NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Trò chuyện nhân dịp năm mới - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

Đầu năm 2014 , tôi có hân hạnh trò chuyện với báo Sinh viên Việt Nam . Phóng viên gửi một số câu hỏi và tôi trả lời. Cuộc trò chuyện xoay quanh các vấn đề thời sự và giáo dục. Dưới đây là trao đổi giữa chúng tôi.

Một hình ảnh tôi khá ấn tượng mỗi cuối năm – trước thời khắc chuyển sang năm mới, đó là từng gia đình sẽ nấu một nồi nước lá để tắm gội, dũ đi những xui xẻo của năm cũ, họ chờ đợi một cái gì đó mới hơn, một thay đổi so với thời khắc cũ. Ông đọc được gì trong những lề tục như thế này, dưới góc nhìn là những khát vọng đổi thay của dân tộc?

Tôi nghĩ phong tục đó là một trong những biểu tượng hay nhân ngày đầu năm. Hay vì nó nhắc nhở chúng ta phải đổi mới và đổi mới nữa. Người Trung Hoa có câu “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” mà theo tôi hiểu là nếu muốn ngày hôm nay đổi mới thì ngày ngày đều phải luôn đổi mới, và lại tiếp tục đổi mới nữa. Tương truyền rằng câu này là của vua Thang khắc vào chậu tắm để làm một phương châm hành xử của bậc trị vì. Thật vậy, nếu nhìn sự việc một cách “lạnh lùng” thì tôi thấy ngày Tết chỉ là một cái mốc mang tính biểu tượng của dòng thời gian liên tục.

Nhưng cái mốc thời gian đó rất quan trọng bởi vì nó là cái mốc phổ quát cho mọi người chứ không riêng cho một cá nhân. Điều này nói lên rằng đó là cái mốc thời gian để có thể gây tác động lớn bằng đổi mới. Đức Phật từng nói rằng con người thường hai phạm 2 sai lầm trên con đường đi đến chấn lí: một là không đi đến cùng, và hai là không khởi động từ điểm đầu tiên. Do đó, ngày đầu năm là thời điểm lí tưởng để suy nghĩ về cách làm mới, tốt hơn, và tích cực hơn. Cá nhân tôi thì nghĩ cứ mỗi lần năm mới về tôi biết rằng mình mới được tái sinh một lần nữa, và khởi đầu một chương mới của cuộc sống. Mà, chúng ta biết rằng, vạn sự khởi đầu nan, sự khởi đầu lúc nào cũng là phần quan trọng nhất của một công trình. Thành ra, tôi lúc nào cũng cố gắng tự làm mới mình khi năm mới về.

Trong cách mạng chúng ta thắng các kẻ thù lớn với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” và đưa đến những thắng lợi vẻ vang. Nhưng rồi thời bình, có chăng chúng ta lại bị rơi vào một sự chủ quan duy ý chí. Sự ứng biến với đổi thay của thời vận quá chậm, làm tuột đi những cơ vận của đất nước. GS có ý kiến gì về vấn đề này?

Tôi nghĩ khái niệm thắng thua chỉ là tương đối thôi, và chúng ta một cách sáng suốt không nên đặt trọng số quá cao cho thắng lợi khi sự hi sinh quá lớn và hệ quả tiêu cực cho đến ngày hôm nay. Chiến thắng là một thứ men làm cho người ta say một cách rất hiệu quả. Và, như là một qui luật, say men chiến thắng thường dẫn đến sự kiêu căng và thất bại. Việt Nam chúng ta nằm trong qui luật này. Nhưng lịch sử cho chúng ta một bài học trớ trêu là những nước thành công có khi lại là những nước từng thua trận trong chiến tranh. Nhật Bản và Đức có lẽ là hai trường hợp minh hoạ cho “nghịch lí” đó.

Tôi nghĩ những gì xảy ra đã là quá khứ, và chúng ta không quay về quá khứ được. Nhưng những diễn biến trong quá khứ cho thấy sở dĩ chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để tiến lên cùng thế giới. Sự bỏ lỡ cơ hội một phần là do những người lãnh đạo duy ý chí, tự đánh giá mình quá cao, và đồng thời xem thường thế giới phương Tây và khinh thường những đối tác muốn giúp chúng ta. Tất cả chỉ vì tầm nhìn và cách phán xét của chúng ta chứ không nên đổ thừa cho bất cứ ai khác.

Về mặt thiết kế chính sách đổi mới và phát triển, theo GS, chúng ta phải làm gì ?

Tôi sợ câu hỏi của anh lớn quá, nằm ngoài tầm của tôi. Nhưng giả định rằng tôi ở vị trí hoạch định chính sách vĩ mô, tôi sẽ quan tâm nhiều đến con người. Những khía cạnh liên quan đến con người mà tôi quan tâm là bắt đầu từ một nền giáo dục với nguyên lí khai phóng và dân tộc. Tôi sẽ quan tâm và đầu tư nhiều hơn cho khoa học xã hội và tạo ra một căn cước tính cho người Việt. Tôi nghĩ trong thế kỉ 21 là thế kỉ của văn hoá, khi mà các quốc gia trên thế giới sẽ qui tụ với nhau trên nền tảng văn hoá chứ không phải ý thức hệ. Khi tôi đi dự hội nghị ở Indonesia hay Thái Lan, tôi biết mình là ai và cảm thấy dễ hoà nhập với họ hơn là trong các hội nghị ở các nước phương Tây, bởi vì cái căn cước dân tộc của tôi. Thành ra, tôi nghĩ cần phải quan tâm đến khía cạnh văn hoá trong thời đại toàn cầu hoá.

Tư duy phát triển của chúng ta một thời dựa vào “ rừng vàng, biển bạc ”, nhưng có lẽ nay phải tái cấu trúc tư duy: Tận thu khai thác thiên nhiên để khai thác rừng, làm thuỷ điện, chúng ta đã phải trả giá bằng lũ; tận thu với khai thác khoáng sản, chúng ta phải trả giá với bùn đỏ cao nguyên; người nông dân mất sinh kế. Trong cấu trúc tư duy mới, trí tuệ và kiến thức phải được ưu tiên hàng đầu? Và để làm được điều đó phải tôn trọng tự do tư duy ?

Tôi nghĩ Việt Nam là một nạn nhân của … thi vị hoá. Câu “rừng vàng, biển bạc” là một cách thi vị hoá một thực trạng không có thật. Rừng chúng ta chẳng phải là vàng, và biển của chúng ta không phải là bạc. Thế nhưng câu nói đó đã in sâu vào tiềm thức của rất nhiều người, và chúng ta tự mãn. Từ tự mãn đến thất bại thì chẳng bao xa. Ngoài ra, chúng ta còn tự cao cho rằng người Việt thông minh nhất nhì thế giới. Nhưng đó chỉ là một sự tự phong, một an ủi cho sự yếu kém của chúng ta. Trong thực tế, chúng ta chẳng thông minh hơn ai, và cũng chẳng tài giỏi hơn ai. Những trường hợp cá biệt về sự thành công vượt trội của người Việt chưa phải là chứng cứ để nói rằng chúng ta hơn dân tộc khác. Trong thực tế, bảng xếp hạng về khoa học và cải tiến (của WIPO) cho thấy Việt Nam còn kém hơn những nước như Thái Lan và Malaysia. Chúng ta chẳng có lí do gì để tự hào rằng chúng ta hơn người cả.

Có thời chúng ta tự hào nói rằng Việt Nam đã thắng được các đế quốc thì Việt Nam có thể làm được bất cứ chuyện gì. Nhưng thật ra đó là một sự nguỵ biện, bởi vì thắng hay bại trong chiến tranh chẳng có tương quan gì với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời bình. Những khó khăn và hệ quả nghiêm trọng trong việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, những vấn đề về thuỷ điện, những hệ quả của qui hoạch đất đai, v.v. đều đã được các nhà trí thức cảnh báo và hết lời khuyên ngăn, nhưng vì ý chí hay lí do nào khác mà những lời khuyên đó đều bị lờ đi, nên cả nước phải gánh nặng hệ quả như ngày nay.

Vị trí CON NGƯỜI như thế nào trong cuộc thay đổi tư duy đó, thưa GS ?

Như tôi nói ở phần trên, con người là trung tâm của tất cả vấn đề. Có hai khía cạnh chung về con người: lượng và phẩm. Nước ta là nước có dân số tương đối lớn trên thế giới, và có thể xem đó là một lợi thế. Nhưng về phẩm và đo bằng những thước đo khách quan thì dân số Việt Nam ít học hơn và kém sáng tạo hơn so với các dân số trong vùng.

Nói ví von một chút: cam Bố Hạ mà đem vào trồng ở Kiên Giang thì chắc khó cho ra quả ngọt. Tôi muốn mượn ví von đó để nói đến yếu tố tương tác giữa con người và môi trường thiên nhiên rất quan trọng. Dân số chúng ta đông nhưng đất thì hẹp, và khí hậu có thể nói là rất khắc nghiệt. Do đó, Việt Nam có dân số mạnh nhưng với phẩm chất dân số thấp trong môi trường bất lợi thì hệ quả là chúng ta phải phấn đấu hơn các dân khác, chứ không thể tự ru ngủ bằng “rừng vàng biển bạc” được.

Câu chuyện giáo dục

Để bắt cứ một sự đổi mới nào thành công thì trí tuệ cũng cần được đặt lên hàng đầu. Giáo dục phải ý thức được tầm quan trọng đó. GS nghĩ sao?

Trong thời bình, Nhà nước phải quan tâm đến phúc lợi của người dân. Giáo dục và y tế lúc nào cũng laf hai lĩnh vực có liên quan mật thiết đến phúc lợi của người dân. Vì thế không ngạc nhiên khi thấy các cuộc cải cách nào đều bắt đầu cải cách giáo dục hoặc y tế. Tất cả các cuộc tranh cử ở Úc mà tôi có cơ hội quan sát trong hơn 20 năm qua cũng chỉ xoay quanh giáo dục và y tế. Ở Việt Nam, như chúng ta thấy, giáo dục và y tế là hai lĩnh vực có nhiều vấn đề nhất. Bởi thế, không ngạc nhiên khi thấy trong kì Quốc hội “cho điểm” vừa qua, người đứng đầu hai ngành này có số điểm thấp nhất. Tôi nghĩ người ta không hẳn đánh giá thấp hai vị bộ trưởng, mà thật sự người ta thể hiện sự không hài lòng với giáo dục và y tế.

Năm nay, một tin buồn là giáo dục của chúng ta xếp cả sau Campuchia về thứ hạng. Cảm xúc của GS khi nghe tin này ra sao?

Bất cứ so sánh nào cũng cần phải đặt trong bối cảnh và có điểm tham chiếu. Nếu nền giáo dục của Campuchia tốt thì có lẽ chúng ta nên chào đón tin đó như là một tin vui. Không có lí do gì để mặc định rằng nền giáo dục Việt Nam hơn nền giáo dục Campuchia. Thật ra, tôi từng nói rằng tôi không “mặn mà” lắm với những bảng xếp hạng. Bất cứ kết quả xếp hạng nào cũng phụ thuộc vào phương pháp và giả định đằng sau phương pháp. Khi người ta sử dụng các phương pháp khác nhau thì kết quả có thể khác nhau và ngạc nhiên. Khi giả định không đúng thì kết quả có khi chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng kết quả xếp hạng vẫn là một tín hiệu để chúng ta suy nghĩ. Trong trường hợp giáo dục Việt Nam đứng sau cả Campuchia cũng là một tín hiệu cho thấy chúng ta đang ở đâu trong vùng.

Sự yếu kém của nền giáo dục có lẽ được nhận thức rõ khi Bộ Chính trị tỏ ra quyết tâm với sự đổi mới cơ bản về giáo dục. Theo GS, để việc đổi mới giáo dục thành công, yếu tố quan trọng nhất phải là gì?

Yếu tố con người vẫn là yếu tố chính. Bất cứ chính sách nào, bất cứ nghị quyết nào, bất cứ cuộc cải cách nào đều không thể thành hiện thực nếu không có người làm. Nếu chương trình cải cách hoành tráng mà không đủ giáo viên để thực hiện thì chương trình đó cũng chỉ tồn tại trên giấy. Ngoài yếu tố con người ra, tôi nghĩ đến 3 yếu tố khác: chương trình dạy, tham gia của cộng đồng, và đánh giá. Chương trình dạy phải đảm bảo tính khoa học, tức đã qua kiểm định về sự phù hợp với môi trường Việt Nam. Một cuộc cải cách giáo dục nào, nói cho cùng, đều cũng bắt đầu từ đối tượng – tức là học sinh và gia đình. Do đó sự tham gia của cộng đồng và phụ huynh là yếu tố không thể thiếu được để đảm bảo thành công.

Trong quá khứ Việt Nam cũng đã có vài cuộc cải cách giáo dục, nhưng hình như chưa có một tổng kết và phân tích có hệ thống nào về những thành tựu hay thất bại của những cuộc cải cách đó. Ở nước ngoài, bất cứ một chương trình hay chiến lược cải cách nào cũng phải có phần đánh giá. Sẽ rất là vô trách nhiệm nếu hô hào cải cách mà không biết cái đích sẽ đạt được là gì và đến bao giờ thì đạt được cái đích đó.

Theo GS, thế hệ trẻ cần ý thức được thế nào về việc thay đổi tư duy? Nhìn vào lớp trẻ của châu Âu những năm đầu 20, nhìn vào giới trẻ thời cải cách Minh Trị ở Nhật, làm GS liên tưởng đến điều gì?

Tôi nghĩ giới trẻ nên ý thức rằng nước ta là nước nghèo. Mà, nghèo thì hay đi đôi với hèn. Nghèo và hèn thì dễ bị người khác làm nhục. Giới trẻ cần phải nhận thức rõ ràng rằng biên giới và lãnh hải của chúng ta đang bị xâm phạm, và nền văn hóa đang bị đe dọa bởi văn hóa ngoại bang. Do đó, họ cần phải biết và tạo cho mình một căn cước tính Việt Nam. Căn cước tính của một dân tộc được định hình bởi văn hóa và tôn giáo.

Nhưng cá nhân tôi không mấy lạc quan cho thanh niên Việt Nam. Tôi có dịp ghé qua nhiều trường đại học ở Việt Nam, và tôi thấy sinh viên đi học như là đi làm. Sáng đến trường chiều về nhà. Đi chung quanh trường tôi không thấy bất cứ một dấu hiệu (như tờ rơi, áp phích, thông báo, v..v) về sinh hoạt chính trị, xã hội và văn hoá. Sinh viên là thành phần có thể xem là tinh hoa (elite)trong giới thanh niên, mà còn như thế thì chúng ta không kì vọng gì cho cộng đồng thanh niên lớn hơn. Ở nước ngoài, trường đại học là môi trường sinh hoạt chính trị - văn hoá rất năng động, và sinh viên đã hình thành quan điểm cá nhân qua những sinh hoạt đó.

Trong xã hội Việt Nam tôi thấy giới trẻ hiện nay có nhiều nhóm rất đa dạng, nhưng hình như tất cả đều có một mẫu số chung: ít quan tâm đến đất nước. Một nhóm thanh niên có thể xem là elite thì rất năng động (hay nói theo tiếng Anh là rất “worldly”) nhờ vào internet, nhưng số này rất ít. Một số khác đông hơn nhóm elite cũng có học vấn tốt, nhưng họ chẳng quan tâm gì đến tình hình đất nước, thiếu kiến thức về sử và văn hoá, và do đó đầu tư thời gian vào những sở thích tầm thường thời thượng. Một nhóm thì rất nghèo, phần lớn ở nông thôn, họ chẳng có tư duy gì cả ngoài việc kiếm sống qua ngày.

Xin cảm ơn GS

Cám ơn anh. Rất hân hạnh tiếp chuyện cùng anh nhân ngày đầu năm.

Lê Ngọc Sơn