NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nhật tạm dừng vốn viện trợ phát triển ( ODA : Official Development Assistance ) cho Việt Nam vì vụ công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương Pacific Consultants International ( PCI )

Nhiều công trình có vốn của Nhật Bản đã mọc lên, làm thay đổi bộ mặt hạ tầng của đất nước này như cầu Bãi Cháy, sân bay Tân Sơn Nhất, đường cao tốc đông tây Sài Gòn, đường hầm Hải Vân, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, dự án cải thiện môi trường nước ở Hà Nội và Thành Phố HCM.

Các chuyên gia nói việc Nhật ngừng cấp ODA là một ‘liều thuốc đắng’, nhưng sẽ giúp Việt Nam đánh giá lại việc quản lý nguồn vốn.

Giáo sư Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Nhật Bản, nói hôm 5-12-2008 rằng ông cũng “ hơi bất ngờ ” về quyết định của Nhật, nhưng đó là điều “ cũng dễ hiểu ”.

“Tiền vay nợ ở nước ngoài mà lại sử dụng không hiệu quả và để xảy ra tham nhũng và thất thoát.”

“Trong vụ PCI, quan chức Việt Nam bị cáo buộc nhận hối lộ đã được nêu tên mà trong suốt năm tháng trời vẫn tiếp tục ngồi trên cương vị đó.”

Ông Huỳnh Ngọc Sĩ, người bị cáo buộc nhận hối lộ từ quan chức công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương ( PCI ), gần đây mới bị thay thế.

Giáo sư Thọ nói bước đi “đã được cân nhắc kỹ” của Nhật sẽ khiến nhiều nước chú ý tới điều còn tồn tại ở Việt Nam.

“Cái đáng lo nhất là hình ảnh của Việt Nam xấu hơn hẳn trên trường quốc tế.”

Ông nói thêm: “ Tôi nghĩ quyết định của Nhật cũng là một áp lực để chính phủ Việt Nam phải làm ngay việc chống tham nhũng và quyết liệt hơn nữa ”.

Thuốc đắng

Cùng chung quan điểm với giáo sư Trần Văn Thọ, đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết, người đã mạnh mẽ lên tiếng về vụ PCI, cho rằng việc làm của Nhật là điều dễ hiểu.

“Vốn ODA là tiền đóng thuế của người dân Nhật nên họ muốn kiểm soát chặt chẽ. Nếu giờ không sử dụng hiệu quả, để thất thoát và làm giàu cho một số người thì không thể chấp nhận được.”

Trước khi ra quyết định tạm ngưng cấp ODA cho Việt Nam, hồi tháng Chín, Nhật đề nghị chính phủ Việt Nam thành lập ủy ban chung để giám sát nguồn vốn nay sau khi có các tiêu cực.

Ông Thuyết cho rằng có thể Nhật không quyết định bước đi trên “nếu chúng ta xử lý nhanh hơn, thể hiện sự kiên quyết hơn trong vụ PCI”.

“Đây đúng là một liều thuốc đắng, nhưng nó làm cho các cơ quan chức năng Việt Nam có biện pháp kiên quyết hơn trong việc quản lý vốn ODA.”

Đại biểu Quốc hội này nói nếu không xử lý tốt nguồn vốn ODA, “ con cháu của chúng ta sẽ phải gánh chịu hậu quả ”.

Nhật Bản là nước cấp ODA nhiều nhất cho Việt Nam với hơn 1 tỷ đôla trong số 5,4 tỷ đôla cam kết cho Việt Nam trong năm 2008.

"Lấy lại hình ảnh đất nước không phải để được nhận ODA!"

"Sự kiện PCI và quyết định của chính phủ Nhật ảnh hưởng đến thể diện của đất nước, đó là một tổn thất lớn. Tổn thất này không thể so với chuyện bị ngưng cung cấp ODA. Do đó, lấy lại hình ảnh tốt cho đất nước không phải là để được tiếp tục nhận ODA" - GS. Trần Văn Thọ - Giáo sư Waseda, Tokyo, Nhật Bản nhận định.

"PCI là vấn đề trực tiếp của Việt Nam, không phải của Nhật"

Theo ông, lý do nào khiến chính phủ Nhật Bản đi đến quyết định tạm ngừng cấp viện trợ ODA cho Việt Nam trong năm tới, đồng thời đóng băng lượng tài trợ khoảng 700 triệu đôla đã cấp trong năm nay ?

GS Trần Văn Thọ : Theo tôi, thái độ và cách tiến hành xử lý các vấn đề của Việt Nam liên quan đến vụ bê bối tham nhũng của công ty Tư vấn Thái Bình Dương (PCI) của Nhật cho đến thời điểm này là chậm trễ. Phải mất 5 tháng, phía Việt Nam mới ra quyết định đình chỉ ông Huỳnh Ngọc Sỹ, người được nêu đích danh trong vụ việc.

Mặt khác, phát biểu của một thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 17/8/2008, ( tức 2 tuần sau khi viện công tố Tokyo bắt tay khám xét và bắt giam các vị lãnh đạo PCI ở Nhật bản ) đã gây bất bình cho công luận ở Nhật trong khi người Nhật đang trông chờ một lời giải thích đúng đắn và tích cực từ phía Việt Nam.

Lòng tin của Nhật Bản bị ảnh hưởng khi thấy những người liên quan vụ việc ở phía họ đã bị xử lý và đã khai đúng tên họ cụ thể của quan chức Việt Nam mà phía Việt Nam không tiến hành điều tra ngay.

Nhật Bản không hy vọng sẽ thấy kết quả mong muốn. Do đó họ phải đi đến quyết định đó để tạo áp lực mà họ nghĩ áp lực này sẽ được cả công chúng Nhật Bản và Việt Nam ủng hộ.

Theo kết quả của Hội nghị các nhà tài trợ vừa qua thì trước mắt chưa có hiệu ứng domino. Nhưng tùy theo kết quả điều tra sắp tới của Việt Nam về việc này, tình hình năm tới có thể xấu hơn hoặc không.

Vậy theo ông, Việt Nam cần phải làm gì tiếp theo ?

GS Trần Văn Thọ : Bây giờ Việt Nam cần cho thấy thái độ nghiêm túc trong việc này. Tránh những phát biểu thiếu trách nhiệm, thiếu suy nghĩ như của ông Phó Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân TP HCM mới đây.

Cần nhận thức rằng đây là vấn đề trực tiếp của Việt Nam, không phải của Nhật ( chỉ gián tiếp ảnh hưởng đến chính sách ODA của Nhật ), Việt Nam trước hết phải điều tra nghiêm túc và kết quả phải thuyết phục được chính dân chúng Việt Nam.

Việt Nam phải cho thấy sẽ điều tra nghiêm túc vụ việc này, và chứng tỏ sẽ có biện pháp hữu hiệu trong việc phòng chống tham nhũng. Không thể chỉ cam kết mà phải có biện pháp cụ thể.

Chẳng hạn, trong ủy ban phòng chống tham những cần có tiếng nói độc lập với bộ máy nhà nước, cần để báo chí tự do phát hiện những tiêu cực.

Viện trợ ODA cho Việt Nam đồng nghĩa với việc Nhật Bản muốn gia tăng ảnh hưởng kinh tế - chính trị lên khu vực này. Vì thế, có quan chức Việt Nam đã tự tin nói rằng, cấp ODA cho Việt Nam là lợi ích của chính Nhật Bản, do đó sớm muộn Nhật phải nối lại ODA cho Việt Nam. Ông nghĩ sao về nhận định này ?

GS Trần Văn Thọ : Đúng là Nhật dùng ODA để tăng ảnh hưởng của mình ở khu vực Á châu. Nhưng không vì thế mà Nhật Bản có thể tiếp tục cấp ODA cho những nước dùng ODA một cách bất chính. Dư luận Nhật Bản không cho phép.

Dư luận thế giới cũng sẽ lên án, sẽ chê trách và cái giá của Nhật phải trả trong truờng hợp đó sẽ lớn hơn lợi ích chính trị, kinh tế do ODA mang lại. Theo tôi, quan chức Việt Nam không nên có thái độ lạc quan trong trường hợp này, và dù lạc quan thật sự cũng không nên phát biểu như vậy.

Có ý kiến cho rằng hành động dứt khoát này của Nhật lại có tác dụng tốt đối với Việt Nam vì người ta không thể chữa bệnh nan y nếu không có thuốc đắng được. Quan điểm của ông như thế nào về nhận xét này ?

GS Trần Văn Thọ : Tôi cũng có ý kiến như vậy. Nhiều năm nay tại Việt Nam hầu như ai cũng đồng ý rằng thất thoát trong xây dựng cơ bản rất lớn. Tệ nạn tham nhũng ai cũng thấy. Nhà nước cũng đã lập Ủy ban phòng chống tham nhũng. Nhưng rất tiếc là chúng ta chưa thấy được kết quả như mong muốn.

Qua sự kiện ảnh hưởng đến thể diện quốc gia này, dân chúng sẽ nghiêm khắc hơn nữa và nhà nước sẽ phải nghiêm túc hơn nữa.

Nhật cũng từng nhận ODA của Mỹ

Theo ông, sự việc này đã tác động như thế nào đến hình ảnh Việt Nam trong mắt công chúng và chính phủ Nhật Bản ?

GS Trần Văn Thọ : Dĩ nhiên đây là sự kiện rất đáng tiếc. Tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam thế giới đã biết. Hàng năm, nhiều tổ chức quốc tế điều tra tình hình tham nhũng và môi trường đầu tư tại các nước đã cho thấy như vậy. Ví dụ theo bảng xếp hạng về cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố tháng 9 năm nay, trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam xếp thứ 121.

Nhưng cho đến nay chỉ những tổ chức quốc tế, những người có đầu tư ở Việt Nam, có nghiên cứu, tìm hiểu về Việt Nam mới biết rõ tình trạng tham nhũng ở nước ta. Bây giờ qua sự kiện này, nguời dân bình thường ở Nhật cũng biết. Hình ảnh Việt Nam xấu đi trong lòng người Nhật là điều không tránh được.

Và cuối cùng, vấn đề là, liệu Việt Nam có nên cố gắng hết sức lấy lại hình ảnh chỉ để chứng minh Việt Nam là một nước xứng đáng được nhận vốn ODA từ các nước ? Có con đường nào khác cho Việt Nam phát triển trong thời điểm này nếu thiếu đi những đồng vốn ODA ?

GS Trần Văn Thọ : Sự kiện PCI và quyết định của chính phủ Nhật ảnh hưởng đến thể diện của đất nước, đó là một tổn thất lớn. Tổn thất này không thể so với chuyện bị ngưng cung cấp ODA.

Do đó, lấy lại hình ảnh tốt cho đất nước không phải là để được tiếp tục nhận ODA. Phải xem ODA chỉ là hiệu quả phụ trong vấn đề nầy.

ODA chỉ có vai trò giúp cho quá trình phát triển tiến nhanh chứ không phải có tính cách quyết định cho công cuộc phát triển. Những nước phát triển trước 1945 hầu như không nhận ODA.

Sau 1945, Nhật Bản có nhận ODA của Mỹ nhưng với kim ngạch rất nhỏ và chỉ trong thời gian 10 năm. ( Nhân tiện đây, tôi xin mở ngoặc, trong thời gian Nhật Bản nhận viện trợ của Mỹ, các Bộ trưởng, thứ trưởng khi đi công du nước ngoài luôn chọn ở khách sạn 3 sao, giá phòng ở thủ đô Mỹ Washington hồi đó khoảng 7 –8 USD/đêm, có lẽ tương đương 40-50 USD bây giờ, và ở chung 2 người một phòng ).

Sau thế chiến thứ hai, nhiều nước nhận ODA nhưng thành quả phát triển thì rất khác nhau. Chẳng hạn, Thái Lan và Philippines đều nhận nhiều ODA từ Nhật, nếu tính gộp từ năm 1960 đến năm 1995, tổng ngạch ODA của Nhật rót vào hai nước nầy hầu như ngang nhau. Nhưng Thái Lan thì phát triển mạnh mẽ còn Philippines thì trì trệ. Năm 1960, GDP đầu người của Philippines gấp đôi Thái Lan, nhưng đến năm 1995 thì chỉ bằng một nửa.

Như nhiều ước tính cho thấy, Việt Nam thất thoát tới khoảng 30% ngân sách các công trình trong xây dựng cơ bản. Vấn đề tiên quyết của Việt Nam bây giờ là cải thiện tình trạng này trước khi tính chuyện tìm thêm các nguồn tài trợ ODA.

Tại Việt Nam, ODA chỉ chiếm độ 25% trong tổng kim ngạch đầu tư của khu vực công. Do đó, nếu con số thất thoát 30% là đúng thì, nói một cách hơi cực đoan, dù không có ODA, kinh tế Việt Nam vẫn phát triển như bây giờ nếu tình trạng thất thoát hoàn toàn được khắc phục.

Hương Lan

Nhật tạm dừng viện trợ ODA cho Việt Nam vì vụ PCI

Bên lề Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam tổ chức ở Hà Nội ngày 4-12-2008, Đại sứ Nhật Bản Mitsuo Sakaba đã bị quây kín bởi báo chí trong và ngoài nước liên quan đến vụ PCI và ảnh hưởng của nó đến quyết định tạm ngưng viện trợ ODA của chính phủ Nhật Bản trong năm nay.

Đại sứ Mitsuo Sakaba nói:

Sau khi vụ PCI nổ ra, chúng tôi đã tạm ngừng các dự án ODA cho Việt Nam, nhưng không phải là cắt viện trợ mà chỉ là tạm ngưng thôi.

Có vẻ như Quốc hội Nhật Bản đang đưa ra nhiều sức ép với Việt Nam về vấn đề này ?

Quốc hội không vui với điều này. Họ muốn làm rõ vụ việc này. Chúng tôi đang tìm biện pháp để có thêm nhiều minh bạch trong các dự án ODA. Trong vụ PCI, tham nhũng diễn ra ở khâu tư vấn. Vì vậy, chúng tôi sẽ đưa ra thêm nhiều cơ chế để tránh các vụ tham nhũng xảy ra. Chúng tôi đã lập ra uỷ ban chung, làm việc chăm chỉ để có được kết luận.

Phản ứng của người dân Nhật ra sao ?

Tất nhiên họ không hài lòng.

Ông nghĩ sao về tiến trình xử lý của Việt Nam đối với vụ này ?

Chúng tôi vẫn đang tiếp tục hợp tác…

Vậy ông nghĩ sao về niềm tin của người dân Việt Nam đối với dự án ODA của Nhật ?

Chính tôi cũng không thể tin được rằng vụ này có thể xảy ra. Cuộc điều tra tại Nhật Bản vẫn đang tiếp diễn và đang có thêm những bằng chứng mới về vụ việc. Vụ tham nhũng khiến chúng tôi rất thất vọng. Và điều đó càng làm tăng thêm quyết tâm của chúng tôi trong việc chống tham nhũng.

Liệu vụ này có ảnh hưởng đến ODA của Nhật Bản ?

Tôi không thể nói với bạn về tác động của vụ PCI đối với nguồn vốn ODA từ Nhật Bản cho Việt Nam, vào lúc này. Tôi chỉ có thể nói rằng Nhật bản đã tạm ngừng ODA cho Việt Nam và chúng tôi đang chờ kết luận cuối cùng của ủy ban chung về vụ tham nhũng này cũng như cơ chế để tránh tham nhũng. Tôi chưa thể nói gì được thêm. Chúng tôi không nói sẽ giảm, hay cắt ODA cho Việt Nam. Chỉ là tạm ngừng thôi.

Tạm dừng tất cả các dự án ODA ?

Chúng tôi có hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi. Về cho vay ưu đãi, theo quy định chúng tôi phải thuê tư vấn đề giám sát chi tiêu cho dự án. Vì thế đối với các khoản vay ODA, chúng tôi phải làm sáng tỏ tình hình trước. Do vậy, chúng tôi đã đình chỉ quá trình cho vay ưu đãi vốn ODA cho Việt Nam. Còn hai loại viện trợ kia thì vẫn diễn ra bình thường.

Đây có phải lần đầu tiên Nhật Bản tạm dừng ODA cho một nước khác ?

Tôi không rõ vì không nắm hết các vụ việc.

Như vậy năm nay Nhật Bản sẽ không cam kết ODA cho Việt Nam ?

Đúng vậy. Cho tới khi vụ PCI được làm sáng tỏ và uỷ ban hỗn hợp phòng chống tham nhũng trong các dự án ODA của hai nước thiết lập được cơ chế mới để tạo tính minh bạch hơn cho hệ thống.

Khi nào sẽ làm việc đó ? Ông đánh giá thế nào về sự hợp tác của Việt Nam trong giải quyết vụ việc này thế nào ?

Chúng tôi đã đang làm việc rất tích cực và hy vọng sớm có kết luận trong tương lai rất gần.

Nhưng vụ hối lộ này có từ năm 2001 hay 2003 rồi mà bây giờ đã là gần năm 2009 ?

Tôi không thực sự biết về điều đó. Vụ này mới phát hiện năm nay. Trước đó chúng tôi không biết gì về vụ việc này. Trong quá trình điều tra một số scandal khác thì vụ việc liên quan đến Việt Nam mới lộ ra một cách bất ngờ. Chúng tôi đã rất ngạc nhiên. Dù sao thì việc điều tra đã được tiến hành, đã có hai phiên toà xử công khai. Nhiều dữ kiện mới đang tiếp tục hé lộ. Vì vậy, dựa vào các thông tin mới về vụ hối lộ, chúng tôi sẽ xây dựng cơ chế mới nhằm chống tham nhũng trong những vụ việc tương tự. Vì thế chúng tôi đang làm việc tích cực và hy vọng kết quả sẽ sớm được công bố.

Tư Giang

Vụ PCI và cái giá phải trả

Các nhà đàm phán ODA của Việt Nam cảm thấy choáng váng vì quyết định nhanh gọn của đại sứ Nhật Bản Mitsuo Sakaba trong phiên họp giữa Chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế để bàn về cam kết viện trợ cho năm tới.

Sau khi đọc một diễn văn gần hai trang bày tỏ thông cảm về khó khăn kinh tế của Việt Nam, sự hợp tác giữa hai nước, đại sứ thông báo ngắn gọn: “Cho đến khi các biện pháp có ý nghĩa và hiệu quả được đưa ra bởi uỷ ban chung ( chống tham nhũng ), rất khó để giành lại sự ủng hộ của công luận Nhật Bản để tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam, và chúng tôi không thể cam kết các khoản vay mới”.

Đây là lần đầu tiên một nhà tài trợ chính thức tuyên bố ngừng các khoản vay bởi các cáo buộc liên quan đến tham nhũng kể từ khi Việt Nam tái tiếp nhận chương trình viện trợ của cộng đồng quốc tế tháng 11-1993.

Không như vụ PMU 18 xảy ra cách đây vài năm, khi các nhà tài trợ là ngân hàng Thế giới và ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản JBIC đều tuyên bố không có tham nhũng trong các dự án của họ, hay sự cố sụt mố cầu Cần Thơ hai năm trước, vụ PCI của năm 2008 đã khác hẳn. Nó đã có bằng chứng tham nhũng, khi các cơ quan thực thi pháp luật của Nhật Bản đã bắt giam bốn quan chức của công ty tư vấn PCI. Rõ ràng, việc Nhật Bản, nước tài trợ lớn cho Việt Nam trong 15 năm qua tuyên bố ngừng các khoản vay mới đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mục tiêu có được 5,4 tỉ USD vốn ODA cam kết trong năm tới của Việt Nam.

Nhưng, điều quan trọng hơn, đó là hình ảnh của đất nước được ca ngợi là quốc gia tiếp nhận ODA hiệu quả nhất đã bị xâm hại nghiêm trọng. Điều đáng buồn là sự phản ứng của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam đối với vụ này quá chậm. Nhiều nguồn tin cho biết, cho đến sát giờ hội nghị khai mạc sáng qua, các nhà đàm phán của Việt Nam vẫn không nắm được ý của Nhật Bản. Hẳn là phía Nhật Bản vẫn có ý chờ đợi một biện pháp mạnh tay và quyết liệt hơn từ Chính phủ với vụ PCI.

Kể từ khi nối lại viện trợ cho Việt Nam vào năm 1981, Nhật Bản liên tục dẫn đầu danh sách các nhà tài trợ song phương với vốn ODA chiếm 30% tổng cam kết. Điều dễ nhận thấy, là nhiều công trình có vốn của Nhật Bản đã mọc lên, làm thay đổi bộ mặt hạ tầng của đất nước này như cầu Bãi Cháy, sân bay Tân Sơn Nhất, đường cao tốc đông tây Sài Gòn, đường hầm Hải Vân, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, dự án cải thiện môi trường nước ở Hà Nội và TP.HCM. Thật tiếc thay.

Tư Hoàng

Cam kết với dân

Trong khi, bộ trưởng Võ Hồng Phúc quan tâm tới các con số: “Nếu không có vụ PCI, cam kết ODA có thể vượt qua 6 tỉ”. Thì, đại sứ Nhật, ông Mitsuo Sakaba, nêu lên một sự thật đau lòng: “Sẽ khó lấy lại sự ủng hộ từ công chúng Nhật Bản để thúc đẩy viện trợ thêm cho Việt Nam”. Nhật là nhà tài trợ ODA lớn nhất, tuy nhiên, theo ông Sakaba: “Tất cả các thủ tục liên quan đã bị tạm ngưng kể từ sau khi vụ tham nhũng PCI được lôi ra ánh sáng”. Xử lý dứt điểm vụ PCI giờ đây cũng có thể như là một cam kết, nhưng sẽ là sai lầm khi coi đó là cam kết với “công chúng Nhật” hay với các nhà tài trợ thay vì cam kết với nhân dân và với tương lai đất nước.

Không mấy ai bất ngờ về quyết định nói trên của người Nhật. Năm tháng sau khi các quan chức PCI của Nhật khai là họ phải hối lộ 2,6 triệu USD cho ông Huỳnh Ngọc Sĩ, giám đốc ban quản lý dự án đại lộ đông tây, ông Sĩ mới bị đình chỉ chức vụ. Sử dụng cán bộ thì phải tin, nhưng niềm tin ấy không chỉ đến từ cấp trên mà còn phải đến từ nhân dân. Năm tháng qua, ông Sĩ đã không còn niềm tin của người dân cũng như không còn niềm tin của những nhà tài trợ. Dù rằng, những “chứng cứ mà phía Nhật cung cấp” là còn “sơ sài”. Nhưng, Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động thu thập các chứng cứ này bởi chống tham nhũng không phải vì người Nhật. (Cho đến khi các quan chức Nhật ra toà nhận tội, một quan chức chống tham nhũng thừa nhận trên báo Tuổi Trẻ là vẫn đang “chờ chỉ đạo” và cảnh sát chưa hề lấy cung ông Sĩ).

Có thể vụ PCI đã không gây hậu quả về uy tín tới mức như vậy nếu như nó không xảy ra đồng thời với các diễn biến “hậu PMU” trong đó có sự kiện bắt hai nhà báo. Bộ trưởng Võ Hồng Phúc nhấn mạnh, hai nhà báo ra toà là bởi họ vi phạm pháp luật Việt Nam chứ không phải vì họ đưa tin chống tham nhũng. Nhưng, vấn đề không phụ thuộc vào cách giải thích của bộ trưởng ta mà là ở cách hiểu của các nhà tài trợ. Trong cuộc đối thoại về chống tham nhũng với Chính phủ, đại sứ Phần Lan đã nói rằng, “không nên nhằm bắt người đưa tin cho dù họ có phần nào sai sót”.

Ba năm trước, Bùi Tiến Dũng, tổng giám đốc PMU 18, bị bắt giam vì đánh bạc. Cho dù số tiền mà Bùi Tiến Dũng dùng để cá độ mà cơ quan điều tra chứng minh được là 760 nghìn chứ không phải 2,6 triệu USD như nguồn tin ban đầu thì đó vẫn là một tài sản mà không có quan chức chân chính nào có thể mong có được. Nhưng Bùi Tiến Dũng vẫn chưa bị xét xử bởi các tội danh tham nhũng. Đành rằng, không thể buộc Bùi Tiến Dũng tham nhũng nếu toà không có chứng cứ. Nhưng, nếu như một nhà nước không có các thiết chế kiểm soát thu nhập của các quan chức, bó tay trong khi những kẻ tham nhũng có thể giàu thêm hàng triệu đô la, thì các nhà tài trợ và người dân làm sao có thể tin là tiền bạc của mình sẽ không bị xà xẻo khi đặt vào tay quan chức.

Nếu như, sau khi không thể thu thập chứng cứ chống tham nhũng trong vụ PMU 18, các cơ quan pháp luật tập trung nghiên cứu các thiết chế để tham nhũng có thể bị ngăn chặn hữu hiệu hơn thì việc điều tra vụ PCI có thể đã không bị kéo dài như thế. Cho đến nay, tài sản của ông Huỳnh Ngọc Sĩ vẫn đang là một bí mật với người dân dù theo quy định thì ông Sĩ thuộc vào hàng cán bộ phải kê khai tài sản. Không thể chống tham nhũng nếu thiếu sự minh bạch, nếu ai muốn giữ “quyền được bí mật về tài sản” thì cứ làm dân. Nếu như một thường dân mua nhà mua xe là chuyện riêng tư thì một người đang có chức, có quyền, mua hạt xoàn cho vợ, sắm xe hơi cho con phải trở thành những sự kiện được công khai trên báo chí. Rất khó để có được “biên nhận” của những khoản tiền hối lộ trong khi dân vẫn có thể xác định những bất động sản mà các quan chức có được trong thời gian nắm quyền, kể cả những tài sản chuyển sang tên người khác.

Không phải tự nhiên mà sau khi khảo sát tình hình chống tham nhũng ở các địa phương, các nhà tài trợ nói trong cuộc đối thoại với Chính phủ về chống tham nhũng hôm 28-11-2008 rằng, để các chủ tịch uỷ ban nhân dân đứng đầu ban chỉ đạo chống tham nhũng là “mâu thuẫn về lợi ích”. Nhưng, cho dù các ban chỉ đạo chống tham nhũng không đứng trước những “mâu thuẫn về lợi ích”, quyết tâm chống tham nhũng cũng rất khó thực hiện nếu như những mắt xích trong bộ máy không được tôn trọng và không làm tốt vai trò của mình. Những người như ông Huỳnh Ngọc Sĩ chắc chắn sẽ khó trở thành giám đốc ban quản lý dự án đại lộ đông tây nếu việc bổ nhiệm ông được đưa ra phê chuẩn tại hội đồng nhân dân. Các đại biểu của dân, chắc chắn sẽ không chấp nhận ông Sĩ, một người mà khi làm giám đốc công ty Thanh niên xung phong đã xây dựng những công trình tai tiếng như trạm thu phí xa lộ Hà Nội và đường Nguyễn Hữu Cảnh, trở thành giám đốc quản lý dự án đại lộ đông tây, một công trình quan trọng.

Cũng trong cuộc đối thoại hôm 28-11-2008, tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền kêu gọi các nhà báo “phải dám đương đầu”. Ông tổng thanh tra nói như vậy có thể vì ông ý thức được rằng không thể chống tham nhũng nếu không có sự công khai, minh bạch. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà báo đều có thể dũng cảm chỉ sau một lời động viên. Chính ông Truyền cũng đã phải thừa nhận là đã xuất hiện “một số phóng viên ngán ngại” sau vụ xử hai nhà báo. Muốn nhân dân và báo chí trở thành đồng minh thì phải có những cam kết cải cách để một xã hội dân sự có thể hình thành và mọi người đều có được sự an toàn khi “đương đầu” với tham nhũng.

Huy Đức