NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nhu Cầu Về Tri Thức : Vấn Đề Lớn ở Việt Nam

Kinh tế Việt-Nam phát triển nhanh trong 15 năm vừa qua. Tuy nhiên theo nhiều tiêu chuẩn phổ quát, chính sách kinh tế của Việt-Nam còn nhiều khiếm khuyết, mà hậu quả là Việt-nam tụt hậu so với các nước láng giềng và vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Bài thuyết trình của GS Thomas Valley dưới đây có cùng một nhận xét này. Sau đây là 11 chủ điểm của bài thuyết trình. Chúng vẽ lên một bức tranh khá bi quan về tương lai của kinh tế Việt-Nam. Tất cả hầu như bắt nguồn từ cái nhìn sai lầm của những nhà lãnh đạo về một chính sách phát triển kinh tế quân bình và bền vững.

1. Nhu cầu hiện tại về tri thức ở Việt-Nam còn yếu. Sinh viên chủ yếu coi bằng cấp là bàn đạp để có một việc làm trong khu vực kinh tế quốc doanh. Tuy nhiên những nhân tài hàng đầu được đào tạo ở nước ngoài hiện không xếp hàng xin làm việc cho các doanh nghiệp quốc doanh.

2. Nếu những xu hướng hiện nay không thay đổi, các nghiên cứu sinh đang tu nghiệp ở nước ngoài sẽ không tìm được cơ hội để phát huy đầy đủ tài năng của họ ở Việt-Nam.

3. Việt-Nam là một trong số những quốc gia duy nhất trên thế giới mà trong đó tỷ lệ phần trăm vốn được phân bổ cho khu vực nhà nước đang tăng lên. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi không phải vì thiếu nguồn lực mà khu vực nhà nước suy giảm. Nhà nước tiếp tục nâng đỡ các công ty quốc doanh với chi phí lớn. Những công ty này không thể cạnh tranh trong các thị trường mở và không có sáng kiến tốt để sử dụng lực lượng tri thức một cách hiệu quả.

4. Những lo ngại thực tế liên quan tới việc phân bổ, sử dụng vốn từ một đợt phát hành trái phiếu gần đây. Thị trường trái phiếu và cổ phiếu được sử dụng như một chiếc phanh kìm hãm tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân, chứ không phải là một cách phân phối vốn hiệu quả. Nếu một khu vực mới mở ra, đó sẽ là những công ty có thể được vay vốn và đây là những công ty nhà nước hoặc những công ty ''tư nhân'' được ưu đãi cao, có mối liên hệ mật thiết mới những người đang nắm quyền.

5. Việt-Nam ngày càng tụt hạng trong bảng xếp hạng tham nhũng, cùng với hệ thống luật pháp còn nhiều vấn đề và thậm chí là lộn xộn. Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế. VN cùng với Indonesia và Philippines gia nhập vào nhóm các nước có tình hình tham nhũng tồi tệ hơn trong khi Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc đều được nâng hạng.

6. Hệ thống tài chính lành mạnh phát triển chậm chạp.

7. Luật đầu tư thay đổi thụt lùi, quay trở lại với phương pháp tiếp cận từng dự án, thay vì đăng ký đơn giản. Việc sửa đổi luật đầu tư gần đây cho thấy gió đang thổi sai hướng.

8. Những vấn đề liên quan tới cổ phần hoá và đầu tư của nhà nước cho thấy nhà nước tiếp tục quan tâm tới việc tạo ra sự công nghiệp hoá dựa vào nhà nước. Điều đó sẽ làm cho khu vực tư nhân hiệu quả hơn thiếu vốn và giới hạn khu vực này chủ yếu ở những doanh nghiệp có quy mô nhỏ với khả năng cạnh tranh hạn chế trong các thị trường quốc tế.

9. Nhiều ''điều kiện nhượng bộ'' mà Việt-Nam chống lại sẽ làm giảm tình trạng độc quyền về dịch vụ và hạ thấp chi phí ở Việt-Nam. Do đó làm cho VN cạnh tranh và xuất khẩu dễ dàng hơn.

10. Việt-Nam sẽ phải ''leo lên chiếc dây giá trị gia tăng'', chứ không chỉ là một nguồn lao động rẻ và hiệu quả.

11. Theo Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (World Economic Forum – WEF) thứ hạng của Việt-Nam về khả năng cạnh tranh tăng trưởng cũng đáng thất vọng, chỉ tăng lên được một nấc từ năm 2001 tới 2005. Căn cứ vào việc trong suốt thời kỳ đó, nhiều nước châu Phi cũng được đưa vào xếp hạng và Indonesia, Malaysia và Thái Lan đều lên được hai, ba nấc thì rõ ràng VN đang thụt lùi.

NHU CẦU HIỆN TẠI VỀ TRI THỨC Ở VIỆT-NAM : YẾU

Tôi đặc biệt quan tầm tới hệ thống giáo dục đại học Việt-Nam trong nhiều năm qua. Chắc một số bạn cũng đã rõ, 6 tháng vừa rồi, tôi đã phần nào được biết đến nhiều ở Việt-Nam thông qua bình luận về các chiến lược xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế.

Về bản chất, cải thiện giáo dục đâi học ở Việt-Nam liên quan tới việc tạo ra nguồn cung cấp kiến thức. Cung cấp các nhà khoa học và kỹ sư là một điều gì đó mà mọi người trong hệ thống đều hiểu. Cần nhiều nỗ lực, thời gian và tiền bạc mới thành lập được một cơ sở nghiên cứu và đào tạo sinh viên ở trình độ cao. Vai trò của nhà nước trong việc thành lập các cơ sở giáo dục và nghiên cứu hiệu quả rất khó khăn. Tuy nhiên, nhìn rộng ra, sẽ thấy thêm một vấn đề khác: Ngay cả khi thành lập thêm nhiều những cơ sở như thế, các nhà khoa học có trình độ sẽ chỉ trở về hoặc ở lại một quốc gia nơi cần tới và trọng dụng trình độ, kiến thức của họ. Khi những nghiên cứu sinh của Vietnam Education Foundation (nghiên cứu sinh VEF ) học xong, hoàn toàn xác đáng khi xem xét môi trường mà mình sẽ trở về.

Tôi gọi vấn đề này là nhu cầu về tri thức. Thực ra, tôi muốn nói gì khi dùng cụm từ này? Nền kinh tế của một quốc gia tạo ra nhu cầu về người tài và sáng kiến của họ. Việc thị trường thưởng công cho những người tài và người có giáo dục lại tạo ra nhu cầu học tập của mọi người. Đương nhiên, đây là vấn đề con gà và chất lượng trứng. Rõ ràng, người ta không tìm thấy các trường Đại Học đẳng cấp quốc tế ở những nơi có nền kinh tế kém phát triển. Còn các nước phát triển lại có ít nhất một vài trường như thế.

Đối với chúng ta, những người theo sát VN, nhu cầu hiện tại về tri thức ở VN còn yếu. Giáo sư tại các trường đại học hàng đầu ở Hà Nội tin rằng sinh viên chủ yếu coi bằng cấp là bàn đạp để có một việc làm trong khu vực kinh tế quốc doanh.

Tình trạng thiếu nhu cầu về tri thức khuếch đại những vấn đề tồn tại bấy lâu trong hệ thống giáo dục ĐHVN. Do có quá ít nhu cầu đối với những nhân tài thực sự và thành tích học tập chẳng quan trọng bằng các mối quan hệ, bằng cấp bị mất giá trị. Tiêu cực ngày càng tràn lan trong nhà trường. Không chỉ có vậy, người sử dụng lao động tại TP.HCM thường phàn nàn, cử nhân ra trường hiện không làm đúng ngành nghề họ theo học.

GS Malcom Gilis, cựu Chủ tịch Đại Học Rice, thành viên của Hội đồng quản trị của VEF, là một chuyên gia quốc tế lão luyện về mối quan hệ giữa khoa học và sáng tạo. GS Gillis giải thích với tôi rằng đa số những sáng chế kỹ thuật tiên tiến nhất bắt nguồn từ các ngành khoa học cơ bản.

Tôi đề cập tới điều này vì trong khi xem xét những nghiên cứu sinh (NCS VEF) hiện nay, có một điểm nổi bật: 70% nghiên cứu sinh đang nghiên cứu khoa học máy tính và kỹ thuật điện cũng như các lĩnh vực kỹ thuật khác. Rõ ràng, sinh viên đang chọn nghiên cứu những ngành mà trước mắt có nhu cầu. Đây chỉ là quan sát, không phải sự chỉ trích. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa VEF hiện chưa tìm được những người giỏi trong các lĩnh vực vật lý, sinh học và hoá học. Với mục tiêu cải thiện nền khoa học ở VN, đây là một tình thế khó xử đối với VEF và tình thế này không có câu trả lời dễ dàng. Hoàn toàn tự nhiên khi chọn những người giỏi nhất và hoàn toàn tự nhiên khi sinh viên theo học những chuyên ngành nơi có nhiều việc làm tốt.

Tuy nhiên, Việt-Nam sẽ cần nhiều nhà vật lý học, sinh học và hoá học nếu thiết lập một trường ĐH đẳng cấp quốc tế và trở thành một bộ phận của hệ thống khoa học toàn cầu. VEF có lợi thế hơn so với nhiều nhóm khác trong việc giải quyết điều này và nên xem xét kỹ vấn đề này. Theo quan điểm của riêng tôi, trong ngắn hạn, cách duy nhất để xây dựng năng lực nghiên cứu cao học trình độ cao trong những ngành khoa học này là đầu tư đào tạo các sinh viên khoa học ở nước ngoài.

GS Chung Kim có nói với tôi rằng, ngay cả các nghiên cứu sinh khoa học của Đại Học Quốc Gia Seoul cũng gặp khó khăn khi cạnh tranh trong các chương trình khoa học dành cho nghiên cứu sinh ở Mỹ do trường thiếu năng lực. Những điểm yếu trong đào tạo các sinh viên khoa học ở Việt-Nam còn nghiêm trọng hơn và cần được giải quyết, song sẽ không thể giải quyết nhanh. Tạo ra những tiến sĩ khoa học tài giỏi đòi hỏi phải có hệ thống giáo dục khoa học tốt dành cho sinh viên.

TẠO RA NHU CẦU TRI THỨC

Giờ, tôi xin trở lại với thiếu nhu cầu tri thức ở VN hiện nay.

Xin bắt đầu với quan sát: môi trường thúc đẩy nhu cầu sáng tạo hầu như là trách nhiệm của nhà nước vì nó đòi hỏi rất nhiều chính sách phức tạp về những vấn đề đa dạng. Chẳng hạn như giáo dục, tài chính, luật pháp và chăm sóc y tế.

Những người quen thuộc với thành tích phát triển kinh tế gần đây của VN có thể hỏi tại sao nhu cầu lại là một vấn đề.

Thử hỏi, có bao nhiêu quốc gia khác đạt được tốc độ tăng trưởng của Tổng Sản Phẩm Nội Địa (Gross Domestic Product - GDP) 8% hoặc xuất khẩu trên 20%? Đói nghèo đang giảm khi nhiều doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp 2000. Đầu tư nước ngoài (foreign direct Investment – FDI) đang tăng tới mức ngay cả Thái Lan cũng phải lo ngại. Hầu hết, các nước khác sẽ từ bỏ nhiều thứ để có được thành tích kinh tế này.

Cũng có thể vẽ một bức tranh nền kinh tế VN và những triển vọng ngắn hạn của nó. Chắc chắn, sẽ ít màu hồng. Ngay bây giờ, tôi muốn giới thiệu với quý vị một bức tranh như thế và gợi ý rằng những người quan tâm tới nền khoa học VN nên lo lắng vì bức tranh nêu lên những câu hỏi nghiêm túc về việc liệu các nghiên cứu sinh đang tu nghiệp ở nước ngoài có tìm được cơ hội để phát huy đầy đủ tài năng của họ ở VN hay không. Nếu những xu hướng hiện nay không thay đổi, tôi sợ là họ sẽ không tìm được.

Tôi biết, một số người sẽ coi nhận định này là quá bi quan. Một người bạn tốt - một quan chức cấp cao VN - từng nói với tôi rằng, nếu là bạn tốt của VN thì phải phê phán VN. Tôi tin có rất ít sự phê bình mang tính xây dựng liên quan tới chính sách và thành tựu kinh tế xã hội của VN, cả ở trong nước lẫn nước ngoài. Trên tinh thần đó, tôi xin trình bày phần phê bình dưới đây.

Một phần thành tựu kinh tế của VN đáng được xem xét kỹ hơn - tỷ lệ tăng trưởng sản lượng công nghiệp. Các nhà kinh tế lưu ý rằng bất kỳ khi nào khu vực tư nhân (hiện đang tăng trưởng nhanh gấp 2 lần khu vực nhà nước) tiến gần tới khu vực nhà nước về giá trị, có sự suy giảm đột ngột và không thể giải thích được về giá trị của khu vực tư nhân. Điều này làm người ta kết luận rằng, đó không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu dùng dữ liệu sản lượng công nghiệp năm 2003 làm cơ sở thì sẽ thấy chưa tới 1/5 tăng trưởng công nghiệp tới từ các doanh nghiệp quốc doanh.

Điều này mô tả rõ ràng rằng khu vực nhà nước không còn đóng ''vai trò dẫn đầu'' trong nền kinh tế VN. Chiếm một phần nhỏ trong tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp, tạo việc làm và xuất khẩu nên chỉ khi tiếp tục thu hút được lượng vốn lớn thì khu vực này mới đóng vai trò lớn.

Quả thực, VN là một trong số những quốc gia duy nhất trên thế giới mà trong đó tỷ lệ phần trăm vốn được phân bổ cho khu vực nhà nước đang tăng lên. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi không phải vì thiếu nguồn lực mà khu vực nhà nước suy giảm. Tôi cho rằng tiếp tục nói về ''vai trò dẫn đầu'' đối với khu vực nhà nước là bỏ qua thực tế và làm ảnh hưởng tới tương lai.

Năm vấn đề "kinh khủng"

Giờ, chúng ta hãy xem xét một số xu hướng không hỗ trợ một triển vọng xán lạn:

1. Những lo ngại thực tế liên quan tới việc phân bổ, sử dụng vốn từ một đợt phát hành trái phiếu gần đây

2.Ngày càng tụt hạng trong bảng xếp hạng tham nhũng, cùng với hệ thống luật pháp còn nhiều vấn đề và thậm chí là lộn xộn.

3.Sự phát triển chậm chạp của một hệ thống tài chính lành mạnh.

4. Những thay đổi mang tính thụt lùi đối với luật đầu tư, quay trở lại với phương pháp tiếp cận từng dự án, thay vì đăng ký đơn giản.

5.Những vấn đề liên quan tới cổ phần hoá và đầu tư của nhà nước. Hai vấn đề này cho thấy tiếp tục có sự quan tâm tới việc tạo ra sự công nghiệp hoá dựa vào nhà nước. Điều đó sẽ làm cho khu vực tư nhân hiệu quả hơn thiếu vốn và giới hạn khu vực này chủ yếu ở những doanh nghiệp có quy mô nhỏ với khả năng cạnh tranh hạn chế trong các thị trường quốc tế.

Làm sao mà các kết quả lại tốt đến vậy và các vấn đề lại kinh khủng tới vậy? Về cơ bản, VN đang nằm ở trung tâm của một ''cơn bão hoàn hảo'' gồm những yếu tố kinh tế thuận lợi. Hầu hết những yếu tố này nằm ngoài khả năng kiểm soát của nhà nước. Giá dầu cao, giá các nguyên vật liệu khác cũng tăng mạnh. Sự thay đổi về địa chính trị (chẳng hạn như do lo ngại về Trung Quốc) đã đẩy các nhà đầu tư Nhật và Đài Loan tới VN. Viện trợ lên tới hàng nhiều tỷ đôla mỗi năm. Lượng kiều hối (chỉ tính riêng số tiền chuyển chính thức qua ngân hàng) đạt gần 4 tỷ đôla. Nếu chúng ta cộng ODA, nguồn thu từ dầu mỏ, FDI và kiều hối, chúng ta có tổng cộng trên 15 tỷ đôla hay 30% GDP. Nếu khoản tiết kiệm từ nguồn thu phi dầu mỏ là 10-15%, chúng ta sẽ có nguồn lực trên 40% GDP.

Việt Nam thiếu la bàn

Chính phủ VN không thể kiểm soát được cơn bão hoàn hảo này. Tuy nhiên, Chính phủ có thể kiểm soát môi trường chính sách. Tôi cho rằng những vấn đề nêu ra ở trên ngụ ý về chính sách tồi. Nó cho thấy VN thiếu la bàn, nghĩa là những phân tích để thúc đẩy tiến trình chính sách. Xem xét sơ qua về các vấn đề kinh tế hiện nay sẽ làm sáng tỏ tại sao tôi lại nói như thế.

Thứ nhất, hãy xem xét câu chuyện VN nỗ lực gia nhập WTO. Nói thẳng là ở đây, cả 2 bên đều thiếu kỹ năng. Mỹ khăng khăng tiếp tục duy trì hệ thống hạn ngạch dệt may cũ như một điều kiện gia nhập WTO. Điều này hoàn toàn sai. VN chỉ chiếm chưa tới 3% hàng nhập khẩu dệt may vào Mỹ và không phải là mối đe doạ lớn đối với ngành dệt may của Mỹ. Trung Quốc chiếm gần 30% song các nước châu Á khác còn ít hơn nhiều (Ấn Độ dưới 6%) và không nên bị loại trừ. Thế nhưng, VN lại thất bại trong các cuộc đàm phán. Thậm chí, VN còn chưa đưa ra được một đề xuất toàn diện trên bàn đàm phán và đang cố duy trì một hệ thống theo kiểu áp dụng dần dần. Giờ thì chắc chắn rằng con đường gia nhập WTO sẽ khó khăn hơn trong những năm tới.

Thật mỉa mai thay khi nhiều ''điều kiện nhượng bộ'' mà VN chống lại sẽ làm giảm tình trạng độc quyền về dịch vụ và hạ thấp chi phí ở VN, do đó làm cho VN cạnh tranh và xuất khẩu dễ dàng hơn. Người ta có thể cho rằng thất bại trong việc gia nhập WTO và những khó khăn kinh tế phát sinh từ thất bại này cuối cùng có thể trở thành chất xúc tác mạnh cho cải cách. Nếu đúng như vậy thì khoảng thời gian chưa vào được WTO sẽ cản trở các loại đầu tư mà chắc chắn sẽ cần các chuyên gia công nghệ cao. Tóm lại, đó là một cơ hội bị mất - nhượng bộ những quyền lợi đặc biệt và không nhận thức được quyền lợi lâu dài của bản thân.

Thứ hai, gần đây có đợt phát hành trái phiếu quốc tế 750 triệu đôla. Đợt phát hành này rất đắt hàng và một số người đang ca ngợi đây là một dấu hiệu cho thấy VN đang gia nhập vào câu lạc bộ các nước lớn. Có thể đúng như vậy. Song có một câu hỏi: người ta đang chơi trò chơi gì?

Toàn bộ số tiền này được dành để cho tổng công ty đóng tàu quốc doanh Vinashin vay. Công ty đóng tàu tư nhân ABG của Ấn Độ đang xây dựng một xưởng đóng tàu mới, cỡ lớn. Xưởng này sẽ có khả năng đóng những con tàu 120.000 tấn, đóng tám con tàu cùng một lúc. Xưởng đóng tàu hiện đại đó sẽ chi phí chưa tới 100 triệu đôla.

Ngay cả khi chi phí cho một xưởng đóng tàu tương tự ở VN cao hơn 50%, chúng ta có 600 triệu đôla không được giải thích. Tăng cường quyền lợi mà ít quan tâm tới hiệu quả sẽ không tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế VN và cuối cùng sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng những công nhân lành nghề, thậm chí là một số được sử dụng trong dự án này.

Nhân tài hàng đầu không xếp hàng xin việc ở quốc doanh

Vậy VN không thể thành công chỉ bằng cách xây dựng một khu vực xuất khẩu hiệu quả hay sao? Điều đó còn phụ thuộc vào FDI và sự tăng trưởng của các nhà cung cấp có nhiều khả năng hơn. Nói như giới chuyên môn thì VN sẽ phải ''leo lên chiếc dây giá trị gia tăng'', chứ không chỉ là một nguồn lao động rẻ và hiệu quả.

Làm điều đó, cần có môi trường kinh doanh tốt. Tuy nhiên, hạng tham nhũng của Việt Nam đã giảm từ năm 1997 tới 2005, theo Tổ chức Minh bạch quốc tế. VN cùng với Indonesia và Philippines gia nhập vào nhóm các nước có tình hình tham nhũng tồi tệ hơn trong khi Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc đều được nâng hạng.

Tương tự, thứ hạng của VN về khả năng cạnh tranh tăng trưởng (theo diễn đàn kinh tế thế giới) cũng đáng thất vọng, chỉ tăng lên được một nấc từ năm 2001 tới 2005. Căn cứ vào việc trong suốt thời kỳ đó, nhiều nước châu Phi cũng được đưa vào xếp hạng và Indonesia, Malaysia và Thái Lan đều lên được hai, ba nấc thì rõ ràng VN đang thụt lùi.

Hãy nghĩ về hệ thống pháp luật. Có tin đồn VN đã mất nhiều cơ hội đầu tư ở lĩnh vực công nghệ cao do các nhà đầu tư lo ngại về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Liệu Intel hay Microsoft sẽ đầu tư nghiêm túc vào một nơi như thế? Điều đó có thể. Song, nếu VN có một thị trường nội địa lớn như Trung Quốc. Đáng tiếc là GDP của VN chỉ bằng 50% của Singapore.

Về môi trường luật pháp u ám thì ít ra các công ty trong nước có thể đối phó được, mặc dù rất khó khăn. Một vấn đề nữa là không thể có tiền để mở rộng. Do các ngân hàng quốc doanh chi phối hệ thống ngân hàng và không muốn cho các công ty tư nhân vay tiền mà không có thế chấp chắc chắn nên các công ty tư nhân hiệu quả ít có cơ hội để mở rộng, ngoại trừ thông qua lợi nhuận giữ lại.

Thị trường trái phiếu và cổ phiếu được sử dụng như một chiếc phanh kìm hãm tốt độ tăng trưởng của khu vực tư nhân, chứ không phải là một cách phân phối vốn hiệu quả. Nếu một khu vực mới mở ra, đó sẽ là những công ty có thể được vay vốn và đây là những công ty nhà nước hoặc những công ty ''tư nhân'' được ưu đãi cao, có mối liên hệ mật thiết mới những người đang nắm quyền.

Loại công ty này chắc chắc không thể cạnh tranh thực sự và cũng không thể bắt đầu đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, hoặc thậm chí vay mượn công nghệ theo một cách sẽ giúp VN tạo ra con đường riêng, hướng tới năng suất cao hơn. Sự tăng trưởng rất nhanh về tín dụng có lẽ cũng không phải là ngoại lệ mà là cho các doanh nghiệp nhà nước vay nhiều hơn.

Như vậy, đối với các ngành sử dụng nhiều tri thức thì điều này chẳng có gì là tích cực về mặt dài hạn. Chỉ mới một nhóm nhỏ các công ty sở hữu 50 triệu đôla tiền vốn hoặc nhiều hơn, người ta sẽ hỏi: các công ty có khả năng cạnh tranh quốc tế ở đâu?

Việc sửa đổi luật Đầu tư gần đây cho thấy gió đang thổi sai hướng. Có lẽ mục đích của luật Đầu tư mới là nhằm cải cách theo hướng một cửa đối với luật hiện có. Tuy nhiên, như một đại biểu Quốc hội đã nói: ''Có cái gọi là một cửa song vẫn còn nhiều cửa''. Mặc dù có một số thay đổi vào phút cuối song ấn tượng chung là VN mâu thuẫn và không thực sự muốn làm cho môi trường kinh doanh dễ dàng. Điều đó đi ngược lại loại tăng trưởng mà VN cần.

Điều gì đứng đằng sau phần lớn những vấn đề này? Một cách giải thích là nó thể hiện nỗ lực phát triển một khu vực sở hữu nhà nước mới, ngay cả khi kinh nghiệm trong quá khứ không tốt và đòi hỏi của các đối tác thương mại khiến việc làm đó rất tốn kém (về mặt cơ hội xuất khẩu bị mất đi). Tốc độ cổ phần hoá tiếp tục chậm chạp, giá cả cao và sự lựa chọn nghèo nàn trong nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn đều chỉ ra mong muốn ngăn chặn và hạn chế các công ty tư nhân hiệu quả, tạo việc làm và có tiềm năng kỹ thuật tiên tiến.

Nhà nước tiếp tục nâng đỡ các công ty quốc doanh với chi phí lớn. Những công ty này không thể cạnh tranh trong các thị trường mở và không có sáng kiến tốt để sử dụng lực lượng tri thức một cách hiệu quả. Theo hiểu biết của tôi thì những nhân tài hàng đầu được đào tạo ở nước ngoài hiện không xếp hàng xin làm việc cho các doanh nghiệp quốc doanh.

Kết luận

Để kết luận, tôi xin trở lại vấn đề cung và cầu tri thức. VEF đang làm một công việc tuyệt vời nhằm cải thiện cung và các bạn, những nghiên cứu sinh VEF là người hưởng lợi trực tiếp của nỗ lực đó. VEF không đơn độc trong công việc này. Tôi ước tính, các gia đình VN đang chi ít nhất 150 triệu đôla/mỗi năm để cho con em họ theo học ở nước ngoài. Có nguồn cung tri thức mặc dù cần một hệ thống ĐH tốt hơn. Tuy nhiên, tôi cho rằng công việc tạo nhu cầu tri thức mà VN đang làm lại rất tồi.

Tôi đề nghị tất cả chúng ta cần quan tâm nhiều hơn tới các thể chế giáo dục, kinh tế, luật pháp và chính sách. Chúng tôi, và VN, phải phát hiện những điểm yếu liên quan và giải quyết những điểm yếu đó.

GS Thomas Vallely

Giám đốc chương trình Việt Nam của Đại Học Harvard