trò là người chuyển tiền.

Ngoài việc gửi tiền mặt về nước, người nhập cư còn có cách nào khác để thúc đẩy an sinh xã hội? "Báo cáo Phát triển con người" mới nhất của Liên hợp quốc, công bố hôm 5/10, đã cho thấy thay vì gọi người nhập cư là một vấn đề cần giải quyết, đối tượng này đang tạo ra dòng lao động tự do hơn. Nói một cách khác, theo các tác giả báo cáo trên, khi ra nước ngoài hầu hết người nhập cư đều tìm đến một nước giàu hơn, tốt cho sức khỏe hơn và có cuộc sống được giáo dục cao hơn so với cố quốc : hơn 3/4 người nhập cư đến nước có chỉ số phát triển con người cao hơn.

Báo cáo trên, và nhiều báo cáo khác nữa, cũng đưa ra trường hợp người nhập cư gửi về nước những giá trị có ích khác ngoài tiền mặt. Ông Demetrios Papademetriou, lãnh đạo Viện Chính sách Nhập cư ở Washington, cho rằng "sự chuyển giao tri thức, chính trị và xã hội" như vậy là rất quan trọng. Ông và nhiều người quan sát vấn đề nhập cư đã chuyển sự chú ý từ dòng tiền sang dòng tư tưởng. Khó mà chứng minh mọi thứ, song có những trường hợp, sự trở về của người nhập cư đồng nghĩa với ( hoặc có thể thúc đẩy ) những thay đổi chính trị và kinh tế.

Rất nhiều người Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Bồ Đào Nha làm việc ở Bắc Âu trong những năm 1960 và 1970 khi trở về nhà và đã trở nên tự do hơn. Ngày nay, nhiều "người Ấn Độ gốc" ở Mỹ và nhiều nơi khác đang thúc đẩy các quy định minh bạch và đơn giản hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài muốn bắt đầu kinh doanh tại Ấn Độ. Theo các quan chức Ấn Độ, các khoản tiền gửi và đầu tư đã tăng mạnh.

Các chính phủ khác, ngày càng ý thức về các nguồn tiền từ cộng đồng người Do Thái, cũng bắt chước. Các nước Tây Phi muốn gửi người di cư sang châu Âu và châu Mỹ như một nguồn tài chính, bằng việc tặng các đảm bảo đầu tư và tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Trong nhiều trường hợp khác, nhất là ở Trung Mỹ, các chính phủ ( cấp thành phố và trung ương ) và các cơ quan địa phương đã bắt đầu chính sách tặng tiền nếu người di cư gửi tiền về để chi trả cho các dự án như sửa chữa trường học và xây dựng đường xá. Nổi tiếng với mô hình "4-4-1", ý tưởng này nhằm nhân lên lợi ích cho một cộng đồng địa phương nhờ nguồn tiền của người đi lao động nước ngoài. Một số nhà tài trợ, như Canada và Thụy Điển, tự hỏi liệu viện trợ của họ có được chấp nhận cùng với các khoản tiền gửi của người di cư hay không.

Tất nhiên, người nhập cư cũng có những khó khăn trong quá trình phát triển. Các công nhân lành nghề từ các nước nghèo là một sự chảy máu chất xám rõ ràng, dù ở một số lĩnh vực, như bác sĩ và những người có bằng cấp khác có thể đã bỏ ra nước ngoài vì các điều kiện làm việc trong nước không tốt.

Cũng không có gì chắc chắn rằng tác động của người di cư tại cố quốc sẽ tiếp tục gia tăng. Khoảng 3% dân số thế giới sống ở nước ngoài: tỷ lệ này ít tăng mạnh trong những năm gần đây, dù con số tuyệt đối tăng. WB cho biết tiền gửi về nước, dường như tăng trong thập kỷ qua, có thể đã đạt đỉnh trong năm 2008. Có thể thấy tại một số khu vực, nhất là ở Mỹ Latinh, nguồn tiền gửi về nước đã giảm trong năm 2009, trong khi lượng tiền của người di cư ở vùng Vịnh vẫn vững chắc.

Một nghiên cứu hồi tháng Sáu của OECD cho thấy người nhập cư đang bị tác động nhiều từ cuộc khủng hoảng ở các nền kinh tế phát triển. Ở toàn bộ thế giới giàu, có những dấu hiệu cho thấy các dòng người nhập cư mới đã giảm, và nhiều người nhập cư đang phải sống chật vật ở nơi đất khách. Tại Tây Ban Nha, tỷ lệ thất nghiệp của những người sinh ở nước ngoài đạt 28% trong quý II/2009, trong khi tỷ lệ thất nghiệp cả nước là 18%. Tại Ai len và Anh, dường như một số người nhập cư, từ Ba Lan chẳng hạn, đã trở về nhà thay vì chờ đến một ngày mai tươi sáng hơn.

Quốc Thái