NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Máy Bay P-3 Orion Mỹ bán cho Việt Nam săn Tàu Ngầm thế nào ?

Sau khi Hoa Kỳ quyết định nới lỏng lệnh cấm bán cho Việt Nam những loại vũ khí sát thương , máy bay P-3 Orion có lẽ sẽ là một trong những trang thiết bị quân sự đầu tiên được yêu cầu.

Đây là loại máy bay hải quân đặt căn cứ trên đất liền với sứ mạng tuần thám biển, có khả năng săn tàu nổi cũng như tàu ngầm để phát hiện và hủy diệt.

Đặc tính kỹ thuật: Chiều dài 116 feet – Cao 33 feet – Sải cánh 100 feet.

Trọng lượng tối đa khi cất cánh 140.000 pounds .

4 động cơ cánh quạt bán phản lực ( turboprop ) .

Vận tốc tối đa 411 gút ( hải lý/giờ ) – bình phi 328 gút .

Cao độ bay tối đa 28.000 feet.

Tầm hoạt động 2.400 hải lý – hay 1.400 hải lý nếu bay 3 giờ quanh mục tiêu ở độ cao 1.500 feet.

Trị giá mỗi máy bay khoảng 40 triệu USD .

Phi hành đoàn 11 người gồm 3 phi công – 2 sĩ quan phi hành hải quân – 2 kỹ sư phi hành – 3 kỹ thuật viên điện tử – 1 nhân viên cơ khí .

Vũ khí : 20.000 pounds , mang trong hầm bom hoặc deo dưới tân và cánh , với nhiều loại hỏa tiễn và thủy lôi có chức năng khác nhau , chống chiến hạm nổi , mục tiêu bất động trên mặt đất và tàu ngầm .

P-3 Orion dùng trong Hải Quân Hoa Kỳ từ 1962 , do hãng Lockheed Martin chế tạo , và phiên bản cuối cùng là P-3C năm 1969 , tất cả đều được cải tiến nâng cấp nhiều lần. Trong tổng số trên 700 chiếc đã sản xuất, hiện nay còn dùng khoảng 130 chiếc và đang được thay thế dần bằng P-8 Poseidon, 2 động cơ phản lực, với kỹ thuật cùng trang bị hiện đại hơn.

P-3 Orion cũng đang được dùng ở nhiều quốc gia đồng minh Nam Mỹ, Âu Châu, và Canada, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Nam Hàn, Thái Lan, Philippines trong vùng Thái Bình Dương.

Thoạt đầu P-3 Orion được quan niệm là loại máy bay chuyên dụng trong việc chiến đấu chống tàu ngầm (ASW). Phát triển trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, loại máy bay này có sứ mạng phát hiện, theo dõi hoạt động của các tàu ngầm Liên Xô.

Nhưng từ thập niên 1990 về sau, P-3C Orion được bổ sung thêm nhiều nhiệm vụ từ tuần thám mặt biển và vùng duyên hải cho đến tấn công chiến hạm nổi và mục tiêu trên bờ biển. Các hỏa tiễn chiến thuật không-hải và hỏa tiễn bình phi giúp cho P-3 Orion có thể đảm nhận sứ mạng chiến đấu tấn công khi cần.

Trung bình mỗi phi vụ của P-3C Orion lâu khoảng 10 giờ nhưng có thể kéo dài tới gần 20 giờ. Để tiết kiệm nhiên liệu, máy bay có thể tắt bớt một động cơ, thường là động cơ số 1 nghĩa là phía ngoài bên trái. Lượng khói thoát ra giảm bớt cũng giúp cho tầm quan sát bằng mắt thường, nhất là khi bay ở cao độ thấp hay rất thấp gần mặt biển.

Cũng vì có thể bay lâu và nhờ những phương tiện điện tử mới, P-3C Orion trở thành loại máy bay do thám, chụp hình, thâu tín hiệu liên lạc vô tuyến để nghiên cứu tại chỗ hoặc chuyển qua vệ tinh về căn cứ. Như thế các máy bay đồng minh Á Châu, và sau này thêm Việt Nam, còn có thể thay thế một phần công tác cho các máy bay Hải Quân Hoa Kỳ trong việc theo dõi hoạt động của Hải Quân Trung Quốc trên biển Hoa Đông và Biển Đông.

Hiện nay do điều kiện tiết giảm ngân sách và hoàn cảnh chiến lược khác với thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, số phi đội tuần thám biển của Hải Quân Hoa Kỳ giảm từ 24 xuống còn 12. Đồng thời khu vực hoạt động chính của các máy bay này là cận duyên chứ không phải viễn duyên. Nói cách khác P-3C Orion trở thành loại máy bay có nhiệm vụ chiến thuật hơn là chiến lược vì để kiểm soát đại dương đã có những phương tiện khác như là vệ tinh. Với tất cả những trang bị cổ diển cũng như hiện đại để phát hiện và tấn công chiến hạm địch, P-3C Orion rất hữu hiệu cho sự phòng thủ ở những vùng biển hẹp như Biển Đông.

Người ta chưa thể biết Hoa Kỳ sẽ bán cho Việt Nam bao nhiêu máy bay P-3C Orion. Mỗi máy bay chỉ hoạt động lẻ loi trong một phi vụ, nhưng với sự phối hợp trao đổi dữ kiện thâu nhận được giữa hải quân các quốc gia có liên hệ trong khu vực, P-3 Orion sẽ đóng vai trò trọng yếu cho nền an ninh và sự ổn định tại khu vực Biển Đông.

Hà Tường Cát