NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nhìn Hàn Quốc nghĩ về khoa học nước nhà - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

Đọc 2 bài này sẽ thấy Hàn Quốc đặt tiêu chuẩn phong giáo sư càng lúc càng giống các nước phương Tây. Thật vậy, tiêu chuẩn 5 bài với tác giả đầu và 10 bài với vị trí đồng tác giả chẳng kém gì so với các đại học trung bình ở Mĩ và Úc. Nhưng các tiêu chuẩn của Hàn Quốc vẫn còn kém so với các đại học hàng Ivy League bên Mĩ hay hàng G8 của Úc, và điều này thì có thể hiểu được. Đối với một quốc gia “đang lên” như Hàn Quốc thì cần phải có thời gian để xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học.

Theo một phân tích các ứng viên thành công trong việc đề bạt chức danh giáo sư y khoa, ở Đại học Harvard, để đề bạt lên cấp assistant professor, ứng viên phải có trung bình 5 công trình (con số thực tế dao động từ 3 đến 17 công trình; cấp associate professor cần 35 công trình (dao động trong khoảng 24-50 công trình); và cấp professor thì trung bình cần 45 công trình (20 đến 61). Ở khoa y của Đại học Duke, một đại học thuộc loại trung bình hay trên trung bình, assistant professor tối thiểu phải có 3 công trình; associate professor cần có trung bình 25 công trình, với 10 bài là tác giả chính; và cấp professor cần phải có trung bình 50 công trình, với 20 công trình là tác giả chính.

Con số công trình khoa học chỉ nói lên năng suất, nhưng xu hướng ngày nay, các hội đồng khoa bảng thường quan tâm đến chất lượng khoa học. Thông thường, hội đồng khoa bảng yêu cầu ứng viên cấp phó giáo sư và giáo sư trình bày 5 hay 10 công trình quan trọng nhất. Chính các công trình này là yếu tố quyết định đề bạt, chứ phần còn lại chỉ để tham khảo như là một chỉ số năng suất khoa học của ứng viên. Những bài “hàng đầu” này thường được đánh giá qua chỉ số trích dẫn, và hệ số ảnh hưởng (impact factor) của tập san. Người làm trong ngành, chỉ cần nghe qua tên tập san mà ứng viên công bố là biết ứng viên thuộc vào hạng nào, giai tầng nào trong ngành.

Mấy năm gần đây thì các hội đồng khoa bảng chuyển sang đánh giá thành tựu nhà khoa học dựa vào chỉ số h, mà tôi đã có dịp giới thiệu trên Tia Sáng trước đây (và ở đây). Theo tác giả của chỉ số này (J. Hirsch) thì ai có chỉ số h khoảng 20 sau 20 năm làm nghiên cứu thì có thể xem là một "successful scientist"; còn "outstanding scientist" có chỉ số h 40 sau 20 năm làm việc; và "truly unique individual" có chỉ số h 60 sau 20 năm miệt mài nghiên cứu. Hirsch còn đề nghị một associate professor (phó giáo sư) nên có chỉ số h khoảng 12, và giáo sư thì nên có chỉ số h từ 18 trở lên. Tuy nhiên, vì khác biệt giữa các ngành khoa học, nên chỉ số này vẫn cần phải điều chỉnh thì mới khách quan hơn.

Hành trình Hàn Quốc trở thành một cường quốc khoa học như ngày nay khởi đầu từ năm 1967, tức hơn 40 năm về trước. Lúc đó (1967), chính phủ lập ra bộ khoa học và công nghệ, với một sứ mệnh là thu hút cho được kiều bào của họ từ nước ngoài về để lập Viện Khoa học và Công nghệ (Korea Institute of Science and Technology -- KIST). Mãi đến thập niên 1980s, nghiên cứu khoa học mới thật sự bắt đầu, và chỉ “cất cánh” trong thập niên 1990s. Năm 2006, số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế là 23,286, chiếm 2.1% tổng “sản lượng” khoa học toàn cầu. Với năng suất này, Hàn Quốc ngày nay đứng vào hàng 13 trên thế giới về năng suất khoa học (sau -- theo thứ tự -- Mĩ, Anh, Đức, Nhật, Trung Quốc, Pháp, Canada, Ý, Tây Ban Nha, Úc, Ấn Độ, và Hà Lan). Đó là một thành tích đáng khâm phục!

Tuy nhiên, về chất lượng khoa học, thì Hàn Quốc vẫn còn kém xa so với các cường quốc Âu Mĩ. Tần số trích dẫn trung bình (sau 5 năm) chỉ 3.2, vẫn còn kém xa so với 6.5 ở các nước Âu Mĩ. Do đó, tuy năng suất khoa học đứng vào hàng 13, nhưng về chất lượng (qua thước đo chỉ số trích dẫn) thì Hàn Quốc đứng hàng 28 trên thế giới. Tuy kém, nhưng vẫn là một vị trí đáng kính nể.

Như đề cập trên, tiêu chuẩn cho chức danh giáo sư của Hàn Quốc tương đương với các nước Âu Mĩ. Vì thế, không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học của các trường hàng đầu như Seoul National University (SNU) chẳng thua gì so với MIT. Năm 2006, SNU “sản xuất” 3,635 công trình, đứng hạng 32 trong các đại học trên thế giới, chỉ sau MIT (3,728 bài) và Ohio State University (3,674 bài), nhưng cao hơn University of British Columbia (3,519) và Northwestern University (3,328). Nói cách khác, các giáo sư Hàn Quốc bây giờ cũng có công trình chẳng kém các giáo sư quốc tế.

Chính phủ Hàn Quốc lúc nào cũng nói rằng sở dĩ khoa học họ thành công như ngày nay là do sự đóng góp to lớn của Hàn kiều trong 3 thập niên qua. Chẳng những Hàn kiều, mà Hàn Quốc còn mở rộng cửa cho các nhà khoa học quốc tịch ngoại quốc vào làm việc trong các đại học và viện nghiên cứu khoa học.

Nhìn sang sự tiến bộ của Hàn Quốc, bất cứ ai quan tâm đến Việt Nam cũng đều nhục, ngậm ngùi và “sốt ruột”. Cũng là người Á châu, cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Tử, cũng chịu khó làm việc, cũng ham học, cũng không đến nổi tối dạ, cũng đất nước chia đôi, mà một nước thì thành cường quốc chỉ sau 30 năm phấn đấu, còn một nước thì vẫn nghèo hàng hạng nghèo nhất thế giới sau 40 năm loay hoay. Nhục là vì ngày nay, chúng ta sang đó làm thuê cho họ, còn phụ nữ ta sang đó làm vợ cho họ để rồi có nhiều trường hợp chết thảm. Ngậm ngùi vì nghĩ rằng Việt Nam cũng có cơ hội trở thành như Hàn Quốc ngày nay, nếu như không có chiến tranh và không phạm phải những sai lầm chính sách sau thời chiến. Sốt ruột là vì đáng lẽ giới “Việt kiều” ở ngoài có thể đóng góp nhiều hơn cho khoa học nước nhà, nhưng với cơ chế và tư duy lãnh đạo hiện nay, thì nhiều người đành phải đứng từ xa “trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

GS TS Nguyễn Văn Tuấn

TB. Hóa ra bên Nhật họ gọi giáo sư là “tiên sinh”. Chà, tôi thích danh xưng này à. Nói đùa thôi, chứ tôi nghĩ nên gọi tên thân mật hơn. Hay như ở nước ta, gọi “Thầy” hay “Cô” là hay nhất; hai chữ “tiên sinh” nghe Hán quá. Hồi ở bên Mĩ, sinh viên vẫn gọi giáo sư một cách kính cẩn là “Professor”. Đến từ Úc, xứ sở của bình đẳng xã hội, tôi cảm thấy không thoải mái với cách gọi của Mĩ, nhưng riết rồi thành quen. Thật ra, mấy năm sau này ở Úc cũng quay sang gọi như Mĩ. Điển hình là các bác sĩ mới ra trường vẫn gọi chúng tôi là “Professor”. Có lần sếp tôi sửa lưng một cô bác sĩ [đại khái]: mày còn danh xưng nào thân mật hơn để gọi chúng tao không? Chị bác sĩ trẻ đó tỏ ra lúng túng và ngạc nhiên khi bị chỉnh sửa như vậy! :-)

Số liệu về khoa học Hàn Quốc tôi trích từ Se Jung-Oh. Academic research in Korea. Nature Materials 2007; 6:707-9. ===

Có 15 công trình quốc tế mới được ứng tuyển giáo sư Đại học

Tại Hàn Quốc, để xét tuyển một ứng viên vào ngạch giáo sư, thông thường các ứng viên phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu sau Tiến sĩ , ít nhất 5 công trình nghiên cứu đã được công bố quốc tế với tên tác giả đầu tiên và 10 công trình đồng tác giả.

Trong một khoa của một trường Đại học, nếu thiếu vị trí cho một môn học nào đó ( thường là sau khi một giáo sư đã nghỉ hưu, hoặc cần mở ra một chuyên ngành mới cho sự phát triển của khoa ) thì khoa sẽ đăng một công báo thông báo rộng rãi để tuyển giáo sư mới và cũng phải qua các giai đoạn như kể trên để trở thành một giáo sư.

Tại Hàn Quốc, để xét tuyển một ứng viên vào ngạch giáo sư ( với chức danh khởi đầu là Assistant Professor ), thông thường các ứng viên phải tốt nghiệp Tiến sĩ và phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu sau Tiến sĩ , đồng thời phải có ít nhất 5 công trình nghiên cứu đã được công bố quốc tế ( với chất lượng cao, SCI ) với tên tác giả đầu tiên để nói nên năng lực tự nghiên cứu của ứng viên và khoảng trên 10 công trình nghiên cứu công bố quốc tế với đồng tác giả để nói lên năng lực hợp tác nghiên cứu của ứng viên.

Những ứng viên đạt được những tiêu chuẩn trên thì sẽ được mời phỏng vấn trực tiếp tại khoa có sự hiện diện của sinh viên sau đại học, các nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ , các giáo sư nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy và nghiên cứu tại khoa để đánh giá năng lực giảng dạy thông qua báo cáo của họ ( Khi được mời các ứng viên đều được tài trợ chi phí đi lại và ăn ở trong thời gian khoảng 3 ngày, cho dù ứng viên ở bất cứ nước nào mà họ đến ).

Sau buổi báo cáo, các thành viên trong hội đồng khoa ( Academic members ) sẽ họp và bỏ phiếu kín để chọn một ứng viên. Quá trình này cũng bàn cãi nảy lửa giữa các giáo sư để chọn người tốt nhất nhưng không ảnh hưởng đến chuyện phe phái trong khoa ( vì hiện tượng loppy cũng khá nhiều ).

Như vậy chúng ta thấy để được đứng vào hàng ngũ giáo sư thì chỉ có những Tiến sĩ thật giỏi đã trải qua thực tế nghiên cứu sau tiến sĩ tại những viện nghiên cứu và trường đại học khác nhau trên thế giới, và có tố chất truyền đạt của một giảng viên thì mới có thể đứng vào hàng ngũ giáo sư.

Chúng ta thấy quy trình này cũng tương tự như trong ứng cử và bầu cử của Quốc hội. Ứng viên Đại biểu Quốc hội phải đi vận động tranh cử những nơi khác nơi làm việc của mình, có như vậy mới tránh sự thiên vị địa phương và cũng là giai đoạn thử thách của ứng viên. Tại sao trong khoa bảng của Việt Nam chúng ta không làm được như vậy?

1/100 Tiến sĩ có thể trở thành giáo sư

Như đã nói trên, để phấn đấu trở thành một thành viên trong ngạch giáo sư là một quá trình phấn đấu khoa học gian khổ, tuy nhiên hầu hết các nhà khoa học trên thế giới không bao giờ gọi nhau bằng Phó giáo sư hay giáo sư trong quan hệ xã hội cũng như trong các hội nghị quốc tế mà từ thường dùng là chỉ là Tiến sĩ ( doctor ) A hay B gì đó thôi. Tuy nhiên khi nói đến tên nhà khoa học đó thì trong giới khoa học sẽ biết họ là ai.

Từ giáo sư chỉ thường sử dụng trong môi trường đại học để sinh viên gọi thầy giáo hay các đồng nghiệp trong trường gọi nhau mà thôi. Ở Hàn Quốc, trong môi trường đại học thì hai tiếng giáo sư (Kyosunim) rất được trân trọng. Trong khi đó ở Nhật Bản thay vì gọi giáo sư, sinh viên gọi giáo sư và đồng nghiệp gọi nhau bằng từ Sensei ( Tiên sinh, tương đương với từ thầy và cô tại Việt Nam ).

Hầu hết các nghiên cứu sinh Tiến sĩ khi được hỏi tương lai muốn làm gì sau khi tốt nghiệp thì hầu hết họ có ước mơ trở thành giáo sư. Tuy nhiên họ nói cũng rất khó vì chỉ có 1/100 TS có thể trở thành giáo sư.

Khi gặp giáo sư trong trường học thì dù giáo sư có chào hỏi hay không họ cũng phải nhìn về giáo sư và cúi đầu chào rất trân trọng. Ngay cả khi đang hút thuốc lá cũng phải giấu đi để chào giáo sư, và khi được giáo sư mời uống rượu trong tiệc tùng hoặc liên hoan thì phải cầm ly 2 tay và khi uống phải xoay mặt đi không được nhìn đối diện mặt thầy, và quan hệ đối xử này giữa thầy và trò duy trì cho đến ngày nay tại Hàn Quốc ( hầu hết nghiên cứu sinh sau Đại học tại Hàn Quốc điều được giáo sư tài trợ kinh phí học tập và sinh hoạ ).

Trong khi đó ở Nhật Bản, những năm gần đây do hầu hết các nghiên cứu sinh Tiến sĩ phải đóng học phí để học và do ảnh hưởng nhiều về phương tây nên khoảng cách giữa giáo sư và học viên không lớn lắm như Hàn Quốc.

Trong xã hội thì sự kính trọng của mọi người đối với giáo sư như thế nào? Tôi kể câu chuyện của tôi để các bạn dễ hiểu hơn. Lần đầu tôi đến Hàn Quốc vào tháng 2/ 2007 để phỏng vấn vị trí của tôi hiện nay, lúc đó visa tôi được cấp là C-2 ( thăm viếng ngắn ngày ).

Đến phi trường Incheon, họ hỏi tôi là người Việt Nam sao lại đến từ Nhật Bản ? Ai bảo lãnh và sống ở đâu, mấy ngày thì về và nói chung họ có một cái nhìn rất coi thường. Cũng với cuốn hộ chiếu đó ( hộ chiếu Việt Nam ), nhưng khi tôi đi ra vào Hàn Quốc với visa dành cho giáo sư (E1) thì các nhân viên làm thủ tục xuất nhập cảnh rất nhỏ nhẹ và khi nào cũng trả lại hộ chiếu cho tôi bằng 2 tay ( ở Hàn Quốc, chỉ có những giáo sư chuyên ngành mới được cấp visa E1, còn với những giáo sư dạy ngoại ngữ và lịch sử thì được cấp visa E2, và người nghiên cứu là E3 ).

Như vậy tôi càng hiểu thêm, chiếc áo cà sa không làm nên thầy tu và không phải cầm hộ chiếu Việt Nam là bị coi thưòng như một số người đã lầm tưởng, vấn đề chính để mọi người tôn trọng là Anh là ai?

Qua câu chuyện đó cho ta thấy xã hội Hàn Quốc rất tôn sư trọng đạo, cho dù anh làm gì đi nữa thì anh cũng có một thời là học sinh, và chính thầy anh đã chỉ dạy để anh đạt được công việc bây giờ. Con em của các giáo sư rất tự hào khi nói cha mẹ họ là giáo sư, và lương giáo sư tại Hàn Quốc là thuộc hàng trung lưu trong xã hội ( tại Nhật Bản, mức lương cao hơn một chút ).

Tôi cũng mong rằng học sinh và sinh viên Việt Nam chúng ta cũng như toàn xã hội phải tôn vinh người thầy giáo về cả tinh thần và vật chất. Tuy nhiên trước tiên tự mỗi người thầy phải tự nhìn lại bản thân mình để phấn đấu, và phấn đấu suốt đời thì mới mong nhận được quả ngọt.

TS Nguyễn Văn Thuận

Thiếu công trình công bố quốc tế, bằng Tiến sĩ vô giá trị

Đối với các Tiến sĩ (TS) tốt nghiệp mà không có công trình nghiên cứu nào được công bố quốc tế, hầu hết là họ làm những việc bình thường trong các công ty không liên quan đến nghiên cứu khoa học, và cũng chẳng có ai gọi họ là Tiến sĩ.

LTS : Chất lượng giáo dục đại học đang là vấn đề được dư luận Việt Nam hết sức quan tâm. TS Nguyễn Văn Thuận, Giảng viên Khoa công nghệ sinh học động vật tại Đại học Kiến Quốc (Konkuk), Seoul, Hàn Quốc cho rằng, về sự thất bại của giáo dục, vấn đề đầu tiên phải đi sâu phân tích nguyên nhân là Người Thầy. Ông đã gửi tới Bee loạt bài về Người Thầy trong môi trường giáo dục Đại học nhìn từ Nhật Bản và Hàn Quốc.

Để trở thành một Tiến sĩ tại Nhật Bản và Hàn Quốc

Thông thường chương trình Tiến sĩ tại các nước này kéo dài 3 năm ( dĩ nhiên là phải có 2 năm để hoàn thành luận văn Thạc sĩ trước đó trong cùng một chuyên ngành ). Nếu các nghiên cứu sinh Tiến sĩ trong thời gian học có 5 công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế thì họ có quyền xin tham gia bảo vệ luận án Tiến sĩ chỉ trong 2 năm. ( Trường hợp này rất ít và chỉ có những nghiên cứu sinh Tiến sĩ được làm luận án Tiến sĩ trong những Viện nghiên cứu danh tiếng và trong những nhóm khoa học gia danh tiếng về khoa học thì mới có thể đạt được ).

Nếu có được 2-3 công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí quốc tế thì họ có thể bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ trong 3 năm. Trên đây là những Tiến sĩ tốt nghiệp với thành tích xuất sắc ( tương đương với chuẩn mực quốc tế ). Tuy nhiên cũng tùy theo yêu cầu của từng khoa và từng bộ môn trong trường.

Trong thời gian gần đây, việc công bố các bài báo trong tạp chí quốc tế trở nên khó khăn hơn cho nên một số Khoa và bộ môn giảm xuống đến mức tối thiểu là có một bài báo đã được công bố trên tạp chí quốc tế và một công trình nghiên cứu đang đệ trình để công bố.

Một lý do nữa là đề tài đăng ký Tiến sĩ chỉ có giá trị trong 6 năm, nếu không tốt nghiệp được thì phải xóa bỏ và làm mới. Do đó có những nghiên cứu sinh sau 5-6 năm mà không thể công bố một công trình nào thì bất đắc dĩ buộc giáo sư hướng dẫn cho họ tốt nghiêp với 0 công trình nghiên cứu. Thường thì những Tiến sĩ này rất khó có cơ hội xin việc liên quan đến nghiên cứu và dĩ nhiên trường đại học không bao giờ nhận loại Tiến sĩ này để làm nghiên cứu sau Tiến sĩ ( Postdoctoral ).

Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, khi xét đơn xin việc của một Tiến sĩ vào một vị trí trong công ty hoặc cơ sở nghiên cứu, người ta chỉ quan tâm đến Tiến sĩ tốt nghiệp mấy năm, 2-3 năm thì tốt nếu 4-6 năm có nghĩa công trình nghiên cứu ít hoặc không có. Như vậy bằng Tiến sĩ hoàn toàn không có giá trị khi nghiên cứu sinh tốt nghiệp Tiến sĩ với 0 bài báo quốc tế với tên tác giả đứng đầu tiên ( First author ).

TS tốt nghiệp yếu không có cơ hội tiếp tục nghiên cứu khoa học

Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ, nếu ứng viên nào có từ 2-4 bài báo quốc tế đều có mong muốn tiếp tục làm nghiên cứu sau Tiến sĩ ( Postdoctoral ) và sẽ được giáo sư của họ hoặc các cơ sở nghiên cứu khác mời nghiên cứu sau Tiến sĩ.

Đối với các Tiến sĩ tốt nghiệp dạng yếu kém như kể trên ( không công trình nghiên cứu được công bố quốc tế ) thì hầu hết là họ làm những việc bình thường trong các công ty không liên quan đến nghiên cứu khoa học, và cũng chẳng có ai gọi họ là Tiến sĩ cho dù họ có mảnh bằng Tiến sĩ.

Một thí dụ rất rõ mà các nghiên cứu sinh Tiến sĩ của Việt Nam khi du học tại Nhật Bản ( và các nước khác trên thế giới ) điều biết sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ và có công trình công bố trên các tạp chí quốc tế đều được giáo sư hướng dẫn xin học bổng để làm nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ ( ở Nhật thì hầu hết nhận được học bổng JSPS, của bộ Giáo dục và Đào tạo Nhật Bản ).

Còn các nghiên cứu sinh Tiến sĩ tốt nghiệp Tiến sĩ nhưng không có báo quốc tế thì cho dù giáo sư hướng dẫn ưu ái mấy cũng sẽ không bao giờ nhận được học bổng nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ. Như vậy chúng ta phải hiểu rằng một Tiến sĩ thật sự trong nghiên cứu khoa học là một Tiến sĩ có các công trình công bố quốc tế với tên tác giả đầu tiên chứ không phải là những người được cấp bằng Tiến sĩ.

Thông thường thì những Tiến sĩ khá giỏi sẽ thích đi làm nghiên cứu sau Tiến sĩ tại các trường và Viện nghiên cứu khác nơi họ đã tốt nghiệp Tiến sĩ để nâng cao khả năng tự nghiên cứu của mình, và hầu hết giáo sư hướng dẫn của họ cũng khuyến cáo như vậy hơn là làm nghiên cứu sau Tiến sĩ tại chỗ đã tốt nghiệp Tiến sĩ.

Vì như vậy họ sẽ học được những đều mới so với nơi họ làm luận án Tiến sĩ và cũng là một cách để khẳng định được sự độc lập trong hướng nghiên cứu của mình. Trong khi đó nếu họ vẫn cứ tiếp tục làm nghiên cứu sau Tiến sĩ tại nơi họ đã làm luận án Tiến sĩ thì sẽ rất khó cho con đường phát triển khoa học trong tương lai sau này của họ.

Và 4-6 năm để trở thành giáo sư

Trên thế giới nói chung có 2 hệ thống khoa bảng cho học hàm của hệ thống giáo dục. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai đại diện của hai mô hình này.

1. Với các nước theo hệ thống khoa bảng của Pháp ( Nhật Bản cũng theo hệ thống này ), là trong một phòng thí nghiệm có cả giảng viên ( lecture ), giáo sư dự khuyết ( Assitant Professor ), Phó giáo sư ( Associate Professor ) và giáo sư ( full-professor ) và luôn phụ thuộc vào giáo sư ( trưởng phòng thí nghiệm ). Chỉ khi nào vị giáo sư này về hưu thì Phó giáo sư mới được phong giáo sư.

Cho nên có một câu chuyện vui trong giới khoa học Nhật Bản là tin vui lớn nhất của một Phó giáo sư là khi buổi sáng đọc báo thấy có đăng tin cáo Phó giáo sư qua đời. Tuy nhiên hệ thống khoa bản này có rất nhiều điểm yếu là không kích thích sự vươn lên và cạnh tranh của các Phó giáo sư trong khoa học vì vẫn còn quan điểm sống lâu lên lão làng, đồng thời tạo ra sự lười biến học hỏi và ỷ lại của vị giáo sư đứng đầu đối với những ngưòi phụ tá.

Vì nếu như các Phó giáo sư và giáo sư chỉ hơn nhau dưới 10 tuổi thì khi vị giáo sư về hưu ( 63-65 ) thì các Phó giáo sư khi được thay thế và phong giáo sư thì cũng đã gần đến tuổi hưu. Hiện nay Nhật Bản cũng đang đổi mới để phá bỏ cơ chế này.

2. Với các nước theo hệ thống của Mỹ ( trong đó có Hàn Quốc ) thì giáo sư dự khuyết, Phó giáo sư và giáo sư không phụ thuộc vào nhau và nghiên cứu độc lập. Tuy nhiên khi mới nhận vào sẽ có thử thách thông qua các bước sau.

Học hàm được phong đầu tiên là Assistant Professor ( tạm dịch là giáo sư dự khuyết ) và được thử thách trong 4 năm. Trong 4 năm đó nếu (A) việc giảng dạy tốt ( được sinh viên đánh giá từ khá trở lên ), (B) nghiên cứu tốt (phải có vài công trình công bố quốc tế với tác giả đầu tiên ( first author ) hoặc là tác giả chịu trách nhiệm về khoa học của công trình công bố ( Corresponding author ), (C) kêu gọi được các dự án khoa học và (D) hoạt động xây dựng trường khoa tốt thì sẽ được xét lên Associate Professor ( tạm dịch Phó giáo sư ). Trong đó hai chỉ tiêu A và B là quan trọng nhất.

Giai đoạn thử thách của Phó giáo sư khoảng 4-6 năm tùy theo mỗi trường đại học. Trong thời đó nếu cũng đạt những thành tích giảng dạy từ khá trở lên và nghiên cứu cũng có nhiều công trình công bố quốc tế thì sẽ được xét lên Professor.

Tuy nhiên 2 năm đầu của Professor cũng phải chịu thử thách, nếu cũng vượt qua với những thành tích khá giỏi trong giảng dạy và nghiên cứu như trên thì sẽ trở thành full Professor.

Như vậy để trở thành một giáo sư thực thụ thì các nhà khoa học phải phấn đấu liên tục trong khoa học khoảng 15-16 năm sau khi đã tốt nghiệp Tiến sĩ ( 5 năm nghiên cứu sau Tiến sĩ, 4 năm Assistant Professor, 5 năm Associate Professor và 2 năm thử thách Professor ), và số công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế trong chuyên ngành phải trên 50 ( khoảng trên 20 bài với tác giả đầu tiên, trên 30 bài với dạng cộng tác viên ( Co-author ) hoặc chịu trách nhiệm khoa học chính trong bài báo ( Correspondence author ).

TS Nguyễn Văn Thuận, tốt nghiệp Ph.D tại Đại học Kobe vào năm 2002. Sau đó làm nghiên cứu sau Tiến sĩ tại Viện Công nghệ Sinh học (CDB), thuộc Viện RIKEN Nhật Bản từ năm 2002-2007. Từ tháng 3 năm 2007 đến nay, TS Nguyễn Văn Thuận giảng dạy tại Khoa công nghệ sinh học động vật tại Đại học Kiến Quốc (Konkuk), Seoul, Hàn Quốc.

Chuyên ngành nghiên cứu Tế bào gốc, tế bào giao tử và công nghệ dược phẩm tái tạo ( Stem cells, Germ cells and regenerative biomedicine ). Giảng dạy các môn học về: tế bào gốc, biệt hóa tế bào, nhân bản vô tính và ứng dụng, kỹ thuật công nghệ sinh học sinh sản cho chương trình MSc và Ph.D. Đảm nhiệm các môn học Developmental Biology, Reproductive Biotechnology, Physiology of Reproduction cho học sinh đại học.

TS Nguyễn Văn Thuận hiện là Chủ tịch của Hiệp hội Công nghệ Sinh học Sinh sản Châu Á.