NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nhu cầu về tri thức : vấn đề lớn ở Việt Nam - GS Thomas Vallely

"Nếu là bạn tốt của Việt Nam thì phải phê phán Việt Nam. Tôi tin có rất ít sự phê bình mang tính xây dựng liên quan tới chính sách và thành tựu kinh tế xã hội của Việt Nam, cả ở trong nước lẫn nước ngoài", Trên tinh thần đó, ông Thomas Vallely, Giám đốc chương trình Việt Nam của Đại Học Harvard đã "xin trình bày bài phê bình dưới đây" tại phiên thảo luận có nội dung "Giáo dục Đại Học Việt Nam: Nguồn lực và cơ hội" trong khuôn khổ hội nghị khoa học của các nghiên cứu sinh Việt Nam tại Mỹ.

NHU CẦU HIỆN TẠI VỀ TRI THỨC Ở Việt Nam : YẾU

Tôi đặc biệt quan tầm tới hệ thống giáo dục Đại Học Việt Nam trong nhiều năm qua. Chắc một số bạn cũng đã rõ, 6 tháng vừa rồi, tôi đã phần nào được biết đến nhiều ở Việt Nam thông qua bình luận về các chiến lược xây dựng trường Đại Học đẳng cấp quốc tế.

Về bản chất, cải thiện giáo dục Đại Học ở Việt Nam liên quan tới việc tạo ra nguồn cung cấp kiến thức. Cung cấp các nhà khoa học và kỹ sư là một điều gì đó mà mọi người trong hệ thống đều hiểu. Cần nhiều nỗ lực, thời gian và tiền bạc mới thành lập được một cơ sở nghiên cứu và đào tạo Sinh Viên ở trình độ cao. Vai trò của nhà nước trong việc thành lập các cơ sở giáo dục và nghiên cứu hiệu quả rất khó khăn. Tuy nhiên, nhìn rộng ra, sẽ thấy thêm một vấn đề khác: Ngay cả khi thành lập thêm nhiều những cơ sở như thế, các nhà khoa học có trình độ sẽ chỉ trở về hoặc ở lại một quốc gia nơi cần tới và trọng dụng trình độ, kiến thức của họ. Khi những nghiên cứu sinh (NCS) VEF học xong, hoàn toàn xác đáng khi xem xét môi trường mà mình sẽ trở về.

Tôi gọi vấn đề này là nhu cầu về tri thức. Thực ra, tôi muốn nói gì khi dùng cụm từ này ? Nền kinh tế của một quốc gia tạo ra nhu cầu về người tài và sáng kiến của họ. Việc thị trường thưởng công cho những người tài và người có giáo dục lại tạo ra nhu cầu học tập của mọi người. Đương nhiên, đây là vấn đề con gà và chất lượng trứng. Rõ ràng, người ta không tìm thấy các trường Đại Học đẳng cấp quốc tế ở những nơi có nền kinh tế kém phát triển. Còn các nước phát triển lại có ít nhất một vài trường như thế.

Đối với chúng ta, những người theo sát Việt Nam, nhu cầu hiện tại về tri thức ở Việt Nam còn yếu. GS tại các trường Đại Học hàng đầu ở Hà Nội tin rằng Sinh Viên chủ yếu coi bằng cấp là bàn đạp để có một việc làm trong khu vực kinh tế quốc doanh.

Tình trạng thiếu nhu cầu về tri thức khuếch đại những vấn đề tồn tại bấy lâu trong hệ thống giáo dục Đại Học Việt Nam. Do có quá ít nhu cầu đối với những nhân tài thực sự và thành tích học tập chẳng quan trọng bằng các mối quan hệ, bằng cấp bị mất giá trị. Tiêu cực ngày càng tràn lan trong nhà trường. Không chỉ có vậy, người sử dụng lao động tại TP.HCM thường phàn nàn, cử nhân ra trường hiện không làm đúng ngành nghề họ theo học.

GS Malcom Gilis, cựu Chủ tịch Đại Học Rice, thành viên của Hội đồng quản trị VEF, là một chuyên gia quốc tế lão luyện về mối quan hệ giữa khoa học và sáng tạo. GS Gillis giải thích với tôi rằng đa số những sáng chế kỹ thuật tiên tiến nhất bắt nguồn từ các ngành khoa học cơ bản.

Tôi đề cập tới điều này vì trong khi xem xét những nghiên cứu sinh (NCS) VEF hiện nay, có một điểm nổi bật: 70% nghiên cứu sinh đang nghiên cứu khoa học máy tính và kỹ thuật điện cũng như các lĩnh vực kỹ thuật khác. Rõ ràng, Sinh Viên đang chọn nghiên cứu những ngành mà trước mắt có nhu cầu. Đây chỉ là quan sát, không phải sự chỉ trích. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa VEF hiện chưa tìm được những người giỏi trong các lĩnh vực vật lý, sinh học và hoá học. Với mục tiêu cải thiện nền khoa học ở Việt Nam, đây là một tình thế khó xử đối với VEF và tình thế này không có câu trả lời dễ dàng. Hoàn toàn tự nhiên khi chọn những người giỏi nhất và hoàn toàn tự nhiên khi Sinh Viên theo học những chuyên ngành nơi có nhiều việc làm tốt.

Tuy nhiên, Việt Nam sẽ cần nhiều nhà vật lý học, sinh học và hoá học nếu thiết lập một trường Đại Học đẳng cấp quốc tế và trở thành một bộ phận của hệ thống khoa học toàn cầu. VEF có lợi thế hơn so với nhiều nhóm khác trong việc giải quyết điều này và nên xem xét kỹ vấn đề này. Theo quan điểm của riêng tôi, trong ngắn hạn, cách duy nhất để xây dựng năng lực nghiên cứu cao học trình độ cao trong những ngành khoa học này là đầu tư đào tạo các Sinh Viên khoa học ở nước ngoài.

GS Chung Kim có nói với tôi rằng, ngay cả các nghiên cứu sinh khoa học của Đại Học quốc gia Seoul cũng gặp khó khăn khi cạnh tranh trong các chương trình khoa học dành cho nghiên cứu sinh ở Mỹ do trường thiếu năng lực. Những điểm yếu trong đào tạo các Sinh Viên khoa học ở Việt Nam còn nghiêm trọng hơn và cần được giải quyết, song sẽ không thể giải quyết nhanh. Tạo ra những tiến sĩ khoa học tài giỏi đòi hỏi phải có hệ thống giáo dục khoa học tốt dành cho Sinh Viên.

TẠO RA NHU CẦU TRI THỨC

Giờ, tôi xin trở lại với thiếu nhu cầu tri thức ở Việt Nam hiện nay.

Xin bắt đầu với quan sát: môi trường thúc đẩy nhu cầu sáng tạo hầu như là trách nhiệm của nhà nước vì nó đòi hỏi rất nhiều chính sách phức tạp về những vấn đề đa dạng. Chẳng hạn như giáo dục, tài chính, luật pháp và chăm sóc y tế.

Những người quen thuộc với thành tích phát triển kinh tế gần đây của Việt Nam có thể hỏi tại sao nhu cầu lại là một vấn đề.

Thử hỏi, có bao nhiêu quốc gia khác đạt được tốc độ tăng trưởng GDP 8% hoặc xuất khẩu trên 20% ? Đói nghèo đang giảm khi nhiều doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp 2000. FDI đang tăng tới mức ngay cả Thái Lan cũng phải lo ngại. Hầu hết, các nước khác sẽ từ bỏ nhiều thứ để có được thành tích kinh tế này.

Cũng có thể vẽ một bức tranh nền kinh tế Việt Nam và những triển vọng ngắn hạn của nó. Chắc chắn, sẽ ít màu hồng. Ngay bây giờ, tôi muốn giới thiệu với quý vị một bức tranh như thế và gợi ý rằng những người quan tâm tới nền khoa học Việt Nam nên lo lắng vì bức tranh nêu lên những câu hỏi nghiêm túc về việc liệu các nghiên cứu sinh đang tu nghiệp ở nước ngoài có tìm được cơ hội để phát huy đầy đủ tài năng của họ ở Việt Nam hay không. Nếu những xu hướng hiện nay không thay đổi, tôi sợ là họ sẽ không tìm được.

Tôi biết, một số người sẽ coi nhận định này là quá bi quan. Một người bạn tốt - một quan chức cấp cao Việt Nam - từng nói với tôi rằng, nếu là bạn tốt của Việt Nam thì phải phê phán Việt Nam. Tôi tin có rất ít sự phê bình mang tính xây dựng liên quan tới chính sách và thành tựu kinh tế xã hội của Việt Nam, cả ở trong nước lẫn nước ngoài. Trên tinh thần đó, tôi xin trình bày phần phê bình dưới đây.

Một phần thành tựu kinh tế của Việt Nam đáng được xem xét kỹ hơn - tỷ lệ tăng trưởng sản lượng công nghiệp. Các nhà kinh tế lưu ý rằng bất kỳ khi nào khu vực tư nhân ( hiện đang tăng trưởng nhanh gấp 2 lần khu vực nhà nước ) tiến gần tới khu vực nhà nước về giá trị, có sự suy giảm đột ngột và không thể giải thích được về giá trị của khu vực tư nhân. Điều này làm người ta kết luận rằng, đó không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu dùng dữ liệu sản lượng công nghiệp năm 2003 làm cơ sở thì sẽ thấy chưa tới 1/5 tăng trưởng công nghiệp tới từ các doanh nghiệp quốc doanh.

Điều này mô tả rõ ràng rằng khu vực nhà nước không còn đóng ''vai trò dẫn đầu'' trong nền kinh tế Việt Nam. Chiếm một phần nhỏ trong tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp, tạo việc làm và xuất khẩu nên chỉ khi tiếp tục thu hút được lượng vốn lớn thì khu vực này mới đóng vai trò lớn.

Quả thực, Việt Nam là một trong số những quốc gia duy nhất trên thế giới mà trong đó tỷ lệ phần trăm vốn được phân bổ cho khu vực nhà nước đang tăng lên. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi không phải vì thiếu nguồn lực mà khu vực nhà nước suy giảm. Tôi cho rằng tiếp tục nói về ''vai trò dẫn đầu'' đối với khu vực nhà nước là bỏ qua thực tế và làm ảnh hưởng tới tương lai.

6 vấn đề "kinh khủng"

Giờ, chúng ta hãy xem xét một số xu hướng không hỗ trợ một triển vọng xán lạn :

1. Không thể gia nhập WTO trong năm 2005 và chưa gia nhập được trong năm 2006.

2. Những lo ngại thực tế liên quan tới việc phân bổ, sử dụng vốn từ một đợt phát hành trái phiếu gần đây.

3.Ngày càng tụt hạng trong bảng xếp hạng tham nhũng, cùng với hệ thống luật pháp còn nhiều vấn đề và thậm chí là lộn xộn.

4.Sự phát triển chậm chạp của một hệ thống tài chính lành mạnh.

5. Những thay đổi mang tính thụt lùi đối với luật đầu tư, quay trở lại với phương pháp tiếp cận từng dự án, thay vì đăng ký đơn giản.

6.Những vấn đề liên quan tới cổ phần hoá và đầu tư của nhà nước. Hai vấn đề này cho thấy tiếp tục có sự quan tâm tới việc tạo ra sự công nghiệp hoá dựa vào nhà nước. Điều đó sẽ làm cho khu vực tư nhân hiệu quả hơn thiếu vốn và giới hạn khu vực này chủ yếu ở những doanh nghiệp có quy mô nhỏ với khả năng cạnh tranh hạn chế trong các thị trường quốc tế.

Làm sao mà các kết quả lại tốt đến vậy và các vấn đề lại kinh khủng tới vậy? Về cơ bản, Việt Nam đang nằm ở trung tâm của một ''cơn bão hoàn hảo'' gồm những yếu tố kinh tế thuận lợi. Hầu hết những yếu tố này nằm ngoài khả năng kiểm soát của nhà nước. Giá dầu cao, giá các nguyên vật liệu khác cũng tăng mạnh. Sự thay đổi về địa chính trị ( chẳng hạn như do lo ngại về Trung Quốc ) đã đẩy các nhà đầu tư Nhật và Đài Loan tới Việt Nam. Viện trợ lên tới hàng nhiều tỷ đôla mỗi năm. Lượng kiều hối ( chỉ tính riêng số tiền chuyển chính thức qua ngân hàng ) đạt gần 4 tỷ đôla. Nếu chúng ta cộng ODA, nguồn thu từ dầu mỏ, FDI và kiều hối, chúng ta có tổng cộng trên 15 tỷ đôla hay 30% GDP. Nếu khoản tiết kiệm từ nguồn thu phi dầu mỏ là 10 - 15%, chúng ta sẽ có nguồn lực trên 40% GDP.

Việt Nam thiếu la bàn

Chính phủ Việt Nam không thể kiểm soát được cơn bão hoàn hảo này. Tuy nhiên, Chính phủ có thể kiểm soát môi trường chính sách. Tôi cho rằng những vấn đề nêu ra ở trên ngụ ý về chính sách tồi. Nó cho thấy Việt Nam thiếu la bàn, nghĩa là những phân tích để thúc đẩy tiến trình chính sách. Xem xét sơ qua về các vấn đề kinh tế hiện nay sẽ làm sáng tỏ tại sao tôi lại nói như thế.

Thứ nhất, hãy xem xét câu chuyện Việt Nam nỗ lực gia nhập WTO. Nói thẳng là ở đây, cả 2 bên đều thiếu kỹ năng. Mỹ khăng khăng tiếp tục duy trì hệ thống hạn ngạch dệt may cũ như một điều kiện gia nhập WTO. Điều này hoàn toàn sai. Việt Nam chỉ chiếm chưa tới 3% hàng nhập khẩu dệt may vào Mỹ và không phải là mối đe doạ lớn đối với ngành dệt may của Mỹ. Trung Quốc chiếm gần 30% song các nước châu Á khác còn ít hơn nhiều ( Ấn Độ dưới 6% ) và không nên bị loại trừ. Thế nhưng, Việt Nam lại thất bại trong các cuộc đàm phán. Thậm chí, Việt Nam còn chưa đưa ra được một đề xuất toàn diện trên bàn đàm phán và đang cố duy trì một hệ thống theo kiểu áp dụng dần dần. Giờ thì chắc chắn rằng con đường gia nhập WTO sẽ khó khăn hơn trong những năm tới.

Thật mỉa mai thay khi nhiều ''điều kiện nhượng bộ'' mà VN chống lại sẽ làm giảm tình trạng độc quyền về dịch vụ và hạ thấp chi phí ở VN, do đó làm cho Việt Nam cạnh tranh và xuất khẩu dễ dàng hơn. Người ta có thể cho rằng thất bại trong việc gia nhập WTO và những khó khăn kinh tế phát sinh từ thất bại này cuối cùng có thể trở thành chất xúc tác mạnh cho cải cách. Nếu đúng như vậy thì khoảng thời gian chưa vào được WTO sẽ cản trở các loại đầu tư mà chắc chắn sẽ cần các chuyên gia công nghệ cao. Tóm lại, đó là một cơ hội bị mất - nhượng bộ những quyền lợi đặc biệt và không nhận thức được quyền lợi lâu dài của bản thân.

Thứ hai, gần đây có đợt phát hành trái phiếu quốc tế 750 triệu đôla. Đợt phát hành này rất đắt hàng và một số người đang ca ngợi đây là một dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang gia nhập vào câu lạc bộ các nước lớn. Có thể đúng như vậy. Song có một câu hỏi: người ta đang chơi trò chơi gì ?

Toàn bộ số tiền này được dành để cho tổng công ty đóng tàu quốc doanh Vinashin vay. Công ty đóng tàu tư nhân ABG của Ấn Độ đang xây dựng một xưởng đóng tàu mới, cỡ lớn. Xưởng này sẽ có khả năng đóng những con tàu 120.000 tấn, đóng tám con tàu cùng một lúc. Xưởng đóng tàu hiện đại đó sẽ chi phí chưa tới 100 triệu đôla.

Ngay cả khi chi phí cho một xưởng đóng tàu tương tự ở Việt Nam cao hơn 50%, chúng ta có 600 triệu đôla không được giải thích. Tăng cường quyền lợi mà ít quan tâm tới hiệu quả sẽ không tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế Việt Nam và cuối cùng sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng những công nhân lành nghề, thậm chí là một số được sử dụng trong dự án này.

Nhân tài hàng đầu không xếp hàng xin việc ở quốc doanh

Vậy Việt Nam không thể thành công chỉ bằng cách xây dựng một khu vực xuất khẩu hiệu quả hay sao ? Điều đó còn phụ thuộc vào FDI và sự tăng trưởng của các nhà cung cấp có nhiều khả năng hơn. Nói như giới chuyên môn thì Việt Nam sẽ phải ''leo lên chiếc dây giá trị gia tăng'', chứ không chỉ là một nguồn lao động rẻ và hiệu quả.

Làm điều đó, cần có môi trường kinh doanh tốt. Tuy nhiên, hạng tham nhũng của Việt Nam đã giảm từ năm 1997 tới 2005, theo Tổ chức Minh bạch quốc tế. Việt Nam cùng với Indonesia và Philippines gia nhập vào nhóm các nước có tình hình tham nhũng tồi tệ hơn trong khi Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc đều được nâng hạng.

Tương tự, thứ hạng của Việt Nam về khả năng cạnh tranh tăng trưởng ( theo diễn đàn kinh tế thế giới ) cũng đáng thất vọng, chỉ tăng lên được một nấc từ năm 2001 tới 2005. Căn cứ vào việc trong suốt thời kỳ đó, nhiều nước châu Phi cũng được đưa vào xếp hạng và Indonesia, Malaysia và Thái Lan đều lên được hai, ba nấc thì rõ ràng VN đang thụt lùi.

Hãy nghĩ về hệ thống pháp luật. Có tin đồn Việt Nam đã mất nhiều cơ hội đầu tư ở lĩnh vực công nghệ cao do các nhà đầu tư lo ngại về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Liệu Intel hay Microsoft sẽ đầu tư nghiêm túc vào một nơi như thế ? Điều đó có thể. Song, nếu Việt Nam có một thị trường nội địa lớn như Trung Quốc. Đáng tiếc là GDP của Việt Nam chỉ bằng 50% của Singapore.

Về môi trường luật pháp u ám thì ít ra các công ty trong nước có thể đối phó được, mặc dù rất khó khăn. Một vấn đề nữa là không thể có tiền để mở rộng. Do các ngân hàng quốc doanh chi phối hệ thống ngân hàng và không muốn cho các công ty tư nhân vay tiền mà không có thế chấp chắc chắn nên các công ty tư nhân hiệu quả ít có cơ hội để mở rộng, ngoại trừ thông qua lợi nhuận giữ lại.

Thị trường trái phiếu và cổ phiếu được sử dụng như một chiếc phanh kìm hãm tốt độ tăng trưởng của khu vực tư nhân, chứ không phải là một cách phân phối vốn hiệu quả. Nếu một khu vực mới mở ra, đó sẽ là những công ty có thể được vay vốn và đây là những công ty nhà nước hoặc những công ty ''tư nhân'' được ưu đãi cao, có mối liên hệ mật thiết mới những người đang nắm quyền.

Loại công ty này chắc chắc không thể cạnh tranh thực sự và cũng không thể bắt đầu đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, hoặc thậm chí vay mượn công nghệ theo một cách sẽ giúp Việt Nam tạo ra con đường riêng, hướng tới năng suất cao hơn. Sự tăng trưởng rất nhanh về tín dụng có lẽ cũng không phải là ngoại lệ mà là cho các doanh nghiệp nhà nước vay nhiều hơn.

Như vậy, đối với các ngành sử dụng nhiều tri thức thì điều này chẳng có gì là tích cực về mặt dài hạn. Chỉ mới một nhóm nhỏ các công ty sở hữu 50 triệu đôla tiền vốn hoặc nhiều hơn, người ta sẽ hỏi: các công ty có khả năng cạnh tranh quốc tế ở đâu ?

Việc sửa đổi luật Đầu tư gần đây cho thấy gió đang thổi sai hướng. Có lẽ mục đích của luật Đầu tư mới là nhằm cải cách theo hướng một cửa đối với luật hiện có. Tuy nhiên, như một đại biểu Quốc hội đã nói: ''Có cái gọi là một cửa song vẫn còn nhiều cửa''. Mặc dù có một số thay đổi vào phút cuối song ấn tượng chung là Việt Nam mâu thuẫn và không thực sự muốn làm cho môi trường kinh doanh dễ dàng. Điều đó đi ngược lại loại tăng trưởng mà VN cần.

Điều gì đứng đằng sau phần lớn những vấn đề này ? Một cách giải thích là nó thể hiện nỗ lực phát triển một khu vực sở hữu nhà nước mới, ngay cả khi kinh nghiệm trong quá khứ không tốt và đòi hỏi của các đối tác thương mại khiến việc làm đó rất tốn kém ( về mặt cơ hội xuất khẩu bị mất đi ). Tốc độ cổ phần hoá tiếp tục chậm chạp, giá cả cao và sự lựa chọn nghèo nàn trong nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn đều chỉ ra mong muốn ngăn chặn và hạn chế các công ty tư nhân hiệu quả, tạo việc làm và có tiềm năng kỹ thuật tiên tiến.

Nhà nước tiếp tục nâng đỡ các công ty quốc doanh với chi phí lớn. Những công ty này không thể cạnh tranh trong các thị trường mở và không có sáng kiến tốt để sử dụng lực lượng tri thức một cách hiệu quả. Theo hiểu biết của tôi thì những nhân tài hàng đầu được đào tạo ở nước ngoài hiện không xếp hàng xin làm việc cho các doanh nghiệp quốc doanh.

Kết luận

Để kết luận, tôi xin trở lại vấn đề cung và cầu tri thức. VEF đang làm một công việc tuyệt vời nhằm cải thiện cung và các bạn, những nghiên cứu sinh VEF là người hưởng lợi trực tiếp của nỗ lực đó. VEF không đơn độc trong công việc này. Tôi ước tính, các gia đình Việt Nam đang chi ít nhất 150 triệu đôla/mỗi năm để cho con em họ theo học ở nước ngoài. Có nguồn cung tri thức mặc dù cần một hệ thống Đại Học tốt hơn. Tuy nhiên, tôi cho rằng công việc tạo nhu cầu tri thức mà Việt Nam đang làm lại rất tồi.

Tôi đề nghị tất cả chúng ta cần quan tâm nhiều hơn tới các thể chế giáo dục, kinh tế, luật pháp và chính sách. Chúng tôi, và Việt Nam, phải phát hiện những điểm yếu liên quan và giải quyết những điểm yếu đó.

Minh Sơn

Thomas Vallely , ông là ai ?

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Thomas Vallely là một người đàn ông đầy nhiệt huyết, mạnh mẽ và quyết liệt trong cả lời nói và hành động. Có cảm giác, nếu ông đã nghĩ gì thì sẽ khó thay đổi, chưa kể ông còn muốn "bắt" người khác phải đồng ý với chính kiến của mình. Cuộc nói chuyện dài của chúng tôi khá gai góc, nhất là khi nói về giáo dục Việt Nam, về những dự án ông đã làm và mong muốn làm.

"Ông ấy là Fulbright Việt Nam"

Thomas tốt nghiệp đại học Masachusetts và cao học tại trường quản lý nhà nước J.F.Kennedy, Đại học Harvard Mỹ. Ông là Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard vừa là một trong những sáng lập viên của VEF ( Quỹ học bổng Việt Nam - Hoa Kỳ ).

Ông đặc biệt tâm huyết với giáo dục Việt Nam và Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam. Được thành lập năm 1994, Chương trình này là kết quả hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế TP HCM và Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard. Ngân sách hoạt động chính của chương trình do Vụ Văn hóa và Giáo dục thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ.

Sứ mệnh của chương trình Fulbright là hình thành, truyền thụ và phổ biến kiến thức. Hiện nay, dự án kiến tạo tri thức này đang hỗ trợ cho ba chương trình đào tạo cốt lõi, bao gồm : chương trình đào tạo một năm về kinh tế học ứng dụng và chính sách công, các khóa ngắn hạn chuyên về luật và kinh tế cho chính sách công và chương trình đào tạo cao cấp theo yêu cầu thực tiễn. Nếu có dịp trò chuyện với học viên ( cựu hoặc tân ) của Chương trình Fulbright Việt Nam, bạn sẽ hiểu vì sao Thomas lại tâm đắc với mô hình này đến thế. Những giờ học ở đây luôn coi học viên là trung tâm và thảo luận, đối thoại là không khí chủ yếu của các giờ học. Những nghiên cứu về Việt Nam nói chung và nhiều địa phương nói riêng ở đây có thể khiến nhiều người ngạc nhiên về "thực tế hoá lý luận" những bài học về quản lý kinh tế.

Rất nhiều những cộng sự của Thomas tại Việt Nam đều nói rằng nếu không có ông thì sẽ không có Chương trình Fulbright Việt Nam và Quỹ học bổng VEF sẽ không được như bây giờ. Người ta khẳng định rằng, "Thomas phải là người kiên nhẫn và nhiệt huyết mới có thể vượt qua được những rào cản ban đầu để có được Chương trình ộ của Đại học Harvard nói chung và Fulbright ộ nói riêng". Thế nhưng Thomas lại rất né tránh khi nhắc đến "công lao" của mình.

Thomas chỉ nói rằng, đó là những nỗ lực của Chính phủ Mỹ, với sự khuyến khích, ủng hộ của những thượng nghị sỹ là cựu chiến binh tại VN đứng đầu là John Kerry và John McCain và sau đó là ủng hộ của phía Việt Nam. "Với mục tiêu hướng tới tương lai, họ đặc biệt quan tâm đến giáo dục với thế hệ trẻ ộ. Havard chỉ là đại diện của chính phủ Mỹ để thiết lập những quan hệ, những trao đổi về giáo dục giữa hai nước, là chất xúc tác cho quyết tâm của chính phủ Mỹ. Chương trình bắt đầu vào những năm 1990. Bây giờ thì đại sứ quán Mỹ đã tiếp nhận chương trình này, còn chúng tôi thì tập trung vào chương trình Fulbright Việt Nam thôi" .

Một cộng sự người Việt Nam của Thomas nói về ông: "Ông ấy là Fulbright Việt Nam bởi ông đã nỗ lực hết mình để thực hiện thành công những ý tưởng mà ban đầu nhiều người cho rằng điều đó là không tưởng"... Vì sao ông lại tâm huyết với Việt Nam đến vậy ? "Có thể ban đầu là do sự tò mò về một đất nước mà ông đã biết đến trong cuộc chiến đang có nhiều thay đổi. Cộng thêm niềm đam mê, tác phong làm việc chuyên nghiệp của một nhà nghiên cứu kinh tế và giáo dục chuyên nghiệp. Rồi sau đó, những chuyển động ở một đất nước đang phát triển đã cuốn hút ông..." Vẫn cộng sự thân thiết đó của ông lý giải.

"Với tôi, Việt Nam mỗi ngày một mới mẻ"

Năm1969, chàng trai trẻ Thomas rời bang Masachusetts của nước Mỹ đến Việt Nam. Anh là lính của một đơn vị thủy quân lục chiến đóng tại xã An Hoà, gần thánh địa Mỹ Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam. Lúc đó, giao tranh ở vùng này rất ác liệt. "An Hoà là xã đồng bằng - nơi chuyên cung cấp gạo cho các chiến sỹ ộ hành quân dọc đường mòn HCM. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải "chặn" nguồn tiếp tế này; nhưng chúng tôi đã đã làm không tốt". Kể lại câu chuyện của hơn 30 năm trước, Thomas cười rất nhẹ nhõm. Chàng lính trẻ này chỉ ở Việt Nam có một năm.

"Lúc đó và ngay cả sau này, khi đã về lại Mỹ, tôi vẫn chưa biết gì nhiều về đất nước các bạn. Phải nói thật lòng, lúc đó tôi không "thích" Việt Nam . Tôi đã chiến đấu trong một cuộc chiến mà tôi hiểu quá ít về nó. Nhưng, cuộc chiến tranh đó đã hình thành, biến đổi con người tôi theo một cách nào đó."

Thomas đã từng là hạ nghị sỹ bang Massachusetts trong 6 năm ( 1980 - 1987 ). "Khi đó, John Kerry ứng cử thượng nghị sỹ lần đầu tiên vào năm 84, và tôi đã thật sự "nhúng mình" vào chiến dịch tranh cử của ông ta. VN là một "vấn đề" rất nóng bỏng, gây tranh cãi tại thời điểm đó, và sự quan tâm đến Việt Nam của tôi là lẽ đương nhiên". Ông kể.

Lần đầu tiên Thomas trở lại Việt Nam năm 1985 cùng một nhóm các cựu chiến binh đã tham gia chiến tranh tại Việt Nam sau kỷ niệm 10 năm Mỹ rời khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam. "Sự trở lại này là "vì sự tò mò, và để tự "thị phạm" ( educate ) chính mình". Lần đó, tôi chỉ lưu lại Việt Nam trong 1 tháng, nhưng bắt đầu yêu đất nước này". Ông cởi mở điều này khi trò chuyện với PV VNnet.

Năm 1990, Harvard bắt đầu một chương trình giáo dục với Việt Nam, và Thomas có nhiều dịp ở đây. "Tôi cho rằng mình may mắn vì đã trở lại Việt Nam, và công việc của tôi từ 1990 đến nay tại Việt Nam đã cho tôi những cơ hội để hiểu và ngày càng yêu đất nước này. Tôi đã rất háo hức tìm hiểu đất nước các bạn, về văn hóa, về kinh tế, về con người ộ tại thời điểm đó. Mọi thứ với tôi đều mới mẻ. Cảm giác của tôi thay đổi từng ngày. Mỗi ngày, tôi thấy mình hiểu Việt Nam thêm một chút, nhất là những điều mà mình không thể biết chính xác nếu không trực tiếp đến đây. Cảm giác đó thật thú vị".

Nghe ông trò chuyện, tôi càng củng cố thêm nhận xét từ một cộng sự của Thomas về ông : "Đó là một con người nhiệt huyết, cởi mở, dù có lúc hơi cực đoan".

Với John Kerry, Peter Peterson và tôi, chiến tranh Việt - Mỹ đã thực sự chấm dứt từ ...

Có nhiều lời "đồn" rằng Thomas là bạn thân của John Kerry - một thượng nghị sĩ rất quan tâm đến VN và Peter Peterson ( cựu đại sứ Mỹ tại Hà Nội ). Thomas không công nhận cũng không chối bỏ tin "đồn" này.

Một kỷ niệm đẹp về tình bạn với John Kerry ư ? Chúng tôi đều quan tâm đến Việt Nam. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Mỹ - Việt Nam, nhưng thật ra 10 năm trước đó (1985) đã có những nỗ lực của nhiều nhà chính trị Mỹ ( trong đó có các thượng nghị sỹ John Kerry, John McCann... những người đã tham gia chiến tranh Việt Nam ). Chính 10 năm đó đã khiến chúng tôi gần nhau, cùng hiểu rằng Việt Nam là một phần rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ, thành một phần của văn hóa Mỹ. Thế hệ của tôi đã ảnh hưởng rất nhiều bởi cuộc chiến tranh Việt Nam, và chúng tôi cũng tự hào vì đã góp phần không nhỏ để tạo ra hòa bình, để quan hệ hai nước phát triển mạnh như bây giờ.

Nhưng kỷ niệm tôi muốn nhắc đến là ngày 10-9-2001, một ngày trước sự kiện 11-9, ở Boston. John Kerry và John McCain được Boston Community trao tặng giải thưởng cho những nỗ lực của hai người trong việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Phát biểu của Peter Peterson tại buổi lễ đó đã để lại trong chúng tôi những cảm xúc sâu sắc: "Nhờ có Kerry và McCain, quãng thời gian từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc đến khi hai bên là bạn đã giảm đi một nửa. Quân đội Việt Nam và quân đội Mỹ có một lực lượng đặc nhiệm chung, với nhiệm vụ là tìm những người Mỹ và người Việt Nam còn sống. Một chiếc máy bay trực thăng đã gặp tai nạn tại Việt Nam khi đang đi tìm những người lính Mỹ và Việt Nam. 19 người chết, cả quân nhân Mỹ và Việt Nam. Trong lễ tưởng niệm tại Hà Nội, thân nhân của những quân nhân này đã ôm nhau thắm thiết để cùng chia sẻ nỗi đau."

Và, Peter Peterson khẳng định, chiến tranh Mỹ - Việt Nam đã thật sự kết thúc vào ngày hôm đó.

Điều đặc biệt là Peter nói về điều này trong lễ trao giải thưởng cho John Kerry và John McCain, một ngày trước sự kiện 11-9-2001 , ngày nước Mỹ không bao giờ quên.

Đưa sinh viên sang nước ngoài học, không phải là cách hiệu quả

Với tất cả sự nồng nhiệt, tự tin pha chút cực đoan của mình, Thomas khẳng định: "Chương trình Fulbright là hạt nhân, là cốt lõi của cách giáo dục hợp lý mà VN nên (cần) áp dụng cho các Chương trình khác.

Nếu các bạn muốn "hiện đại hóa", các bạn cần hai điều kiện: "tiền vốn" và "kiến thức" và sự kết nối chúng. Chương trình của chúng tôi tạo điều kiện cho học viên thật sự suy nghĩ, dạy họ cách phân tích tình huống và vấn đề của riêng họ. Mỗi khóa học chỉ kéo dài 1 năm, nhưng chúng tôi dạy cho các học viên thấy cách học, cách nghiên cứu, tìm hiểu. Và chính họ, những học viên, mới quyết định họ sẽ học được những gì ? Họ có thể chỉ học 1 năm, thậm chí không theo được hết khóa, nhưng họ có thể học cả sự nghiệp, cả đời. Chúng tôi có cả những tài liệu trực tuyến mà bất cứ ai cũng có thể tự tìm hiểu, tự học mà không cần phải đến với chúng tôi.

Các giáo viên của chúng tôi cũng được đào tạo rất kỹ để thật sự hiểu vấn đề, thật sự có kiến thức. Thời gian chúng tôi dành để "đào tạo" các giáo viên giỏi còn nhiều hơn thời gian dành để đào tạo học viên. "Kiến thức" mà chúng tôi nhấn mạnh ở đây là kiến thức "vượt xa" sách vở, vì chỉ kiến thức "sách vở" thôi thì không là gì cả.

Thomas cũng đã có nhiều đóng góp liên quan đến ý tưởng thành lập VEF, tất cả xuất phát từ sự thành công của chương trình Fulbright tại VN và sự cần thiết phải có một chương trình tương tự về khoa học. "Tôi có công thuyết phục họ, nhưng đó là dự án của Chính phủ Mỹ, và Ban giám đốc của VEF cũng do Chính phủ Mỹ cử ra. Họ là những người rất năng động, và họ đã rất cố gắng..."

Với VEF, Thomas cho rằng " Thành công nhất của Ban lãnh đạo này là thành lập được quỹ học bổng. Nếu tự mỗi học sinh tìm học bổng ở một trường đại học Mỹ, rồi đến Mỹ học, thì chỉ là những cá nhân đơn lẻ, không có mối liên hệ cộng đồng nào cả. Nhưng tôi nghĩ VEF nên theo mô hình của Fulbright, và tập trung vào các ngành khoa học. Đưa các sinh viên Việt Nam sang Mỹ không phải cách "hiệu quả", vì sẽ tốn rất nhiều tiền. Đầu tư cho các cơ sở đào tạo "chuẩn" ở Việt Nam mới là cách tốt, vì cùng một số tiền sẽ có nhiều sinh viên được đào tạo hơn. VEF có thể tạo ra những chương trình giáo dục "chuẩn" để các trường đại học của Việt Nam có thể tham khảo, giống như cách Fulbright đã làm với các chương trình giảng dạy về kinh tế.

Tôi mơ ước mở một trường Đại học ở Việt Nam

Khó mà tranh luận được với Thomas khi ông nói về ý tưởng "thành lập Đại học có tầm Quốc tế tại Việt Nam thay vì gửi học sinh ra nước ngoài". Khi có ai đó nói ngược lại rằng: " Mô hình của Fulbright thành công bởi đó là Chương trình đào tạo Chính sách công, cần phải có sự cọ xát với thực tế trong nước. Còn các chương trình khác chuyên về khoa học, công nghệ như VEF lại cần có sự cọ xát với những thành tựu nghiên cứu và công cụ nghiên cứu mà ở Việt Nam chưa thể có", Thomas sẽ bảo vệ ý kiến của mình quyết liệt nhất đến mức có thể.

"Các nước châu Á khác đều có những trường đại học hàng đầu, được xếp hạng cao trên thế giới, còn Việt Nam thì không. Cũng không thể gửi hết sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học, đó là một sự uổng phí. Có 40.000 sinh viên Việt Nam sang nước ngoài học tập mỗi năm, nhiều hơn cả Trung Quốc. Nhưng hiện tại, tốt nghiệp đại học ở Việt Nam thì không dễ gì kiếm được việc làm.

Mơ ước cụ thể của ông cho Việt Nam ?

Tôi vẫn suy nghĩ nhiều về việc mở trường đại học ở Việt Nam, một trường theo tiêu chuẩn quốc tế, thật sự có tính cạnh tranh. Và theo tôi, nếu không có sự "cạnh tranh", nếu tất cả đều được quyết định bởi Chính phủ và Bộ Giáo dục thì sẽ "kìm hãm" sự phát triển của giáo dục. Các bạn cần xây dựng một trường đại học hàng đầu như đại học Thanh Hoa của Trung Quốc, với những giảng viên được đào tạo ở các nước phát triển, với giáo trình hiện đại, với sự tuyển chọn thật kỹ lưỡng, đảm bảo những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc.

Tôi muốn là một thành viên của nhóm nghiên cứu giúp Việt Nam xây dựng trường đại học hàng đầu, nếu các bạn thấy điều này là cần thiết. Trường đại học chắc chắn quan trọng hơn đường cao tốc, khu công nghiệp... Tôi muốn những người thật sự giỏi, có kinh nghiệm thực tế về giáo dục sẽ cùng ngồi lại với nhau để bàn về ý tưởng. Liệu Việt Nam có học theo được mô hình của đại học "Thanh Hoa" không ? Khi đó, không chỉ 1 mà sẽ có nhiều trường đại học đủ tiêu chuẩn quốc tế có thể ra đời ở Việt Nam. Hãy "bỏ" hệ thống giáo dục cũ của Việt Nam, vì chính hệ thống này đã góp phần "phá huỷ" đất nước các bạn. Đây là một vấn đề lớn, và đôi lúc tôi thật sự muốn "bỏ cuộc". Nhưng tôi tin mình sẽ gắn bó với đất nước các bạn vì mục đích này".

( Những người bạn khác chính kiến của Thomas có thể khó chịu vì cách nói cực đoan của ông nhưng họ không thể không trân trọng tâm huyết vì giáo dục Việt Nam này - PV ).

Điều tâm huyết cuối cùng với Việt Nam của ông cho buổi trò chuyện không "êm ả" này ?

Điều cuối cùng tôi muốn nói, Việt Nam đã thay đổi, phát triển rất nhiều, nhưng vẫn chưa đủ, cần phải thay đổi nhanh hơn, vì trong thế giới toàn cầu hóa này, không thể chần chừ. Trong chiến tranh, bạn chỉ cần "sống sót" là đủ, còn bây giờ thì phải làm gì đó có ích. Để thật sự "hiện đại" hóa, Việt Nam cần chuyển đổi nhanh hơn nữa về kinh tế.

Khánh Linh