NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Để khẳng định, phát triển, cần phải có tự ái dân tộc - GS TS Lê Văn Cường , Kiều bào Pháp

"Hệ thống giáo dục của một quốc gia rất cần phải cho ra đ­ời những thế hệ con người luôn có “tự ái dân tộc”. "Tự ái dân tộc", tôi muốn nói đến một giá trị mà mỗi con người khi có nó đều sẽ ra sức phấn đấu học tập, làm việc để tự khẳng định mình và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước" - GSTS Lê Văn Cường nhấn mạnh.

Du học Pháp từ năm 1964, trải qua nhiều ngành học, đảm nhiệm nhiều chức vụ, công việc khác nhau, tên tuổi của tiến sĩ Lê Văn Cường không còn xa lạ với giới khoa học tại Pháp và trên thế giới, nhất là trên lĩnh vực kinh tế.

Từng là phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Toán thống kê và Kinh tế toán (CERMSEM) tại Paris rồi giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Luật, Kinh tế và Quản lý (GREDEG) tại Nice, đầu năm 2006, GSTS Lê Văn Cường trở thành giám đốc của Trung tâm Kinh tế đại học Paris 1 Sorbonne-Panthéon (CES). Ông còn tham gia trong ban biên tập của một số tạp chí kinh tế như: Journal of Public Economic Theory, International Journal of Economic Theory, Economics Bulletin, Review of Development Economics và làm các công việc phản biện tại một số tạp chí kinh tế khác. Lĩnh vực nghiên cứu của ông bao gồm Kinh tế toán, Tăng trưởng tối ưu, Mô hình kinh tế vĩ mô và ứng dụng cho kinh tế của các nước đang phát triển.

Phóng viên NVX vừa có cuộc trao đổi với ông về những tự tình đối với quê hương, đất nước.

Là một trí thức xa quê hư­ơng, điều gì diễn ra trong nước làm ông quan tâm nhiều nhất? Tiến sĩ nhận xét gì về sự phát triển kinh tế của Việt Nam những năm qua?

GS.TS Lê Văn Cường: Tôi dành nhiều quan tâm cho các vấn đề vĩ mô như phát triển kinh tế, công bằng xã hội, tham nhũng và giáo dục đào tạo (đặc biệt là đào tạo trong ngành kinh tế).

Tôi thấy là trong những năm qua Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong tăng trưởng kinh tế và ổn định môi trường vĩ mô để hỗ trợ cho sự tăng trưởng này. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế cũng đòi hỏi Việt Nam (bao gồm cả nhà nước và toàn xã hội) quan tâm nhiều hơn nữa đến các yếu tố vĩ mô mà tôi vừa đề cập. Ví dụ như: trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng nhanh thì sự quan tâm của chính phủ và sự hiểu biết và đồng thuận của người dân đến việc duy trì công bằng trong xã hội, đối với việc tiến hành “cuộc chiến” chống tham nhũng, và dành cho chiến lược đầu tư cho giáo dục đào tạo là không thể thiếu. Cả ba vấn đề này, nếu được giải quyết tốt, đều sẽ có tác động trực tiếp và dài hạn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vì hiểu một cách đơn giản theo ý nghĩa kinh tế thì chúng giúp làm giảm đáng kể và quan trọng hơn là tăng tính hiệu quả trong sử dụng chi phí đầu tư (cố định) cần thiết ban đầu để kinh tế có thể cất cánh.

Là chuyên gia về lĩnh vực kinh tế, theo ông, hậu WTO , kinh tế Việt Nam sẽ khởi sắc như thế nào?

Việc tham gia vào WTO đánh dấu một cột mốc quan trọng trong chiến lược mở cửa kinh tế của Việt Nam, chiến lược đã giúp Việt Nam đạt được những thành tựu kinh tế rất ấn tượng thời gian qua. Điều tôi quan tâm nhất là việc gia nhập này sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh tốt để nền kinh tế có thể phát triển một cách lành mạnh. Và để thúc đẩy cạnh tranh thì, về phía Việt Nam, bắt buộc phải giảm những ràng buộc hành chính không cần thiết để thúc đẩy sản xuất, đầu tư, và vay vốn ngân hàng.

Hình như những lần về nước của ông không chỉ là về thăm gia đình ? Và mỗi lần về điều gì đọng lại trong ông nhiều nhất ?

Tôi đã tổ chức được các lớp hè (summer school) trong mấy năm liên tiếp tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội để bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho các giảng viên trẻ của trường. Bên Pháp tôi có huớng dẫn luận án cho các sinh viên Việt Nam. Tháng 08.2006, tôi có tham gia tổ chức tại Hà Nội hội thảo quốc tế lớn gọi là PET06 của Hiệp hội Kinh tế và Quản lý công.

Tôi luôn có ấn tượng với những ước vọng và suy tư của những ngư­ời dân bình thường ở Việt Nam mà tôi đã từng tiếp xúc. Điển hình như thế hệ trẻ thì rất mong muốn được đào tạo tốt hơn trong một môi trường giáo dục tiên tiến, còn những người đã nghỉ hưu thì luôn trăn trở với t­ương lai của đất nước trong bối cảnh hội nhập với thế giới.

Nếu có một “ước mơ Việt Nam”, ông sẽ mơ ước điều gì ?

Ước mơ Việt Nam của tôi sẽ là một ước mơ “thực tế”. Tôi luôn mơ ước xây dựng một trung tâm nghiên cứu kinh tế với chuẩn mực quốc tế về mặt khoa học. Tôi xin nói rõ hơn một chút ở đây về trung tâm này. Đó phải là một trung tâm độc lập về học thuật, có sự tự chủ về tài chính, bao gồm một đội ngũ các nhà nghiên cứu có tâm huyết với nghề và trình độ chuyên môn tốt, sản phẩm nghiên cứu được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học.

Và điều ông trăn trở nhiều nhất là...?

Tôi thấy rằng trong cuộc sống rất nhiều người Việt luôn thể hiện ý chí vươn lên. Nếu xã hội tạo cho họ nhiều điều kiện, nền tảng tốt như giáo dục, chăm sóc y tế, hiểu biết luật pháp, ý thức công dân, khả năng tiếp cận và xử lý thông tin… thì ngày càng có nhiều người có cơ hội thoát khỏi nghèo đói và lạc hậu.

Là giáo sư dạy học ở nhiều nước trên thế giới, tiến sĩ nhận xét gì về giáo dục Việt Nam cũng như phong trào chống tiêu cực trong giáo dục hiện nay ở Việt Nam ?

Tôi xin nói kinh nghiệm của mình qua việc đào tạo các sinh viên từ Việt Nam sang làm luận án tiến sỹ ở Pháp (và chỉ xin đứng từ góc nhìn của ngành kinh tế), trong đó chủ yếu là giảng viên ở các trường đại học khối kinh tế. Tôi thấy rằng, đối với học viên Việt Nam lúc mới vào học thì không có vướng mắc gì đáng kể, thế nhưng đến giai đoạn triển khai luận án thì lại “vướng”, đặc biệt khi va chạm với vấn đề “kinh tế thị trường”. Theo tôi, nguyên nhân là chương trình đào tạo của chúng ta chưa đi theo hệ thống kinh tế của phương Tây và do đó, nghiên cứu sinh của ta khi ra nước ngoài đào tạo thường khó theo kịp với chương trình này.

Thông qua công tác liên kết đào tạo, bồi dưỡng cho giảng viên (thường là vào dịp hè) cũng cho thấy, lúc mới bắt đầu, sức học của học viên đều tốt nhưng khi bắt đầu lên đến trình độ cao hơn thì chính bản thân họ cũng bị hẫng hụt kiến thức. Thực ra, không phải bản thân giảng viên không nỗ lực trong việc tự bồi dưỡng, trau dồi, phấn đấu, nâng cao kiến thức chuyên môn nhưng một thực tế đặt ra là lương không đủ sống, buộc phải “làm thêm” một việc gì đó và bị cuốn đi... Cũng vì thế sẽ “mất đi” hầu hết thời gian để tự đào tạo, nâng cao trình độ. Trong khi đó, kiến thức của nhân loại luôn được bổ sung, đổi mới từng giờ và chỉ cần anh dừng “học” một khoảng thời gian ngắn thôi, đã bị lạc hậu rồi. Bản thân người giảng viên ý thức được điều này nhưng không thể làm khác, vì bên cạnh công việc, họ còn có gia đình, con cái... Do vậy, chúng ta phải trông đợi một chính sách vĩ mô từ phía Nhà nước để thay đổi thực trạng này.

Quy mô đào tạo đại học trong nước hiện nay đã khác xa trước đây ba, bốn chục năm: Năm 1964, lúc tôi còn ở Việt Nam, những người được đào tạo đại học phải là con nhà khá giả (phải nộp học phí), hoặc thuộc diện được học bổng (nhưng số này rất ít). Hệ đại học của chúng ta bây giờ được mở rộng ra, quy mô gấp nhiều lần trước đây. Có thể nói, ở nước ta hiện nay, Nhà nước có một chủ trương rất tốt là mở rộng cửa các trường đại học ra cho mọi đối tượng (con công nhân, nông dân và các thành phần khác cũng được theo học). Như vậy là tốt, nhưng bên cạnh đó cũng sẽ dẫn đến tình trạng: Nhìn tổng quan, người Việt Nam có trình độ học vấn là khá hơn so với nhiều nước, nhưng ở bậc cao, những người giỏi lại rất hiếm. Đây là cái giá phải trả. Hiện nay, Nhà nước đang có chủ trương xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, tôi rất hoan nghênh chủ trương này nhưng hiểu như thế nào về nó mới là quan trọng. Theo tôi, trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, đại học đẳng cấp quốc tế chỉ nên xây dựng ở quy mô nhỏ, sau đó lan toả dần, tức là ban đầu không nên đào tạo với số lượng quá nhiều, chỉ độ 300 sinh viên/khoá. Đồng thời, trước mắt cũng chỉ nên dừng ở đào tạo trong nước bậc đại học, sau đại học thì chỉ dừng ở trình độ thạc sỹ rồi từ đó tìm cách tạo điều kiện cho họ được đào tạo tiếp tiến sỹ ở nước ngoài. Như vậy, chúng ta mới có thể kiếm đủ thầy để thực hiện công tác đào tạo được tốt. Còn để tìm thầy giỏi, có thể từ các nguồn: Giảng viên từ trường đại học trong nước và lực lượng giảng viên đang học tập ở nước ngoài (các em đang làm tiến sỹ), các giảng viên người nước ngoài và đặc biệt là giảng viên người Việt ở nước ngoài.

Tuy nhiên, khi đã có lực lượng này, điều rất quan trọng là chúng ta phải có chế độ đãi ngộ thật xứng đáng để giữ họ lại chỉ với hai việc: Nghiên cứu khoa học và đào tạo. Đồng thời, khi được trả với mức lương thoả đáng cùng với chế độ làm việc phù hợp thì đòi hỏi người giảng viên phải chứng minh mình làm tốt công việc được giao. Hợp đồng chỉ nên ký có thời hạn. Trong thời gian này, giảng viên phải có ít nhất một bài báo được đăng trên những tạp chí có uy tín trên thế giới (danh sách này do trường đưa ra). Cứ sau thời hạn đó, nếu muốn ký hợp đồng tiếp thì người đó phải chứng minh bằng kết quả cụ thể đã làm của giai đoạn vừa qua. Bằng cách như vậy, chúng ta sẽ từng bước có được một đội ngũ thầy giỏi, trò được đào tạo tốt và dần dần số lượng sẽ được nhân lên.

Ngoài ra tôi xin nhấn mạnh một vấn đề mang tính nhân văn liên quan đến giáo dục và con người. Đó là hệ thống giáo dục của một quốc gia rất cần phải cho ra đ­ời những thế hệ con người luôn có “tự ái dân tộc”. "Tự ái dân tộc", tôi muốn nói đến một giá trị mà mỗi con người khi có nó đều sẽ ra sức phấn đấu học tập, làm việc để tự khẳng định mình và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Với những con người có “tự ái dân tộc” như thế, tôi tin rằng dân tộc Việt sẽ được thế giới tôn trọng, vì nó cho thấy đấy là một dân tộc của những con người có đạo đức trong lối sống, có tiềm năng để vươn lên.

Minh Diệu