NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Các yếu tố chăn nuôi Heo thành công

Ở Việt Nam hiện nay hầu hết mọi người chăn nuôi heo nhưng vẫn theo hình thức chăn nuôi truyền thống, không có tính chuyên nghiệp dẫn đến hiệu quả thấp.Trong khi nhu cầu của xã hội ngày càng tăng lên, do vậy muốn chăn nuôi được thành công chúng ta phải nắm bắt các kỹ thuật và phương pháp chăn nuôi tiên tiến và làm đồng bộ.

Có 5 yếu tố chính dẫn đến thành công :

1. Con giống :

Có năng suất và chất lượng cao.

- Heo đực : Bụng thon, gọn, chân sau thẳng, cứng. Trọng lượng từ 80kg trở lên. Tinh hoàn to đều, treo không quá cao hoặc quá thấp, da tinh hoàn trơn bóng, không nhăn nheo.

- Heo hậu bị : Bụng tròn, gọn, mông nở, mình thon. Để khai thác hậu bị nên chọn hậu bị từ 8 tháng trở lên, trọng lượng đạt 120kg trở lên, nhưng không quá béo hay quá gầy. Có số vú từ 12-16 vú, các vú to đều, khoảng cách các hàng vú đều nhau, nên chọn hậu bị có hàng vú từ 1 tầng đến 2 tầng. Âm môn hình quả đào, to, mẩy... Xu hướng chăn nuôi hiện nay thường chọn các giống nái siêu như: Heo Yorkshire, heo Landrace, heo Duroc...

2. Thức ăn :

Trong chăn nuôi thức ăn chiếm tới 63 - 67% giá thành sản phẩm chăn nuôi, do đó chọn loại thức ăn phù hợp là rất quan trọng. Nên chọn các nhà cung cấp thức ăn có danh tiếng như: CP, Cargill, Greenfeed, ANT, Lái thiêu, Master, Con cò...

3.Chuồng trại :

Đây là vấn đề mà hầu hết những người chăn nuôi hiện nay ở nước ta còn thể hiện sự yếu kém của mình, có thể do điều kiện kinh tế chưa cho phép nên chuồng trại chủ yếu là chuồng hở với điều kiện vệ sinh không đảm bảo. Dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao.Do vậy cần tham khảo nhiều mô hình trang trại khác nhau để có thể chọn được mô hình phù hợp với điều kiện của mình. Đa số hiện nay đều theo mô hình nửa kín nửa hở. Cần chú ý các điểm sau :

Bầu tiểu không khí trong chuồng nuôi.

Vệ sinh trong chuồng trại.

Khu vực xung quanh chuồng trại....

4.Phòng trừ dịch bệnh :

bằng qui trình Vaccine và qui trình thuốc kháng sinh. Về hai qui trình này tùy thuộc và áp lực của từng trại và từng vùng khác nhau để mình áp dụng cho phù hợp.

5. Quản lý chăm sóc :

Xây dựng hệ thống báo cáo, kế toán, kiểm tra, kiểm soát thật chặt chẽ và chính xác. Bao gồm một số yếu tố như : Nhiệt độ, nước uống, mật độ chăn nuôi, các khu nuôi khác nhau...

Giống heo nào nên nuôi ở nước ta

Sử dụng các giống heo thuần chất lượng cao phù hợp với điều kiện sản xuất và môi trường nhiệt đới nước ta là điều kiện tiên quyết để tối ưu lợi nhuận trong chăn nuôi heo công nghiệp và nông hộ. Trong bài viết này, tôi xin nhấn mạnh những ưu và nhược điểm của hai nhóm heo chính : Heo ngoại và heo nội đang được nuôi phổ biến ở nước ta, nhằm giúp các xí nghiệp-công ty các trang trại và nông hộ chọn ra những giống tốt nhất cho mỗi hệ thống Nhóm heo ngoại nhập nội gồm các giống Yorkshire, Landrace, Duroc và Pietrain. Trước tiên là heo Yorkshire, đặc biệt dòng heo của úc có ưu điểm tăng trọng nhanh, ít mỡ, nhiều nạc, dễ nuôi dưỡng chăm sóc và có khả năng thích nghi cao với môi trường nhiệt đới nóng ẩm nước ta. Đực Yorkshire 4 chân cao, to khỏe rắn chắc tạo dáng đi linh hoạt, có chất lượng tinh dịch tốt, cho tỷ lệ thụ thai cao và nhiều heo cho mỗi lứa đẻ. Năng suất sinh trưởng và sinh sản của con lai từ đực York- shire cũng cao hơn so với những giống khác và thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi nông hộ. Thứ hai là giống Landrace: Dòng đực Landrace có phần mông đặc biệt phát triển, cho nhiều nạc hơn giống Yorkshire, nhưng nhạy cảm với những điều kiện môi trường bất lợi (stress). Dòng nái Lan- drace mỗi lứa đẻ từ 10-14 con, nhưng dễ mắc các bệnh sinh sản như: Mất sữa hoặc viêm nhiễm đường sinh dục. Giống heo thứ ba là Duroc. Đây là loại heo hướng nạc, thường được dùng như dòng đực cuối cùng để phối với heo nái lai hai máu Yorkshire và Landrace để tạo con lai nuôi thịt có tỷ lệ nạc cao và thịt có chất lượng thơm ngon. Nhược điểm của heo Duroc là đẻ ít con ( 7-9 con/lứa ), thường đẻ khó và ít sữa. Heo Duroc chỉ thích hợp làm nọc giống, có chất lượng tinh dịch tốt và cho nhiều heo con ở mỗi lứa đẻ. Đặc điểm nổi bật của heo Duroc là sản xuất con lai nhanh lớn, nhiều nạc có nhiều mỡ dắt làm cho thịt có vị thơm ngon. Thứ tư là giống Pietrain. Heo Pietrain không thích hợp dùng làm nái, có tuổi đẻ lứa đầu chậm: 418 ngày tuổi ( so với Yorkshire là 366 ngày tuổi ), và số con sơ sinh bình quân thấp (9 - 10 con/ ổ). Đặc tính ưu việt của heo Pietrain là sử dụng thức ăn rất hiệu quả để chuyển đổi thành nạc, với tỷ lệ nạc cao từ 61 - 63%. Tuy nhiên, giống heo này kém thích nghi với điều kiện nóng ẩm, dễ bị đột tử khi vận chuyển đường xa và có chất lượng thịt kém do ảnh hưởng của gene Halothane. Gần đây, vài ý kiến muốn nhập giống Hampshire. Tôi hoàn toàn không ủng hộ bởi vì giống heo này mang gene Redement Napole (RN) gây acid hóa thịt.

Những giống heo nội chính gồm : Móng Cái, Ba Xuyên và Thuộc Nhiêu. Giống heo Móng Cái có năng suất sinh sản cao từ 10 -16 con cho một lứa đẻ, thường được dùng làm nái ở nhiều tỉnh miền Trung và Bắc bộ bởi chúng đẻ rất sai, cho nhiều sữa và nuôi con khéo. Heo Ba Xuyên đẻ bình quân 8 - 9 con, được nuôi phổ biến tại miền Tây và được dùng làm nái nền để lai với các giống ngoại trong sản xuất heo thương phẩm. Heo Thuộc Nhiêu chịu đựng tốt với điều kiện nuôi dưỡng kham khổ, có khả năng sử dụng thức ăn nghèo đạm, nuôi con khéo, có khả năng chống chịu bệnh tốt, và vì thế phù hợp với chăn nuôi gia đình. Một xu hướng không thể tránh khỏi là các giống heo nội đang dần được thay thế bởi các heo ngoại cao sản, đặc biệt ở nhiều trại quy mô lớn có trình độ chăn nuôi thâm canh và đầu tư cao. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất nông hộ ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, đại đa số nông dân nuôi con lai giữa nái địa phương và đực ngoại. Các giống heo nái nội có tầm vóc nhỏ bé, nhiều mỡ, ít nạc, nhưng có nhiều đặc tính ưu việt : Chịu kham khổ, dễ nuôi dưỡng, tận dụng tốt nguồn thức ăn địa phương, mắn đẻ, nuôi con khéo, đề kháng cao với bệnh tật và đặc biệt thích nghi với môi trường khí hậu nước ta. Trong khi đó các giống ngoại lớn nhanh cho nhiều nạc. Lai tạo giữa các giống heo nội với các giống heo ngoại sẽ kết hợp bổ sung những đặc tính tốt của cả 2 giống. Con lai có tầm vóc cải thiện, tăng trọng cao và giữ được năng suất sinh sản tốt. Vì thế, chúng ta cần phải bảo tồn nguồn gen heo nội để nhân thuần cung cấp nái nền lai tạo với các giống ngoại nhập trong các hệ thống sản xuất nhỏ, đặc biệt chăn nuôi nông hộ thường thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật, với phương thức chăn nuôi tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp vẫn còn phổ biến.

Kết luận, có 3 giống heo ngoại chính nên được sử dụng tại Việt Nam là : Yorkshire, Landrace và Duroc. Các giống gia súc, gia cầm địa phương nói chung và các giống heo nội nói riêng cần được bảo tồn và cải thiện tiềm năng di truyền để lai tạo với các giống nhập nội cung cấp con lai phù hợp với điều kiện sản xuất nông hộ trong từng vùng đất nước.

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của heo đực giống

Trong chăn nuôi, con đực giống có vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện khả năng sản xuất của thế hệ sau. Đặc biệt, trong chăn nuôi heo, giá trị của một con heo đực giống tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với một con nái nhất là trong điều kiện hiện nay đang áp dụng phổ biến kỹ thuật giao tinh nhân tạo. Cụ thể, mỗi năm một con heo đực giống tốt có thể truyền những thông tin di truyền về các tính trạng kinh tế (tăng trọng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, …) cho hàng ngàn con ở thế hệ sau, trong khi một nái tốt chỉ có thể truyền cho khoảng 20 heo con mà thôi. Do đó, khai thác sử dụng tốt một con heo đực giống, chúng ta cần chú ý những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của chúng như sau :

1. Ảnh hưởng giống :

Khả năng sản xuất của một con heo đực giống phụ thuộc rất nhiều vào loại giống và khả năng di truyền các tính trạng. Do đó, cần chú ý xem xét gia phả khi chọn heo đực giống.

2. Ảnh hưởng lứa tuổi :

Một số nghiên cứu cho thấy, lượng tinh dịch cũng như chất lượng tinh trùng ở heo đực giống có thể khai thác tốt nhất ở độ tuổi 1 - 3 tuổi và sau đó giảm dần mặc dù trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường như nhau. Do đó, tốt nhất chúng ta chỉ nên khai thác đực giống trong 2 năm và sau đó loại thải, thay bằng con giống mới có năng suất cao hơn.

3. Ảnh hưởng mùa trong năm :

Thời tiết môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tinh dịch của heo đực giống. Cụ thể, khi nhiệt độ môi trường thay đổi quá đột ngột ảnh hưởng đến quá trình điều hòa thân nhiệt của cơ thể, làm heo bị stress, sức đề kháng cơ thể giảm ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng. Đặc biệt, khi nhiệt độ môi trường quá nóng, kiểm tra tinh dịch heo thấy có hiện tượng hoạt lực tinh trùng giảm.

4. Ảnh hưởng khoãng cách lấy tinh :

Trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng thật tốt chúng ta cũng chỉ nên khai thác đực giống tối đa là 1 lần/ ngày đêm. Nếu khai thác nhiều hơn, chất lượng tinh dịch kém sẽ dẫn đến tình trạng tỷ lệ đậu thai ở heo nái thấp và sự loại thải con đực giống nhanh hơn.

5. Ảnh hưởng việc chăm sóc, nuôi dưỡng :

Việc cung cấp khẩu phần thức ăn cân đối và phù hợp là yếu tố rất quan trọng đối với heo đực giống trong thời gian đang khai thác. Sự thiếu hụt các chất khoáng đa lượng và vi lượng, thiếu đạm, các vitamin, …trong khẩu phần hoặc thức ăn có chất lượng kém ( bị ôi chua, mốc, … ) là những yếu tố trực tiếp dẫn đến chất lượng tinh dịch kém, ảnh hưởng đến con lai đời sau.

Ngoài ra, một số bệnh như: bệnh Lepto, Lỡ mồm long móng (FMD), … hoặc những giai đoạn thú bị sốt cao do các bệnh nhiễm trùng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất tinh dịch của heo đực giống, chất lượng tinh trùng kém ( tinh trùng bị dị dạng, hoạt lực kém… )

Kinh nghiệm nuôi Heo con

Trong chăn nuôi heo, khâu nuôi heo con trong thời kỳ theo mẹ và sau cai sữa là khó nhất, thường có tỷ lệ hao hụt là 10 - 25%. Đế đảm bảo bớt tỷ lệ hao hụt trong khâu này và tránh lãng phí số heo con của những heo nái đẻ sai (quá số vú của heo mẹ). Có thể nuôi bộ heo con khi heo mẹ đẻ quá nhiều, xin giới thiệu kinh nghiệm của ông Mười Vĩnh ( Ô Môn - Cần Thơ ), một nông dân có nhiều kinh nghiệm nuôi bộ heo con.

1. Chọn mua heo con thừa ở những nái đẻ sai:

Chỉ mua những heo đã qua bú sữa đầu (để được tẩy độc trong bộ máy tiêu hóa của heo con) từ 2 - 5 ngày tuổi. Khi mua chọn những con có lông bóng mượt, da mỏng hồng hào, mắt tinh nhanh không có nhử, rốn khô, lỗ hậu môn khít và khô ráo, bốn chân cứng cáp. Không mua những heo con lông xù, da nhợt nhạt nhăn nheo, mắt đỏ có dử, đít ướt, đi lại xiêu vẹo. Chú ý khi mua heo về kiểm tra răng nanh, nếu dài thì dùng kìm cắt ngay và cho xúc nước muối khử trùng.

2. Chăm sóc nuôi dưỡng heo con không mẹ

ổ úm và chuồng nuôi Giai đoạn đầu : ( Từ 2 - 10 ngày ), nhốt heo con trong các thùng gỗ, thùng các tông, đáy có lót rơm mềm, vải, quần áo cũ giặt sạch. Đặt những thùng này ở góc chuồng kín, ấm, tránh gió lùa, trên có bóng điện sưởi ấm suốt ngày đêm, nhất là vào mùa lanh. Nơi không có điện có thể dùng lò than, đốt trấu bổi, mùn cưa... Heo con được 10 ngày ăn tốt, khỏe mạnh có thể thiến những con heo đực.

Heo con từ 11 - 20 ngày tuổi : Có thể dùng khung gỗ hay quây gạch ở một góc chuồng tạo ô úm, nền cũng lót rơm rạ mềm, ban đêm về mùa đông vẫn cần những biện pháp sưởi ấm cho heo con như trên. Giai đoạn này chú ý cho heo con bài tiết ở một chỗ nhất định để luôn đảm bảo chuồng khô sạch.

Heo con từ 21 ngày trở đi có thể bỏ ô úm, nhưng nền vẫn lót rơm rạ khô mềm cho heo nằm. Cần có sân cho chúng ra vận động, nơi có vườn cây, có tường bao kín thì có thể cho heo tự do ra vườn sẽ cứng cáp và mau lớn hơn. Chú ý huấn luyện cho heo bài tiết ở một góc riêng.

Nếu có điều kiện nên lắp vòi uống nước tự động ( đặt vòi cao 25 -30cm ), một vòi dùng cho 20 - 30 con. Heo được uống nước sạch và mát sẽ tăng khả năng tiêu hóa hơn.

Cho ăn và chăm sóc

- Giai đoạn đầu : ( 2 - 10 ngày ), dùng sữa bột tốt 97%, mật o­ng 2% và 1% Premix, khoáng, sinh tố, tất cả trộn đều cho mỗi con một ngày 25 - 40g (tùy theo giống heo) với 150ml nước ấm ( đã đun sôi ) cho ăn mỗi ngày 6 bữa vào 9 - 12 - 15 - 18 và 21 giờ trong ngày.

Trong 2-3 ngày đầu heo con chưa quen có thể dùng găng tay ( tránh sờ trực tiếp bàn tay vào heo ), bắt từng con, lấy lông gà sạch, quệt hỗn hợp thức ăn này vào miệng heo con. Sang ngày thứ 4 thì cho ăn bằng thìa, khi bón cho từng con cần hạ thìa dần xuống đĩa để heo con liếm láp và sau đó tự liếm trong đĩa. Khi lượng thức ăn nhiều lên có thể chuyển sang cho ăn bằng máng có độ cao thấp vừa tầm với của heo.

- Giai đoạn 11 - 20 ngày : Lấy 1/3 sữa bột đóng túi trộn với 2/3 bột mì hay bột gạo nếp cộng với bột đậu tương chiếm 1/10 khối lượng sữa bột mì, trộn thật đều; hỗn hợp này được hòa với nước nấu chín. Sau đó để nguội rồi hòa với 1% premix khoáng - sinh tố ( có thể thay bằng 50 - 100g rau non thái nhỏ và 0,5g bột xương ) một ngày mỗi con cho ăn 6 bữa.

- Giai đoạn 21 - 45 ngày : Trộn 1/3 sữa bột + 4/5 bột mì hay bột gạo +7% bột đậu tương + 2% bột cá. Tất cả trộn thật đều rồi nấu chín thành hỗn hợp lỏng để nguội, trộn với 1% premix khoáng - sinh tố. Thời gian này mỗi con cần ăn 110 - 250g hỗn hợp chia làm 5 bữa vào 6, 10, 14, 18 và 22 giờ trong ngày. Với phương thức nuôi như trên, sau 45 ngày heo giống nội có thể đạt 6-7kg và heo giống ngoại đạt 14-16kg.

Phòng trị bệnh :

Thường xuyên giữ ô úm, nền chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông.

Tiêm phòng :

- 20 ngày tiêm vắc xin dịch tả..

- 25 ngày tiêm vắc xin đóng dấu - tụ huyết trùng.

- 30 ngày tẩy giun sán.

- 35 ngày tiêm lại vắc xin và dịch tả.