NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ngẫm chuyện nhà Khoa Học phải e dè... nói thật - GS Nguyễn Ngọc Lanh

1. Tiêu chuẩn duy nhất để tôn vinh : Thành quả khoa học và đào tạo

Nhà khoa học được tôn vinh và đãi ngộ không phải do chức vụ trong bậc thang hành chính mà phải do cống hiến cho khoa học và phải đong đếm được.

Tôi đã được dự quá nhiều những hội nghị mà người ta trịnh trọng giới thiệu một nhân vật là TS, GS, bộ trưởng, uỷ viên trung ương (!)... và còn những chức danh khác nữa. Nếu ở những nước có truyền thống khoa học cao và lành mạnh thì kiểu giới thiệu này rất chướng vì nó nói lên nhiều điều xấu chứ không chỉ là sự lộng hành của bệnh hiếu danh mà thôi.

Có những nhà khoa học Việt Nam suốt đời thật sự làm khoa học (Tôn Thất Tùng, Lương Định Của...). Đó là những tấm gương muôn đời cho các thế hệ làm khoa học ở Việt Nam. Tôn Thất Tùng khước từ chức Thứ trưởng để toàn tâm toàn ý thực hiện hoài bão khoa học của đời mình.

Điều này là rất đặc biệt ở Việt Nam, nhưng lại rất bình thường và dễ hiểu ở nước ngoài; ví dụ, khi một nhà khoa học đang ráo riết nghiên cứu vì triển vọng rất lớn của công trình thì có “ban” hoặc “dâng” ông ta chức vụ hành chính nào cũng vẫn là “nhỏ” với ông ta. Sao ở nước ta không tạo ra cơ chế để các nhà khoa học suy nghĩ như vậy và làm như vậy? Trái lại, nhiều người chỉ ham bỏ khoa học để nhảy sang ngạch công chức. Lỗi chủ yếu là cơ chế, lỗi của con người bị đặt trong cơ chế đó là rất thứ yếu.

2. Chức vụ trong khoa học

Có nhà khoa học chỉ phụ trách chính bản thân mình. Có người phụ trách một nhóm, do một nhà khoa học khác phụ trách chung nhiều nhóm. Vị trí của mỗi người phụ thuộc vào tầm cỡ và triển vọng của đề tài mà họ đang thực hiện. Có những đề tài lớn, có triển vọng sáng sủa, người ta sẵn sàng thành lập một phòng thí nghiệm mới, thậm chí một viện mới cho một nhà khoa học.

Chức vụ viện trưởng trong trường hợp này không phải chức vụ hành chính, mà là chức vụ khoa học. Trách nhiệm của ông ta là lãnh đạo nhân sự khoa học và phương hướng khoa học sao cho có sản phẩm khoa học tương xứng với sự đầu tư. Dù là đứng đầu một viện, bản thân ông ta không dại gì mà không trực tiếp làm khoa học. Đây không hẳn do đạo đức, bản lãnh, phẩm chất... hay gì đó tương tự, mà chủ yếu do cơ chế.

Nhiều viện khoa học có thêm chức vụ “viện trưởng hành chính” (để giải phóng triệt để trách nhiệm sự vụ cho viện trưởng khoa học) cũng là điều dễ hiểu.

3. Phải có cơ chế tuyển chọn và sàng lọc các nhà khoa học

Nếu các cống hiến khoa học được đánh giá đúng, thể hiện bằng tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng những người thực tài thì sẽ có rất nhiều người ở bên ngoài muốn thử sức.

Nếu cơ chế minh bạch, rõ ràng, thì các ứng viên luôn luôn tự đánh giá bản thân trước, rồi mới dám xin được hội đồng tuyển chọn đánh giá. Nhờ vậy, nguồn tuyển (đầu vào) luôn luôn có chất lượng cao tương đối.

Sở dĩ phải tuyển chọn kỹ vì trang thiết bị nghiên cứu không rẻ, do vậy cần giao vào tay những người có năng lực cao nhất, thể hiện bằng làm việc có hiệu quả nhất. Do vậy, đất nước càng nghèo thì tuyển chọn càng phải ngặt nghèo.

Người được tuyển chọn không dại gì làm việc lơ là để có nguy cơ mất vị trí mà mình đã mất bao công sức đầu tư mới có được. Dẫu vậy, anh ta vẫn bị sàng lọc suốt đời. Cụ thể, anh ta phải đều đặn, đúng định kỳ, có sản phẩm khoa học.

Sản phẩm khoa học là cái duy nhất đánh giá năng lực người làm khoa học. May mắn, việc đánh giá sản phẩm khoa học ngày càng đơn giản và chính xác hơn nhờ Việt Nam đang hội nhập. Sân chơi chung để đánh giá một sản phẩm khoa học là các tạp chí khoa học chuyên ngành trên thế giới có đăng nó hay không. Điều này đã có nhiều người nói rõ.

4. Nhà khoa học bỏ nghề : Chuyện bình thường

Không có gì sai, nếu một nhà khoa học tự bỏ nghề để làm nghề khác, ví dụ nếu chuyển sang kinh doanh, viết văn, hoặc phụ trách một chức vụ chính quyền... thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Chúng ta cần thống nhất với nhau: Không riêng trong khoa học, mà lĩnh vực nào cũng có thang giá trị của nó, ai thành công cũng đều đáng được tôn vinh.

Cũng không hiếm những nhà khoa học tới một lúc nào đó cảm thấy đuối sức, dù đã cố gắng tột độ. Ông ta có quyền và nên chuyển đổi công việc cho thích hợp. Cơ chế nếu phù hợp, thì không có chuyện người trong biên chế cản đường người muốn vào; càng không có chuyện già cản đường trẻ trong khoa học.

Nhưng sẽ là không lành mạnh nếu vừa có chân trong ban lãnh đạo một bộ lại vừa làm giáo sư của một trường - mà nhiệm vụ nào cũng cần cố gắng tối đa mới làm nổi. Ai cũng chỉ có một đầu, hai tay và 24 giờ/ngày. Khổ nỗi, điều đã xảy ra không hiếm ở nước ta là một nhà khoa học khi chuyển thành quan chức hành chính của một bộ vẫn để một chân ở viện nghiên cứu (lương, hoặc một cái chức nào đó) để sau này còn quay về nơi cũ. Điều này tiềm ẩn một nguy cơ: Con người này rất dễ tranh giành kinh phí nghiên cứu bằng chức vụ hành chính và làm khoa học bằng sức người dưới quyền.

Thật ra, không ai có quyền cấm một quan chức trở về với khoa học, nhưng ông ta sẽ phải thi tuyển lại, không những để đảm bảo công bằng và lương thiện, mà chủ yếu là để nền khoa học nước nhà luôn luôn chọn được người thích hợp.

Một hiện tượng có vẻ hơi “quái” là có những vị quan chức hành chính cấp cao vừa đương chức, lại vừa “phấn đấu nghiệp dư” làm được luận án TS và ứng cử thành công chức danh PGS, GS, nhưng nhiệm sở của “vị” này vẫn là ở cơ quan hành chính (!). Bệnh hiếu danh thì rõ rồi, nhưng không chỉ có thế.

5. Nhà khoa học về hưu

Là điều hoàn toàn bình thường. Có gì đặc biệt đâu, nếu nhà khoa học cũng cứ già yếu đi, giảm năng lực đi, theo tuổi tác – như mọi người bình thường khác. Nhưng điều bất thường ở Việt Nam thời gian vừa qua là tuổi hưu.

Một nhà khoa học tuy còn trẻ nhưng nếu trong một thời gian nào đó không còn sáng tạo ra sản phẩm khoa học nữa thì vẫn cứ phải về hưu (hoặc chuyển sang công việc khác). Ông ta vẫn có thể theo đuổi lời thề “cống hiến suốt đời” nhưng cống hiến ở nơi khác thì thích hợp hơn.

Một nhà khoa học đầu bạc phơ nhưng vẫn sáng tạo với cường độ cao thì phải là một cơ chế máy móc và dại dột lắm mới để ông ta nghỉ hưu - với lập luận “để khỏi cản đường giới trẻ” (!).

Không khó gì tìm kiếm trên internet tuổi của các nhà khoa học khi họ được giải thưởng Nobel để tính toán mà thấy rằng nếu cứ đúng 60 tuổi là (a-lê) về hưu... thì nhân loại tổn thất trên 50% số danh nhân khoa học. May, từ trăm năm nay nhân loại không dốt nát đến mức để xảy ra như vậy.

Phải coi là bình thường hiện tượng sau: ông A tuyển chọn ông B vào cơ quan khoa học của mình. Qua thời gian, năng lực sáng tạo của ông B vượt trên ông A thì cơ chế phải vận hành sao cho ông B thay thế vị trí ông A, thậm chí phụ trách ông A. Sự minh bạch của cơ chế là cần thiết để mọi người thông suốt, đồng thời bớt được số người chuyên đi đả thông tư tưởng và giải thích thắc mắc.

6. Đức, tài và lòng trung thành

Sự thực, có những gián điệp khoa học, cần cảnh giác. Ở các nước có nền khoa học tiên tiến, thành tựu rực rỡ, người ta cũng phải chọn lọc người nghiên cứu ở những lĩnh vực liên quan bí mật quốc gia. Tuy vậy, chọn lọc ban đầu dù quan trọng tới đâu cũng không bằng thường xuyên bảo vệ kết quả nghiên cứu, bảo vệ nhà khoa học.

Với trình độ khoa học của nước ta, tôi không biết chuyện “đức”, “tài” và lòng trung thành quan trọng đến đâu khi ta tuyển chọn và đánh giá các nhà khoa học, gồm cả kiều bào và người nước ngoài? Cảnh giác và tin tưởng thường ngược nhau. Tiêu chuẩn đánh giá là gì? Nhưng tôi biết chắc rằng ở các nước chuyện này dường như không đặt ra. Về cái mà chúng ta gọi là “đức” thì người ta cần một nhà nghiên cứu dồn toàn bộ công sức cả đời cho khoa học; tuy nhiên, không cần “giáo dục” gì ghê gớm để người ta hết lòng làm việc, vì cơ chế đã làm quá tốt điều này.

Tiêu chuẩn “tài” lại càng minh bạch và dễ định lượng: đó là số công trình. Cơ chế cũng sàng lọc rất hiệu quả để người thực tài vẫn giữ được vị trí cao sang của mình.

Nói về “lòng trung thành”. Ứng cử viên Tổng thống Obama là gốc Phi châu, định cư ở Hoa Kỳ hoàn toàn chưa lâu đời, vậy mà cơ chế nào làm cho ông ta trung thành đến mức được dân tin tưởng tuyệt đối mà bầu làm thượng nghị sĩ; và nay còn hy vọng thành tổng thống một siêu cường quốc ?

7. Làm khoa học phải có trang thiết bị

Dự định đào tạo 20 ngàn tiến sĩ tuy có nhiều ý kiến “chưa thông” nhưng có thể thực hiện được. Còn việc sắm đủ trang thiết bị cho họ làm việc mới là chuyện khác hẳn. Hãy so sánh: Đào tạo 20 ngàn phi công (dễ hơn đào tạo 20 ngàn tiến sĩ) nhưng không ai dám thử vì nghĩ đến cái đận phải sắm đủ máy bay cho họ lái. Những tỉnh có chủ trương chiêu mộ tiến sĩ có lẽ do chưa thèm nghĩ tới phương tiện cho họ làm việc. Không nên nghĩ rằng tiến sĩ về khoa học xã hội và nhân văn không trang thiết bị.

Hàng năm chúng ta có quá ít công trình công bố quốc tế, nhưng nghịch lý là trong số đó thì công trình về vật lý lý thuyết (không cần nhiều trang thiết bị) lại chiếm tỷ lệ cao mà lẽ ra phải ngược lại với một nước còn nghèo, còn cần giải quyết biết bao vấn đề do thực tiễn đặt ra.

8. Làm khoa học phải có môi trường khoa học

Đó là môi trường tự do, nhất là tự do tư tưởng, ngôn luận, tranh luận, phản bác và phục thiện... mà không có bóng dáng của quyền uy ám ảnh mọi người. Đó là môi trường để chân lý ra đời một cách thuận lợi nhất.

9. Trách nhiệm chính trị và xã hội của nhà khoa học là phản biện các vấn đề chính trị và xã hội

Đó cũng là quyền. Phải có cơ chế minh bạch để người cần nghe thì phải nghe, khi đã công nhận thì phải thực hiện; còn nhà khoa học thì dám phản biện và được tôn vinh nhờ hiệu quả của phản biện. Xin miễn đai đi đai lại rằng “phản biện phải xây dựng”. Kiểu nói có vẻ thanh minh với người nghe và răn đe với người nói như vậy chỉ gây phản cảm vì coi thường phẩm cách cả hai bên.

10. Đã nói là nói thật, không cần e dè

Tôi viết bài này nhân đọc bài: Thật đáng ái ngại cho các nhà khoa học nước ta phải nói thật về ứng xử khoa học với nhà khoa học. Tại sao nhà khoa học phát biểu về khoa học mà cứ phải vượt qua e ngại để nhấn mạnh rằng mình “nói thật”? Vì sao nói về vấn đề mà mình rất am hiểu lại cứ phải rào đón? Với nhà khoa học còn như vậy, thì với người khác ra sao ?