NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Chống lạm phát tận gốc cần xem lại nội lực quốc gia - Trần Sĩ Chương

Ông Trần Sĩ Chương cho rằng, để chống lạm phát tận gốc cần phải xem lại nội lực quốc gia. Trong đó gồm 2 vấn đề cốt tử là cán cân thương mại và hiệu quả đầu tư trong nước.

Xung quanh các cảnh báo về nguy cơ lạm phát trong năm 2010 đang được xã hội quan tâm, để rộng đường dư luận, Tuần VN xin giới thiệu thêm góc nhìn của ông Trần Sĩ Chương, chuyên viên kinh tế, tài chính.

Gốc của lạm phát và chống lạm phát ở ngay chính trong ta

Lạm phát là vấn đề luôn luôn rình rập tấn công bất cứ nền kinh tế nào thiếu kỷ luật trong điều tiết vĩ mô và chính sách công. Nếu lạm phát xuất phát từ bên ngoài thì rõ ràng mình bị động, chỉ có cách phản ứng như thế nào để ít bị ảnh hưởng nhất. Chúng ta không chủ động được giá dầu, lương thực... của thế giới khi kinh tế thế giới đi vào giai đoạn phục hồi. Nhưng chúng ta phải biết cách chọn lựa khôn ngoan nên nhập cái gì, nhập bao nhiêu là vừa, là phù hợp với khả năng phát triển của nền kinh tế và phải làm sao sử dụng những món hàng nhập khẩu đó tinh tế hơn, hiệu quả hơn.

Thể trạng nền kinh tế quốc gia cũng giống như cuộc sống trong một gia đình. Khi giá cả ngoài chợ tăng thì người nội trợ phải biết gói ghém đi chợ như thế nào để phù hợp với điều kiện ngân sách của gia đình. Nếu biết tiêu pha chừng mực thì gia đình đủ ăn, sinh hoạt khôngbị ảnh hưởng nhiều, còn nếu tiêu vượt quá khả năng thì dẫn tới nguy cơ phải vay mượn với lãi suất cao, đồng tiền mất giá, áp lực lạm phát là không tránh khỏi. Nói như vậy để thấy, cái gốc của vấn đề lạm phát, cũng như giải pháp phòng chống thế nào là ở ngay chính trong ta.

Giải quyết những hệ quả để lại từ giai đoạn trước

Trong hoàn cảnh hiện tại, cần phải giải quyết hai vấn đề gốc là cân bằng cán cân thương mại và nâng cao hiệu quả đầu tư. Cụ thể:

Thứ nhất, con số nhập siêu của chúng ta đang rất lớn. Nhập siêu nếu có mục tiêu chiến lược để đầu tư thông minh cho tương lai trong một chừng mực và giai đoạn nhất định thì chấp nhập được. Nếu không thì về lâu dài không ai muốn cho mình vay mượn nữa, nếu có thì phải trả lãi suất cao. Khi lâm vào tình hình đó, sẽ dẫn tới nguy cơ đồng nội tệ sẽ mất giá, áp lực lạm phát tăng.

Ngay tại thời điểm này, thật sự Việt Nam đang xuất siêu với toàn thế giới, trừ Trung Quốc. Cụ thể ta đang xuất siêu với thế giới khoảng 3 tỷ đô la, trong khi nhập siêu từ Trung Quốc khoảng chừng 15-16 tỷ đô la. Bởi vậy mới có chuyện nhập siêu trên 12 tỷ.

Gần đây báo chí nói nhiều rằng tại sao phải nhập từ Trung Quốc kể cả những thứ Việt Nam đang ê hề, như rau củ quả.... những món hàng mình có thể sản xuất được. Như vậy phải xem lại chuyện kiểm soát cơ chế và chuyện chọn lựa để thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc. Chúng ta cần phải tích cực hơn để giải quyết vấn đề nhập siêu, đặc biệt là nguồn nhập hơn 15 tỷ đô/năm từ Trung Quốc.

Thứ hai, hiệu quả đầu tư gắn liền với sức khỏe nền kinh tế, đó là nội lực quốc gia. Việt Nam hiện nay đang phải đầu tư đến 7% GDP chỉ để có được 1% tăng trưởng. Con số đó quá cao, cái giá quá đắt. Mà nguyên nhân có lẽ là trong 10 năm đầu đổi mới (thập niên 90) hiệu quả đầu tư khá cao đã làm cho mình ngộ nhận là cứ làm như thế là được rồi. Ở giai đoạn đó, lúc khởi điểm cơ thể còn ốm yếu, đầu tư cái gì cũng có thể giúp thể lực tăng trưởng tốt hơn, hiệu quả thấy ngay và tương đối cao. Nhưng khi đã đạt đến một cân lượng tối thiểu thì phải có một chế độ dinh dưỡng khác chứ không thể ăn bừa như lúc ốm đói được. Nếu ăn tạp sẽ dẫn tới nguy cơ béo phì. Mà béo phì thì khiến cơ thể trì trệ, chậm chạp, tim mạch bi tắc nghẽn.... Và đương nhiên với thể trạng đó sẽ khiến hiệu suất công việc giảm đi.

Như vâỵ, trong từng giai đoạn phát triển, cần phải có chính sách đầu tư phù hợp. Có lẽ mình vẫn quen cái nếp của hồi đầu đổi mới, thành thử hiện nay vẫn chưa có nếp kỷ luật tuân thủ những quy tắc chất lượng chuẩn trong vấn đề nhập khẩu - từ hàng hoá đến đầu tư tiền của.

Xem ra, hoàn cảnh bây giờ là hệ quả của nhiều giai đoạn trong quá khứ. Lạm phát không phải là vấn đề xảy ra chỉ trong một đêm. Thành thử rất cần phải xiết lại kỷ luật đầu tư để biết mình nên làm gì, nhập gì, xuất gì, đầu tư trong nước thì đầu tư cái gì, ở đâu, với ai, ra sao. Có như vậy thì chỉ số ICOR mới có thể thấp xuống, nền kinh tế mới ổn định theo kiểu đầu tư ít, tăng trưởng cao. Nếu không, với chỉ số ICOR như hiện nay thì cho dù có đầu tư cái gì cũng dễ làm tăng áp lực lạm phát. Mà nếu xiết chặt tín dụng, giảm đầu tư thì bị suy thoái. Cũng giống như cơ thể khi đã béo phì thì ăn thêm một chút gì cũng dễ bị lên cân nhanh, huyết áp tăng, nguy cơ đột quỵ cao. Nhưng không ăn thì lại không có sức mà làm. Đó là vòng luẩn quẩn của ta hiện nay.

Vấn đề báo chí đang bàn tán phần lớn vẫn là các giải pháp tình thế - "ngăn chặn", "kiểm soát" giá cả bằng các phương tiện chính sách, giảm đầu tư... Mà biện pháp tình thế chỉ nên áp dụng trong những tình thế đột biến, không bình thường. Chúng ta cũng không nên kỳ vọng những biện pháp này sẽ giải quyết dứt điểm nguy cơ lạm phát đang tiềm ẩn trong cơ thể kinh tế. Đã đến lúc phải trị bệnh lạm phát dứt điểm từ gốc vấn đề nhập siêu và hiệu suất đầu tư thấp.

Những chuyện này chúng ta đều biết và đã bàn nhiều rồi, cũng như Thủ tướng đã yêu cầu trong dịp đầu năm, giờ không còn thời gian chần chừ nữa, chúng ta phải quyết liệt, quyết liệt hơn nữa để giải quyết tận gốc những vấn đề này, nếu không dù có lết được qua năm 2010 (một năm rất căng) thì một ngày rất gần, bạo bệnh lạm phát cũng sẽ đến và nguy kịch hơn.

Lạm phát, thất nghiệp và bài toán nhân lực tương lai

"Mỗi tuần một chuyện" tuần 18 - 24/8 tập trung bàn về mối lo thất nghiệp trong và sau lạm phát, và xa hơn , là bài toán nhân l ực cho tương lai của Việt Nam.

Với Doanh Nghiệp, mất nhân lực cũng giống mất thị trường

Hai tháng sau khi ra trường, Hải Yến, cựu SV ĐH Kinh tế quốc dân HN giữ kỷ lục thời gian làm việc ngắn nhất ở công ty. Ngay ngày đầu đi làm, cô đã dự cuộc họp của công ty (ở đường Láng) thông báo vì tình hình kinh tế khó khăn, mỗi bộ phận của công ty sẽ cắt giảm ít nhất một nhân sự. Tuyển mới 2 nhân viên, nhưng ngay ngày hôm sau, công ty đã cho nghỉ việc 7 người.

Tình trạng của Hải Yến không phải hi hữu trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay. Khá nhiều sinh viên ra trường không thể tìm cho mình một vị trí để làm. Nhiều người khác làm trong tình trạng phấp phỏng không biết lúc nào mình sẽ là người kế tiếp.

Cách đây chưa lâu, FPT tuyên bố cắt giảm 10% số lao động, tương đương con số 1000 người. Công ty chế biến xuất - nhập khẩu nông sản thực phẩm Đồng Nai cũng dự kiến giảm hơn 2000 lao động trong năm 2008... ( theo Sài Gòn Tiếp thị ).

Không sa thải nhân sự, nhưng khối văn phòng của một DN xây dựng lớn của Hà Nội thực hiện chế độ giãn việc với nhân viên, theo đó mỗi người sẽ một ngày nghỉ, một ngày đi làm luân phiên.

Ở một công ty thiết kế - xây dựng khác trên địa bàn Hà Nội, lãnh đạo công ty đã đặt vấn đề giảm lương nhân viên, trong bối cảnh giá cả các mặt hàng đều đang tăng cao.

Thu hẹp sản xuất, sa thải lao động... đã là một thực tế, dù như chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận định, bản thân DN không ai muốn sa thải lao động, bởi để có người lao động có tay nghề, kỹ năng, thạo việc không đơn giản. Nhiều Doanh Nghiệp thời gian qua đã phải đau đầu tìm lao động qua đào tạo, và giữ chân họ.

Không bị sức ép của yếu tố bên ngoài, nhưng các Doanh Nghiệp đã chủ động cố gắng không cắt giảm chi phí nhân công, đảm bảo đời sống cho người lao động và việc làm cho họ.

Việc sa thải là lựa chọn cuối cùng, khi ở tình trạng bất khả kháng. Đó là hệ quả tất yếu của việc Doanh Nghiệp không thể tiếp tục hoạt động hoặc buộc phải hoạt động cầm chừng nếu muốn tiếp tục tồn tại.

Theo bà Chi Lan, bản thân việc cắt giảm là một điều đau đớn với Doanh Nghiệp. Bao giờ các Doanh Nghiệp cũng cân nhắc rất kỹ khi đối mặt với hai tình trạng: mất nhân lực và mất thị trường. Cả hai khu vực này đã mất rất khó lấy lại. Khi khó khăn, Doanh Nghiệp buộc sa thải lao động, đến khi phục hồi được, muốn tuyển dụng, họ lại phải bắt đầu lại quy trình tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp và tổ chức lại nhân sự.

Đỡ cho Doanh Nghiệp chính là đỡ cho người lao động

Nhưng dù muốn dù không, trong tình thế kinh tế hiện nay, việc làm của người lao động bị ảnh hưởng là không tránh khỏi, khi có tới 70% Doanh Nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn, trong đó có những Doanh Nghiệp đã lịm đi, chìm vào cái chết trong im lặng.

Điều khiến các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế quan ngại nhất chưa và không phải là số phận Doanh Nghiệp, mà là số phận người lao động sẽ đi về đâu trong và sau lạm phát. Nếu các Doanh Nghiệp dân doanh, khu vực tạo công ăn việc làm chính cho xã hội, không trụ nổi, mức thất nghiệp sẽ như thế nào? Nhà nước có thể làm gì để hỗ trợ người lao động?

Hiện nay, các ngành sản xuất của Việt Nam chủ yếu là những ngành sử dụng lao động lớn. Có nhiều Doanh Nghiệp con số lao động là vài nghìn người. Nếu con số 20% Doanh Nghiệp đang lịm đi mà Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Cao Sỹ Kiêm nói nằm trong dạng này, số người lao động có thể mất việc sẽ lên tới hàng triệu người. Nó là một vấn đề xã hội to lớn, cần được nghiêm túc xem xét, giải quyết.

Riêng với các Doanh Nghiệp trong Hiệp hội dệt may, lượng lao động trong tại các Doanh Nghiệp đã giảm khoảng 15-30% so với thời điểm cuối năm 2007.

Ông Kiêm cho rằng, Chính phủ "phải lưu tâm giải quyết hậu quả của những cái chết của Doanh Nghiệp... Một bộ phận lao động sẽ chuyển hướng, trở về với nông thôn, còn bộ phận khác thất nghiệp sẽ đi đâu, về đâu?"

Hỗ trợ cho Doanh Nghiệp dân doanh là một trong những hướng ưu tiên mà các chuyên gia kinh tế tư vấn cho Chính phủ để hỗ trợ cho người lao động. Mỗi năm khu vực dân doanh đang góp phần tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới cho người lao động. Nếu kinh doanh chững lại, thậm chí thu hẹp, hơn triệu việc làm này sẽ không được tạo ra bên cạnh số việc làm bị mất đi. Lượng người gia nhập đội quân thất nghiệp sẽ tăng lên. Và nguồn lực xã hội to lớn - con người không được tận dụng đầy đủ.

"Đỡ cho Doanh Nghiệp dân doanh chính là đỡ cho người lao động", bà Phạm Chi Lan nói.

Cơ hội chuẩn bị cho nhân lực cho tương lai

Nhìn xa hơn, theo bà Chi Lan, nhà nước cần tính tới các giải pháp mang tính dài hạn hơn. Theo dự báo, đến năm 2012, Việt Nam chỉ cung cấp được 50% nhu cầu lao động có kỹ năng đáp ứng đòi hỏi của thị trường. Đó là con số đáng báo động.

Trong khi người lao động lo thất nghiệp, thì thực tế, chúng ta vẫn còn chỗ để có thể tận dụng nguồn lực này. Điều đáng tiếc là Việt Nam chưa tổ chức được cho người lao động học tập, rèn luyện các kỹ năng theo yêu cầu thị trường.

Đơn cử, khi FDI vào Việt Nam, nhu cầu nguồn lao động có kỹ năng rất lớn. Intel, Foxconn... đều cần số lượng lao động lớn. Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng, tổ chức chương trình đào tạo, trao cơ hội cho người Việt Nam, nhất là giới trẻ có được công việc tốt hơn.

Hiện nay, nhìn vào con số người thất nghiệp của Việt Nam, người trẻ chiếm tỷ lệ rất lớn, tới 75% ở dưới tuổi 34. ( Ở các nước, tỷ lệ này thường dao động ở mức 50-60% ). Đây là sự lãng phí nguồn lực rất lớn.

Theo bà Chi Lan, nhà nước cần chăm lo giảng dạy cho người trẻ, để họ có cơ hội việc làm tốt hơn, nhất là những người ở khu vực nông thôn, khi diện tích nông nghiệp đang bị thu hẹp nhanh chóng cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.

Trước mắt, trong giai đoạn khó khăn, nhà nước cần giúp Doanh Nghiệp đào tạo lại lao động, giữ và nâng cao tay nghề để có một công việc vững vàng hơn cho tương lai. Nói cách khác, kinh tế khó khăn, sản xuất kinh doanh thu hẹp là cơ hội để tái đào tạo nhân lực, chuẩn bị cho sự hồi phục trong tương lai không xa, và cả thời điểm xa hơn, sau 5-10 năm nữa, Việt Nam không thể tiếp tục đưa nền kinh tế hội nhập với lợi thế nhân công giá rẻ được nữa.

Đương nhiên, với nhiệm vụ lớn như vậy, sức của mình nhà nước sẽ không làm nổi. Nhà nước cần trao cơ chế để đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo, trao cơ hội cho Doanh Nghiệp đang khó khăn mở các khóa đào tạo lao động. Mô thức này sẽ mang lợi cho cả ba bên: nhà nước, Doanh Nghiệp và người lao động, trong đó nhà nước sẽ giải được bài toán thiếu nhân lực cho tương lai; Doanh Nghiệp sẽ có được cách sống trong tình thế khó khăn và người lao động sẽ được trang bị năng lực cho tương lai.

Việc này trao cơ hội cho Việt Nam giải quyết tình trạng "thị trường lao động chia cắt, quản lý manh mún, thiếu luật pháp và công cụ điều hành" và thực tế "nơi cần không có, nơi có không cần" lao động như lời mô tả của ông Đào Quang Vinh, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội.

Riêng với người lao động thất nghiệp do lạm phát, hiện nay, Bộ Lao động thương binh xã hội đang tiến hành một khảo sát, nghiên cứu về thực tiễn, để đề ra một chính sách thích hợp. Hy vọng, với kết quả nghiên cứu cụ thể, chúng ta sẽ được nhìn thấy những giải pháp xác đáng để giúp cho người lao động, những người tổn thương nhiều nhất trong lạm phát.

Phương Loan

Rủi ro lạm phát rất đáng lo - GS TS Trần Ngọc Thơ

Dự báo lạm phát Việt Nam năm 2010 không đơn thuần nằm ở chính sách tiền tệ và những yếu tố khách quan.

Gần đây đang có các ý kiến nhiều chiều quanh dự báo lạm phát của năm 2010. Để rộng đường dư luận, Tuần VN xin giới thiệu góc nhìn của một số chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách quanh vấn đề này. Sau đây là quan điểm riêng của GS. TS Trần Ngọc Thơ.

Lạm phát Việt Nam có nguồn gốc từ chiến lược tăng trưởng chạy theo số lượng bắt đầu từ những năm 2000 đến 2008. Đỉnh điểm đến vào năm 2008 với lạm phát 28%. Nói đến dự báo lạm phát năm 2010, phải đặt nó trong mối nhân quả giai đoạn 2000-2008 mới thấy hết những rủi ro khôn lường.

Rất may cho Việt Nam là những sai lầm trong chiến lược tăng trưởng méo mó và do đó dẫn đến lạm phát phi mã của thập niên đã tạm thời được che đậy bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sang năm 2010, khi kinh tế toàn cầu phục hồi rõ hơn, lạm phát có "quán tính" từ thập niên trước sẽ chuyển dần sang những năm sau đó - trừ phi ta có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong thể chế.

Nhiều chuyên gia nói rằng các biện pháp chống lạm phát thì đã có đầy trong các kho sách giáo khoa thế giới, chỉ cần có quyết tâm thì ta sẽ kiểm soát được lạm phát? E rằng nhận định này có thể không đúng ở nước ta.

Khác với hầu hết các nước, lạm phát có thể được Ngân Hàng Trung ương đánh đổi bằng mục tiêu tăng trưởng. Nhưng đối với Việt Nam, ngay cả khi chính phủ cũng nhượng bộ phần nào với mục tiêu không đạt được tăng trưởng bằng mọi giá - để kiềm chế lạm phát - thì vẫn còn đó nhiều khả năng để lạm phát có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của chính phủ.

Trước hết, nói thẳng ra là những hậu quả của các chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2000-2008. Chính phủ phải xử lý thế nào với hàng loạt công trình dở dang ngổn ngang ở các tỉnh, thành, bộ ngành, các Doanh Nghiệp Nhà Nước và tập đoàn kinh tế? Nếu không tiếp tục bơm tiền để hoàn thành, liệu có ảnh hưởng gì đến uy tín của lãnh đạo các đơn vị này khi mà mùa đánh giá và đề bạt cán bộ năm nay sẽ ở mức cao trào? Đây là hệ quả mà những thời kỳ trước cũng chính phủ hiện nay đang phải gánh chịu và tìm cách khắc phục.

Sức ép thể chế có thể sẽ đánh bại những nỗ lực của Ngân Hàng Nhà Nước trong kiểm soát lạm phát. Anh đã lỡ hứa xây cây cầu, trạm xá... rồi, nay lại sắp tới mùa thi đua hoàn thành vượt mức và thi đua hoàn thành trước thời hạn. Thôi thì, không ngân sách bơm vốn ra thì cũng bằng cách nào đó ngân hàng thương mại nhà nước cũng hỗ trợ.

Mà đó cũng chỉ là một trong nhiều ví dụ về cái gọi là "đặc thù" riêng có của Việt Nam. Cộng tất cả những đặc thù đó lại, kiểm soát lạm phát ở Việt Nam khó hơn nhiều so với mọi người tưởng.

Đó là chưa kể những tác động mặt trái và độ trễ của gói kích cầu năm 2009 sẽ phát huy tác dụng và ngấm vào năm 2010. Rõ nhất là tỷ giá đã tăng liên tục trong nhiều tháng qua và vẫn còn có thể tăng tiếp nữa. Tôi tin chắc rằng biến số tỷ giá tăng mạnh này đã không nằm trong tính toán của các nhà hoạch định chính sách. Không khó để nhìn ra rằng đồng Việt Nam hiện vẫn còn định giá khá cao so với mức cân bằng ( của tỷ giá thực ) và khả năng tăng tỷ giá trong thời gian tới hầu như là điều khó tránh khỏi, bất chấp những tuyên bố "ổn định" chắc như đinh đóng cột của các nhà làm chính sách.

Xem lại bài phát biểu "Hai kịch bản tăng trưởng và lạm phát năm 2010" của Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước tại hội thảo "Vai trò chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ suy giảm" vào thời điểm gần cuối năm 2009, ta thấy Thống đốc có nêu ra rất nhiều các biến số tác động đến lạm phát và tăng trưởng như hệ số ICOR, tổng phương tiện thanh toán, giá dầu... nhưng tuyệt nhiên không thấy tác động của yếu tố tỷ giá đối với CPI ( tỷ giá tăng làm cho giá nhập khẩu tăng và do đó kéo theo mặt bằng giá trong nước tăng lên ). Nếu để ý, ta thấy vào thời điểm này, vị lãnh đạo ngành ngân hàng vẫn kiên quyết bảo vệ quan điểm không tăng mạnh tỷ giá vì e ngại tác động đến việc trả nợ nước ngoài.

Trong hai kịch bản này, thì lạm phát nằm trong khoảng thấp nhất và cao nhất là 7,5% - 10%. Nếu ta tạm thời dựa vào mô hình tính toán của một trong những cơ quan quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu của Việt Nam và vẫn chưa có yếu tố tác động của tăng mạnh tỷ giá thì lạm phát đã đáng lo ngại lắm rồi.

Và ắt hẳn mô hình dự báo lạm phát của Ngân Hàng Nhà Nước đã chưa tính hết tới những phản ứng thái quá của các tập đoàn nhà nước từ hiệu ứng tăng giá xăng, giá điện... khá khó hiểu và có thể là ngoài tầm kiểm soát của những nhà làm chính sách khi dự báo về lạm phát 2010.

Nói tóm lại, dự báo lạm phát Việt Nam năm 2010 không đơn thuần nằm ở chính sách tiền tệ và những yếu tố khách quan ( như giá dầu thế giới...) mà còn nằm ở (1) tàn dư của những năm tăng trưởng và kích cầu trước đây, (2) thể chế, (3) sự mất giá liên tục và không thể tránh khỏi của tỷ giá đô la/Việt Nam đồng và (4) phản ứng của các Doanh Nghiệp Nhà Nước và tập đoàn kinh tế có vì lợi ích chung?

Rõ ràng với nguy cơ đang được cảnh báo, các nhà hoạch định chính sách tài chính tiền tệ Việt Nam phải tính ngay và có giải pháp đi trước một bước để giải quyết vấn đề hệ trọng này.