NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên : Quan điểm của một kỹ sư - KS Đặng Đình Cung , Kiều bào Pháp

Gần đây các báo mạng nêu ba ý kiến về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên : tiếp tục khai triển, hủy bỏ dự án và hoãn lại thực hiện dự án. Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải xét một số chỉ tiêu khả thi của dự án :

- Dự án có khả thi kinh tế không ?

- Dự án sẽ xâm phạm môi trường thiên nhiên đến độ nào ?

- Dự án sẽ gây những xáo trộn gì về mặt văn hóa xã hội ?

- Dự án sẽ mang lại tiến bộ công nghệ nào ?

Đánh giá chỉ tiêu thứ nhất rất khó nhưng chuyên gia về nghiên cứu khả thi có thể tính và quy ra tiền tệ được một cách khách quan. Những chỉ tiêu tiếp theo là những hiệu ứng ngoại ( external effects ) của dự án . Chúng rất quan trọng nhưng ít dự án trưởng nghiên cứu chúng vì không thể quy ra tiền tệ được. Vì tính chủ quan của chúng các chính phủ trên thế giới thường đặt trước một số tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các cơ sở xây dựng và khai thác nông nghiệp, công nghiệp cũng như dịch vụ.

Từ những thông tin đã được thu gom và đánh giá lại, chúng tôi xin trình bày trong bài này quan điểm của chúng tôi, một kỹ sư chỉ có nhiệm vụ giải đáp phải chăng những đòi hỏi thực tiễn của người dân. Chúng tôi sẽ dựa trên :

- Những văn bản chính thức của Nhà Nước Việt Nam ( hiến pháp, luật, nghị định, công văn,...),

- Những thông tin, tuyên bố các vị lãnh đạo và quan điểm các chuyên gia trong nước đăng trên mạng Internet,

- Và những gì chúng tôi biết về ngành khai thác mỏ mà chúng tôi đã đăng trên báo Thời Đại Mới.

Phần I – Khả thi kinh tế

Bauxite Tây Nguyên trong chiến lược kinh tế Việt Nam

Việt Nam có năm tài nguyên khoáng sản lớn : dầu ( một tỷ tấn ), khí ( 835 tỷ mét khối ), than ( 200 tỷ tấn ), sắt ( 650 triệu tấn ) và bauxite ( 2,3 tỷ tấn ). So với nhiều nước khác thì trữ lượng dầu và khí không đáng là bao nhiêu. Về than và sắt thì trữ lượng công bố có vẻ quá lạc quan và chưa được các chuyên gia quốc tế xác nhận. Về bauxite thì trữ-lượng ước khoảng 5 đến 8 tỷ tấn đã được phát-hiện và 2,1 đến 2,5 tỷ tấn có giá-trị kinh-tế . Chúng ta xếp hạng ba thế-giới về trữ-lượng bauxite ( bảng 1 ). Gần như hầu hết trữ-lượng này nằm ở Tây-Nguyên.

Bảng 1 – Trữ lượng bauxite của một số nước ( 1.000 t )

Quốc Gia Có giá trị kinh tế Đã được phát hiện
Guinea 7.400.000 8.600.000
Australia 5.800.000 7.900.000
Việt Nam 2.100.000 5.400.000
Jamaica 2.000.000 2.500.000
Brazil 1.900.000 2.500.000
Thế giới 27.000.000 38.000.000

( Nguồn : USGS )

Lẽ cốt nhiên với trữ lượng lớn đến vậy về một kim loại thông dụng hạng nhì sau thép thì chúng ta chịu sức ép của cả thế giới để khai thác bauxite chứ không chỉ riêng gì của những ngành công nghiệp Việt Nam. Và chúng ta khó mà có thể cưỡng được sức ép đó.

Theo bảng 2, tính từ số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK), dầu thô trang trải 27 % tổng chi Nhà Nước, gần bằng chi cho đầu tư phát triển và hai lần kim ngạch thu từ hải quan. Nhận xét này rất quan trọng vì, nếu không có dầu thô thì chính phủ sẽ phải tìm nguồn thu nhập khác như là tăng thuế, tăng tỷ số lợi nhuận các xí nghiệp quốc doanh hay là giảm những mục chi tiêu như là những khoản chi chính phủ không công bố để tùy tiện dùng, hay những khoản chi cho phát triển kinh tế xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo. Nhưng nguồn dầu thô đang cạn nên cần có một “rờ le” khác tiếp nối. Rờ le đó có thể là quặng sắt và quặng bauxite mà chúng ta có nhiều.

Bảng 2 Ngân sách Nhà Nước Việt Nam

* (a) (b) (c)
Tổng thu ngân sách Nhà Nước 279.472 90,7 16,3
Thu trong nước ( Không kể thu từ dầu thô ) 145.404 47,2 16,6
Thu từ dầu thô 83.346 27,1 22,9
Thu từ hải quan 42.825 13,9 6,1
Thu viện trợ không hoàn lại 7.897 2,6 25,1
Tổng chi ngân sách Nhà Nước 308.058 100,0 14,6
Chi đầu tư phát triển 88.341 28,7 13,4
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội 161.852 52,5 14,6

( Tính từ số liệu của TCTK )

(a) Tỷ đồng Việt Nam ( giá trị 1994 ).

(b) Phần trăm tổng chi ngân sách Nhà Nước.

(c) Phần trăm tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2002 đến 2006.

Tuy nhiên, theo bảng 3 cũng tính từ số liệu của TCTK thì kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh mặc dù tỷ trọng của công nghiệp khai thác mỏ không lớn mấy và không thăng trưởng nhiều so với những ngành kinh tế khác[vi]. Trong năm 2007, chúng ta chỉ sản xuất được có 30.000 tấn bauxite. Nói một cách khác, chúng ta không cần đến công nghiệp khai thác mỏ để có tỷ số tăng trưởng kinh tế hạng nhì thế giới.

Bảng 3 Tổng sản lượng quốc nội ( 2007 )

* (a) (b) (c)
Tổng số 461.443 100,0 6,3
Công nghiệp khai thác mỏ 22.520 4,9 1,8
Công nghiệp chế biến 113.282 24,5 9,2
Những ngành kinh tế khác 325.641 70,6 5,8

( Tính từ số liệu của TCTK )

(a) Tỷ đồng Việt Nam ( giá trị 1994 ).

(b) Phần trăm tổng sản lượng quốc nội năm 2007.

(c) Phần trăm tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2003 đến 2007 .

Chúng ta có một chút tài nguyên thiên nhiên và chúng ta lại đang nhập siêu về dầu tinh chế, kim loại đen và kim loại màu, những nhu yếu phẩm của các ngành công nghiệp. Tại sao chúng ta không khai thác một phần để sớm thoát khỏi cảnh nghèo khó ? Mặt khác, kinh tế chúng ta cho tới nay tăng trưởng mạnh mà không cần đến ngành khai thác mỏ và nếu tăng cường khai thác mỏ thì :

- Môi trường thiên nhiên sẽ bị xâm phạm.

- Kinh tế sẽ bất ổn vì giá thị trường sản vật bất ổn.

- Nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác sẽ mắc bệnh Hà Lan và có thể sẽ bị lôi cuốn vào vòng xoáy suy thoái kinh tế.

Khả thi phía TKV

Một xí nghiệp đầu tư dùng một chỉ tiêu duy nhất để quyết định. Đó là tỷ số lợi nhuận: người ta chọn thực hiện những dự án theo thứ tự có tỷ số lợi nhuận cao nhất cho tới khi hết ngân sách đầu tư hay chỉ còn những dự án có tỷ số lợi nhuận kém hơn là tỷ số lãi của thị trường tài chính. Tỷ số lợi nhuận được tính từ lượng sản phẩm có thể bán, giá thành trung bình và giá bán trung bình trong tất cả thời gian xây dựng và vận hành cơ sở kinh doanh. Lẽ cốt nhiên những nhân tố đó của dự án phải tính đến tất cả những chi phí hay thất thu suy ra từ việc tôn trọng toàn bộ pháp quy của nước chủ nhà. Đối với dự án bauxite Tây Nguyên, những bộ luật quan trọng là Luật Lao động, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Khoáng sản, những Nghị quyết Quốc hội và các Nghị định hướng dẫn.

Chúng tôi đồng ý với Ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Than và Khoáng sản (TKV), khi ông bày tỏ : "Đời dự án dài tới hơn 40 năm, tất cả các thông số chỉ là dự báo. [...] Nếu chưa triển khai mà đã kết luận chúng tôi sẽ bị lỗ thì tôi e rằng hơi sớm”. Nhưng chúng tôi không đủ thông tin để nghĩ rằng nghiên cứu khả thi dự án bauxite Tây Nguyên đã được thực hiện một cách đầy đủ cân nhắc tỷ số lợi nhuận của tất cả các dự án phản biện ( alternative project ) và những tỷ số đó đã được tính trên những cơ sở tính toán rõ rệt.

Khi nghiên cứu một dự án lâu dài như một dự án khai thác mỏ, người ta dùng những thông số trung gian dựa trên kinh nghiệm những dự án tương tự. Với những thông số đó và những số liệu cá biệt của dự án đang được nghiên cứu, người ta suy ra tỷ số lợi nhuận dùng làm tiêu chuẩn để quyết định thực hiện dự án hay không. Tỷ số lợi nhuận chỉ có thế tính được một cách chính xác khi dự án đã được thực hiện và kết thúc. Trước đó thì chỉ có thể tính được với một một độ chính xác (accuracy) nào đó. Mặc dù không chính xác, người ta cũng vẫn dựa vào đó để quyết định thực hiện dự án hay không. Đòi biết chính xác tỷ số lợi nhuận thì mới quyết định thì sẽ không bao giờ thực hiện một dự án nào cả.

Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tuyên bố dự án Nhân Cơ khi đi vào hoạt động sẽ có lãi là 10,59 %, dự án Tân Rai sẽ có lãi 12,45 %. Chúng tôi thán phục tính chính xác những con số ông Hải nêu ra cho một dự án có đời sống hơn một phần tư thế kỷ. Là một lãnh đạo Nhà Nước, khi nêu những tỷ số lợi nhuận đó ông Hải nêu tỷ số lợi nhuận của TKV hay tỷ số lợi nhuận của Nhà Nước bao gồm cả lợi nhuận của TKV và lợi ích công cộng ? Chúng tôi giả tỷ ông Hải muốn nói về tỷ số lợi nhuận của TKV thôi.

Thông thường thì, khi tính tỷ số lợi nhuận, người ta không kể đến lạm phát. Người ta dùng tỷ số lợi nhuận nội ( internal return rate ) rồi so sánh với lạm phát và tỷ số lãi cho vay của thị trường tài chính. Dựa trên số liệu của ông Hải những kết luận của chúng tôi là như sau :

- Nếu đã trừ tỷ số lạm phát thì một tỷ số lợi nhuận trên 10 % là quá lạc quan.

- Nếu phải tính thêm tỷ số lạm phát trung bình ở Việt Nam từ mười năm nay, khoảng 7 % mỗi năm, thì tỷ số lợi nhuận theo giá quy chiếu chỉ còn có 3,3 % cho dự án Nhân Cơ và 5,0 % cho dự án Tân Rai.

- Và nếu sau đó còn phải trừ tỷ số lãi cho vay của thị trường tài chính, khoảng 5 % mỗi năm, thì dự án Nhân Cơ lỗ và dự án Tân Rai vừa đủ hoàn vốn.

Tỷ số lạm phát và tỷ số lãi cho vay chúng tôi dùng đây là những tỷ số trung bình cho dài hạn ( long term average rate ).

Ông Kiển khẳng định : "Sau 13 năm, chúng tôi sẽ hoàn vốn". Chúng tôi không biết ông Kiển lấy tỷ số lãi ( discount rate ) nào để tính thời gian hoàn vốn này. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng thời hạn hoàn vốn 13 năm là lâu. Thông thường những người đầu tư tài chính đòi phải được hoàn vốn trong 5 năm, quá lắm là 7 năm và bất dắc dĩ mới chịu 10 năm.

Ông Kiển có thể nói rằng đây là một dự án có lợi cho một quốc gia nên phải tính lâu dài hơn. Lợi ích công cộng là trách nhiệm của chính phủ chứ không phải là trách nhiệm của một Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Vị đó chỉ có một trách nhiệm là tối ưu hoá lợi nhuận của xí nghiệp mình trong khuôn khổ pháp quy Nhà Nước. Nếu không hoàn vốn mau thì những đối tác có vốn sẽ đầu tư vào những dự án khác có thời hạn hoàn vốn ngắn hơn. Còn về lợi ích công cộng nếu luật Nhà Nước tốt thì lợi ích công cộng sẽ được tối ưu khi một xí nghiệp tối ưu hoá lợi ích ích kỷ của mình trong khuôn khổ pháp quy Nhà Nước.

Theo kinh nghiệm những dự án khai thác mỏ trên thế giới và theo báo cáo tổng kết hàng năm các tập đoàn khoáng sản đã được niêm yết thì tỷ số lợi nhuận một dự án khai thác mỏ thường rất cao. Vậy, chỉ có ba khả năng một dự án khai thác mỏ có tỷ số lợi nhuận kém hay lỗ lã :

- Chiến lược đầu tư sai.

- Lãnh đạo và cán bộ chủ đầu tư tham nhũng.

- Chủ đầu tư bị lừa bịp.

Nếu không có ba tình trạng tiêu cực đó thì quan điểm chủ quan của chúng tôi là dự án khai thác bauxite Tây Nguyên nhất định sẽ mang lại lợi nhuận lớn.

Nhưng lợi nhuận đó chia cho ai và chia thế nào ?

Ngày 02-05-2008 Thủ tướng Chính phủ cho phép TKV thành lập công ty cổ phần với sự tham gia của công ty alumin nước ngoài với mức cổ phần không quá 40 %, TKV giữ 51 %, bán cổ phần ra công chúng 9 %. Như vậy đâu có nghĩa vỏn vẹn là TKV sẽ mang 51 % vốn và sẽ được chia 51 % lãi của công ty được phép thành lập. Xếp đặt một dự án lớn phức tạp hơn nhiều.

Một công trình xây dựng công nghiệp đại khái có ba tác nhân chính :

Nhà đầu tư, nhà thầu và tác nhân vận hành khai thác. Mỗi tác nhân đó đại diện cho một số đối tác khác. Nhà đầu tư có thể là một ngân hàng duy nhất, nhưng cũng có thể là một số cá nhân hay xí nghiệp tài chính chia nhau vốn và rủi ro kinh doanh trong dự án. Nhà thầu có thể là một consortium bao gồm một số xí nghiệp có tay nghề, phương tiện xây dựng, công nghệ,… khác nhau. Tác nhân vận hành khai thác có thể là một consortium tập hợp những xí nghiệp có tay nghề đảm nhiệm mỗi khâu của quá trình sản xuất. Nhiều khi tác nhân vận hành khai thác đầu tư vào dự án để sau này có độc quyền bán dịch vụ vận hành cơ sở sản xuất. Trong một dự án lớn một số tác nhân tham gia vào dự án để có thể mua dài hạn một phần sản lượng với những điều kiện thương mại đã được thoả thuận trong hợp đồng hợp tác. Mỗi tác nhân nghiên cứu khả thi phần của họ tuỳ kết quả thương lượng hợp đồng hợp tác sẽ được ký kết. Lẽ cố nhiên họ chỉ tính tỷ số lợi nhuận của riêng họ chứ không quan tâm gì đến những đối tác khác thua thiệt hay không.

Vì thể thức làm ăn như vậy chúng tôi xin đặt vài câu hỏi :

- (a) TKV đầu tư vào những hạng mục gì, sẽ đảm nhiệm vận hành khâu nào, được chia bao nhiêu phần sản phẩm và những sản phẩm đó thuộc loại gì ( bauxite, alumin hay nhôm ) ?

- (b) Tỷ số lãi của vốn TKV đầu tư là bao nhiêu; TKV được thù lao bao nhiêu cho dịch vụ vận hành những cơ sở sản xuất và mua phần sản phẩm của mình, bán lại phần sản phẩm không mua hết và mua thêm phần sản phẩm còn thiếu theo bảng giá nào ?

- (c) Một dự án khai thác mỏ cần nhiều vốn mà thu hoạch bấp bênh vì giá thị trường thế giới biến đổi rất mau rất mạnh. Công ty hợp doanh TKV đã thành lập có dự trù đủ tài chính để có thể cầm cự khi giá thị trường xuống không ?

- (d) Khi nghiên cứu khả thi thì TKV đã tính đến những nhân tố đó chưa ?

Nếu không nắm rõ được những điểm này thì sẽ tính tỷ số lợi nhuận dựa trên cơ sở không đầy đủ.

Khả thi phía Nhà nước

Vì Nhà nước là chủ nhân, qua Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC), 100 % vốn của TKVchính phủ phải quan tâm đến tỷ số lợi nhuận của tập đoàn này như là một cổ đông thường. Nhưng chính phủ cũng có trách nhiệm đối với quốc dân nên phải quan tâm đến hai lợi ích nữa : lợi ích của Nhà nước và lợi ích của nhân dân. Phần nghiên cứu khả thi phía Nhà nước đánh giá lợi ích của Nhà nước và lợi ích của nhân dân.

Nếu xét một dự án nhỏ thực hiện trong một khu công nghiệp thì không cần phải nghiên cứu khả thi phía Nhà nước vì nghiên cứu đó đã được tiến hành và các giải đáp ổn thoả đã được chấp nhận cho tất cả các cơ sở sản xuất trước khi xây dựng khu công nghiệp. Nhưng với một dự án lớn vận động cả nghìn tỷ bạc, xáo trộn xã hội và xâm phạm nặng môi trường thiên nhiên như dự án bauxite Tây Nguyên thì vấn đề khả thi phía Nhà Nước phải được đặt ra, phải có giải đáp và những giải đáp phải được đánh giá trước khi ra quyết định về tính thích đáng của dự án. Đòi hỏi đó hiển nhiên nên Quốc hội đã ra Nghị quyết 66/2006/QH11 ngày 29 06 2006, "Về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư".

Lợi ích của Nhà Nước và của nhân dân bao gồm những hiệu ứng ngoại của dự án. Những hiệu ứng ngoại gồm :

- Những khoản chi thu của Nhà Nước và của nhân dân có thể quy ra tiền tệ được mà chúng tôi trình bày ở phần này.

- Và những khoản không thể quy ra tiền tệ một cách khách quan, như là bình yên xã hội, toàn vẹn môi trường thiên nhiên và phát triển công nghệ mà chúng tôi sẽ trình bày ở những phần sau.

Về những khoản chi thu có thể quy ra tiền tệ được, chúng tôi không có đủ thông tin về dự án bauxite Tây Nguyên nên xin đặt vài câu hỏi liên quan đến hiệu ứng ngoại của dự án.

Đối với Nhà Nước :

- Chính phủ sẽ phải đầu tư bao nhiêu để hỗ trợ sự nảy sinh những việc làm gián tiếp từ dự án và bao nhiêu cho hạ tầng để tiếp nhận nhân khẩu phụ thêm sinh ra từ những việc làm trực tiếp và gián tiếp của dự án ?

- Những lao động mới, trực tiếp và gián tiếp và những cơ sở sản xuất mới sẽ trả bao nhiêu thuế thu nhập và chính phủ sẽ phải đầu tư và hàng năm chi thêm bao nhiêu về an sinh, giáo dục và đào tạo ?

- Chính phủ sẽ cử thêm bao nhiêu công chức ( thanh tra lao động, thanh tra môi trường, thanh tra thuế, thanh tra xã hội, cảnh sát,...) và những công chức đó sẽ tốn bao nhiêu về đào tạo, đầu tư và bồi dưỡng ?

Đối với nhân dân :

- Dự án sẽ mang lại bao nhiêu thuế cho chính phủ và chính quyền địa phương ?

- Dự án sinh ra bao nhiêu việc làm trực tiếp và gián tiếp ?

- Những lao động mới này sẽ có bao nhiêu lợi nhuận ( lương trực tiếp trả cho nhân viên cộng với lương gián tiếp an sinh và bồi dưỡng kỹ năng ) và sẽ trả bao nhiêu thuế lợi tức cá nhân ?

Khả thi kỹ thuật

Về nội dung Quyết định 167/2007/QĐ TTg ngày 07 11 2007, "Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007 2015, có xét đến năm 2025", chúng tôi xin đặt vài câu hỏi và xin phát biểu những quan điểm sau đây :

(a) Thủ tướng cho phép TKV thành lập một công ty cổ phần với sự tham gia của công ty alumin nước ngoài khai thác bauxite và sản phẩm alumin tại Tân Rai ( tỉnh Lâm Đồng ) và Nhân Cơ ( Đăk Nông ) và đặt hàng năm, công ty cổ phần này nộp ngân sách nhà nước 10 % lợi nhuận sau thuế của công ty ( thương quyền của Chính phủ Việt Nam đối với mỏ bauxite ). Lối tính thuế này không tuân theo Điều 34 của Luật Khoáng sản quy định "Thuế tài nguyên khoáng sản được tính trên sản lượng khoáng sản thương phẩm thực tế khai thác được và theo giá bán" chứ không theo lợi nhuận sau thuế của công ty. Các nước khác đều quy định như vậy. Với những thủ đoạn kế toán hoàn toàn hợp pháp và dựa trên quy định của thủ tướng, những xí nghiệp mỏ sẽ khai bao nhiêu lãi sau thuế để trả bao nhiêu thuế cho Nhà Nước ?

(b) Những hạng mục cung cấp điện, cung cấp nước, xử lý nước thải, sản xuất xút ( hydroxyd natri ), cryolith, hạ tầng và những phương tiện vận tải và bến cảng,... sẽ do tác nhân nào đầu tư và vận hành ? Giải đáp câu hỏi này sẽ ảnh hưởng mạnh đến tỷ số lợi nhuận của TKV, lợi ích của Nhà Nước và tính công minh hai bên cùng có lợi của những hợp đồng hợp tác quốc tế.

(c) Trên phương diện quản lý công nghiệp người ta khai thác những nguồn tài nguyên nguyên liệu dễ khai thác nhất, dùng những phương tiện sản xuất có năng suất cao nhất và xâm nhập những thị trường có lợi nhất. Sau đó sẽ tuần tự xuống cấp khi trữ lượng tài nguyên giảm, phương tiện sản xuất tiến gần giới hạn của tiềm năng và thị trường chính gần bão hoà. Chúng tôi xin đề nghị hoãn lại sau 2025 nghiên cứu khả thi và thực hiện những dự án khai thác, chế biến bauxite quy mô vừa và nhỏ gồm các vùng Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và ven biển miền Trung. Trong khi chờ đợi, công tác thăm dò địa chất vẫn cần tiếp tục để sau này có thể tối ưu hoá khai đào. Trước mắt, tập trung vốn và nhân lực vào những dự án bauxite ở Tây Nguyên mang lợi tức nhiều và mau hơn.

(d) Về công suất các nhà máy chế biến, chúng tôi lấy lại công suất các nhà máy alumin là 6,4 đến 8,4 triệu tấn/năm ở giai đoạn 2007-2015 và 12,8 đến 18,0 triệu tấn/năm ở giai đoạn 2016 đến 2025 (phần III của Quyết định) trong khi đó công suất nhà máy điện phân chỉ là 0,2 đến 0,4 triệu tấn/năm ở giai đoạn 2007-2015 và thêm 0,2 đến 0,4 triệu tấn/năm ở giai đoạn 2016 đến 2025 (phần IV của Quyết định). Nếu áp dụng thông số kỹ thuật hai tấn alumin để chế biến thành một tấn nhôm thì công suất các nhà máy điện phân phải là 3,2 đến 4,2 triệu tấn/năm ở giai đoạn 2007 đến 2015 và 6,4 đến 9,0 triệu tấn/năm ở giai đoạn 2016 đến 2025 . Phải chăng chiến lược của chính phủ chỉ là xuất khẩu alumin chứ không xuất khẩu nhôm có giá trị thương mại cao hơn ? Nếu giả thuyết này đúng thì Quyết định 167/2007/QĐ TTg vi phạm Đoạn 4, Điều 5 của Luật Khoáng sản hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô, tinh quặng.

(e) Chắc có lẽ chính phủ không quy hoạch điện phân nhôm tại vì nghĩ rằng Việt Nam đang thiếu điện và giá điện đắt. Suy nghĩ này không đúng do lầm lẫn giữa điện nhu yếu phẩm của người dân và điện nhân tố sản xuất. Điện nhu yếu phẩm ở Việt Nam hiếm và đắt vì Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) không biết quy hoạch lâu dài và không biết tính kinh tế phân biệt chi phí lề và chi phí trung bình. Còn điện nhân tố sản xuất, nếu cần, thì phải xây nhà máy điện, sản lượng ưu tiên dành cho sản xuất và giá thành xung vào giá thành của sản phẩm. Cụ thể, nói rằng ở Tây Nguyên Trung Bộ thiếu điện để sản xuất và giá thành cao là một điều mà chúng tôi không thể tin được.

(f) Nếu tải 18,0 triệu tấn/năm thì hệ thống hậu cần phải có công suất 50.000 tấn/ngày. Một khối lượng như vậy chỉ có thể chở được bằng đường sắt. Nếu mỗi đoàn tàu xe hoả chở tối đa 2.000 tấn, mỗi ngày phải sẽ có tôi thiểu 25 chuyến tàu. Giả tỷ đường sắt hoạt động 24 giờ mỗi ngày (nghĩa là hoạt động không ngừng để bảo quản cấp I) thì mỗi giờ sẽ có khoảng hơn một chuyến đi và hơn một chuyến về. Với tần suất này, đường sắt sẽ phải là một đường chuyên dụng, nghĩa là không thể dùng vào việc khác ngoài việc chở sản phẩm của công ty khai thác mỏ. Vậy công suất chỉ cần vừa đủ để chở lượng alumin tối đa. Công suất 20 triệu tấn/năm là đủ rồi. Vì là một đường chuyên dụng, không cần phải liên kết với mạng đường sắt quốc tế và khổ đường không cần phải là khổ quốc tế 1.435 mm. Nếu chọn khổ 1.000 mm của đường sắt hiện nay thì tiết kiệm được ít nhất một phần ba vốn đầu tư và có thể dùng lại những đầu tàu hiện đang dùng trên đường Xuyên Việt.

(g) Với lượng hàng 50.000 tấn/ngày của một loại sản phẩm duy nhất ( đây là alumin ), người ta xây hải cảng chuyên dụng. Cũng như trên, công suất 20 triệu tấn/năm là đủ. Theo phương pháp quản lý đúng mức đúng lúc ( lean and just in time management ) hàng hoá phải được bốc lên tàu tối đa một ngày sau khi được chở đến hải cảng. Vậy cảng phải có khả năng vận chuyển 50.000 tấn/ngày và mỗi ngày tiếp năm chiếc tầu trọng tải 10.000 tấn. Như vậy cũng có nghĩa là không cần đến một cảng nước sâu. Nhưng hải cảng phải có cầu tàu và kè ngăn sóng kiên cố để cảng có thể hoạt động với bất kỳ thời tiết nào. Một cầu tàu phao như ở nhà máy lọc dầu Dung Quất không cho phép vận hành theo phương pháp đúng mức đúng lúc.

Chúng tôi không biết mũi Kê Gà, nơi dự định xây cảng trạm cuối, có hội đủ những điều kiện đó không. Nhưng, hiện nay ở Kê Gà chỉ có một hải đăng với vài căn nhà xung quanh. Không có hoạt động công nghiệp gì để chứng minh xây một hải cảng công suất 18 triệu tấn/năm. Chúng tôi xin đề nghị đặt trạm cuối của đường sắt ở cụm cảng Phan Thiết để hưởng những hiệp đồng các cảng và khu công nghiệp hiện có xung quanh. Vận chuyển alumin không ô nhiễm thêm thị xã Phan Thiết và khu nghỉ dưỡng du lịch Mũi Né là bao nhiêu.

(h) Quyết định 167/2007/QĐ TTg không đề cập đến những nhà máy phụ trợ sản xuất xút, cryolit và điện cực bằng carbon.

Người ta sản xuất xút bằng cách điện phân muối. Cực dương làm bằng titan và cực âm làm bằng thuỷ ngân. Quy trình này phải được kiểm soát kỹ vì thuỷ ngân là một chất ô nhiễm độc hại. Nhưng quy trình này sinh ra phụ phẩm khí clo và khí hydro có thể bán cho những xí nghiệp hoá học xung quanh nhà máy. Muối là nguyên liệu chính của quy trình. Nhờ nước biển và năng lượng mặt trời chúng ta có thể sản xuất muối với một giá rẻ. Đây là điều kiện thuận lợi để có một nhà máy xút bảo đảm nhu cầu của ngành bauxite nhôm. Vì lý do tôi sẽ trình bày ở một phần sau; nhà máy xút nên đặt gần những nhà máy alumin trên Tây Nguyên. Nếu công suất tối ưu vượt nhu cầu, điều mà chúng tôi nghĩ không thể xảy ra, thì có thể xuất khẩu sản lượng xút có thừa.

Mỏ khoáng sản cryolit chỉ có ở Groenland với trữ lượng không đủ đáp ứng nhu cầu thế giới. Nên ngành nhôm phải dùng cryolith nhân tạo. Quy trình này phức tạp nên cần vốn đầu tư cao. Chúng tôi xin đề nghị nhập khẩu cryolit, ít ra trong giai đoạn đầu.

Với nguồn than dồi dào, cung cấp carbon để sản xuất điện cực không phải là một vấn đề cho chúng ta. Nhà máy này có thể đặt gần khu mỏ than Nông Sơn, Tỉnh Quảng Nam. Cũng như với nhà máy xút, chúng tôi nghĩ công suất tối ưu sẽ không vượt nhu cầu và nếu sản xuất thừa thì có thể xuất khẩu.

Nói chung thì những thông số do TKV và chính phủ không cung cấp rõ rệt tất cả những khoản đầu tư đã được phân chia ra sao cho những đối tác đầu tư và tác động ra sao cho ba đối tác, Nhà nước, nhân dân và chủ đầu tư TKV. Chúng tôi xin nêu hai giả thuyết :

(a) TKV và chính phủ đã không chân thực cung cấp đủ thông tin về nghiên cứu khả thi để nhân dân địa phương và các chuyên gia có thể kết luận rằng dự án bauxite Tây Nguyên khả thi hay không.

(b) nghiên cứu khả thi đã được thực hiện không kỹ làm cho cả ba đối tác của dự án chắc chắn đều sẽ bị thiệt.

Phần II. Dự án và môi trường thiên nhiên

Mọi dự án công nghiệp lớn đều xâm phạm môi trường thiên nhiên. Cũng như xáo trộn văn hoá xã hội, vấn đề cũng là :

- Xâm phạm có hậu quả tiêu cực hay tích cực.

- Nếu có hậu quả tiêu cực thì chọn giải pháp giảm thiểu những hậu quả tiêu cực đó.

- Và với giải pháp đó thì con người vẫn có thể chịu đựng được không.

Về môi trường thiên nhiên thì khai thác bauxite ô nhiễm không hơn không kém gì khai thác những khoáng vật khác. Muốn biết dự án bauxite Tây Nguyên sẽ xâm phậm môi trường ra sao thì chỉ cần đến Quảng Ninh và nhà máy nhiệt điện với những mỏ than và Thái Nguyên với những mỏ sắt và lò cao và tưởng tượng thay vì bụi và nước thải mầu đen thì tất cả sẽ là mầu đỏ.

Hoàn thổ

Vấn đề đặt ra là sau khi khai thác quặng thì sẽ làm gì với diện tích bị đào xới. Bây giờ hơn 90 % xí nghiệp mỏ có kế hoạch hoàn thổ, nghĩa là tạo một môi trường không bắt buộc phải giống nhw xưa nhưng phải hoà hợp với địa thế, địa chất và khí hậu địa phương.

Theo EAA ( European Aluminium Association, Hiệp hội Nhôm Âu Châu ) diện tích rừng nhiệt đới suy thoái vì những lý do trình trên hình 1.

Hình 1 Những nguyên do rừng nhiệt đới suy thoái

Khai thác mỏ không phải là ngành tàn phá rừng nhiệt đới nhiều nhất. Diện tích có thể bị tàn phá vì khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên không có là bao nhiêu. Mà nghĩa vụ hoàn thổ có thể là một cơ hội để cải tạo môi trường thiên nhiên đã bị chiến tranh ô nhiễm và tàn phá và để hợp lý hoá nông nghiệp và lâm nghiệp Tây Nguyên nhằm cải thiện đời sống nhân dân địa phương.

Mỗi năm trên thế giới người ta đào bới 20 km2 để khai thác 160 triệu tấn bauxite, nghĩa là 12,5 héc ta mỗi triệu tấn bauxite. Nếu bi quan giả tỷ ở Việt Nam sẽ phải đào bới một diện tích gấp đôi trung bình thế giới để khai thác mỗi tấn bauxite thì năm 2025 chúng ta sẽ đào bới từ 325 đến 450 héc ta để khai thác 13 đến 18 triệu tấn bauxite mỗi năm. 450 héc ta là diện tích trung bình của ba khu công nghiệp ở Việt Nam. Sau khi khai thác hết hai tỷ rưỡi tấn bauxite thì sẽ có 625 km2 đã bị đào bới, mười phần trăm diện tích tỉnh Đăk Nông.

Ở vùng nhiệt đới, khí hậu nóng và ẩm, sau hai ba năm cây cối tự nhiên mọc trở lại trên mọi diện tích đất đã bị tàn phá. Trong những năm tháng đó đất trơ trọi bị mưa làm xói mòn. Để tránh tình trạng đó, người ta ươm trước những cây để có thể trồng ngay sau khi diện tích đã được khai đào. Một phương pháp rất hay là phương pháp cuốn chiếu ( hình 2 ) :

(a) khi khai đào thì cạo lớp đất mùn cây để sang một bên, cạo lớp đất đá không có quặng để sang một bên khác,

(b) lấp những hố khai đào bằng đất đá không có quặng đã để dành,

(c) phủ lớp đất đá đó bằng đất mùn cây đã để dành,

(d) trồng cây đã ươm trước hay giao đất cho nông đân muốn canh tác,

(e) nếu trồng lại rừng thì thả sinh vật muốn nuôi trong rừng mới này,

(f) giám sát địa thế trong vài năm và điều chỉnh nếu cần.

Hình 2 Phương pháp hoàn thổ cuốn chiếu

Đất đá không có quặng sẽ bị nhiễm một chút dầu nhớt rò rỉ từ những động cơ, không độc hại gì mấy. Đất đá được khai bới đã bị nghiền nhỏ nên xốp hơn, sẽ giữ được nhiều nước mưa hơn, điều tiết sông ngòi tốt hơn nên làm giảm rủi ro lụt ở miền xuôi.

Điểm quan trọng là đa dạng sinh học. Nhiều người tưởng rằng phải giữ rừng nguyên thuỷ với tất cả các con thú sống trong đó thì mới gọi là đa dạng. Thực tế là đất hoàn thổ không còn giống đất cư nữa và để có lại trạng thái đa dạng sinh học thì :

- Nếu đã đốn một số loại thảo vật thì phải thay lại bằng đủ số loại thảo vật, dù đó là những loại thảo vật khác.

- Và phải thả vào rừng mới đủ số loại thú đã sống trong rừng nguyên thuỷ, dù đó là những loại thú khác thích hợp hơn với môi trường mới.

Mỏ bauxite của xí nghiệp Mineracao Rio del Norte đã áp dụng hiệu quả phương pháp cuốn chiếu này tại khu mỏ lớn nhất thế giới ở vùng Rio del Norte, Brazil : từ khi khởi đầu khai thác mỏ năm 1997 đến năm 2002, xí nghiệp này đã trồng lại 17 km2 rừng để có thể đốn mỗi năm 700.000 cây đã được ươm trước thuộc 100 loại khác nhau trên diện tích này.

- Môi trường thiên nhiên Tây Nguyên đã bị xâm phạm nặng vì chiến tranh, vì lâm tặc, vì làm rẫy và vì đốn rừng để trồng cây công nghiệp,

- Hàng năm, tỉnh Đăk Nông cũng vẫn mất trên dưới 300 ha rừng vì nạn đốt nương làm rẫy, chưa kể đến hàng chục ngàn héc ta giao cho doanh nghiệp thực hiện các dự án nông lâm nghiệp.

Tây Nguyên là nơi bị không quân Mỹ tưới nhiều chất độc da cam ( dioxine hay là Agent Orange ) và bị oanh tạc nặng nề nhất (hình 3). Hiện nay chất độc da cam và bom đạn chưa nổ vẫn còn lại rất nhiều, vẫn có nhiều trẻ em sinh ra với dị tật bẩm sinh và nhiều người khai khẩn đất hoang vẫn thường xuyên bị tai nạn mìn nổ. Khi khai đào, đạn dược chưa nổ sẽ được phát hiện và phá huỷ còn chất độc da cam không được loại bỏ nhưng một phần sẽ được chôn vùi sâu hơn. Phá huỷ bom đạn chưa nổ chắc chắn sẽ tăng cường an toàn cho nơi đã được khai bốc. Còn về chất độc da cam chôn vùi sâu hơn sẽ có ảnh hưởng gì thì chúng tôi không biết.

Hình 3 Vùng khai thác bauxite ở Tây Nguyên ( nguồn : Bộ Lục quân hoa Kỳ )

Nếu hoàn thổ có quy hoạch đúng như tả ở trên thì khu mỏ cũ có thể dùng lại một cách tối ưu hơn trước : trồng rừng cho công nghiệp gỗ, cà phê, trà, cao su, cây cỏ nuôi gia súc hay những cây công nghiệp khác, tạo ra những cảnh quan mới làm nơi nghỉ dưỡng du lịch,...

Nước thải và bùn đỏ

Nước sông Hồng đỏ vì phù sa chứa ion Fe++. Đất ba san Tây Nguyên có mầu đỏ vì chứa ion Fe++. Mầu đỏ của bùn thải ra theo quy trình Bayer cũng do ion Fe++ chứa trong quặng bauxite. Nước sông Hồng không độc. Con người sống lành mạnh ở Tây Nguyên từ thời tiền sử đến này. Mầu của bùn đỏ chỉ ấn tượng về thẩm mỹ thôi chứ không độc. Hy vọng người Tây Nguyên sẽ quen với mầu đỏ của công nghiệp khai thác bauxite như người Bắc Bộ quen với mầu đỏ của sông Hồng.

Nước dùng để xử lý quặng và tinh chế sản phẩm là nguồn ô nhiễm chính của ngành khai thác mỏ. Nếu dùng nước không pha với chất hoá học hay những chất hoá học đã được vô hiệu hoá thì đất đá chôn vùi không nguy hại gì và chất hoá học trong nước thải sẽ có hàm lượng dưới hàm lượng tiêu chuẩn được coi là có hậu quả không đáng kể. Một chất hoá học đã được vô hiệu hoá khi độ pH của nước bằng 7 và nước không chứa những vật có hại cho sức khoẻ như là vi khuẩn hay kim loại nặng. Trên nguyên tắc, nước thải của ngành khai thác mỏ không có vi khuẩn. Nếu trong những quy trình xử lý không dùng đến những chất hoá học thì phế liệu chỉ gồm bởi những hợp chất có sẵn trong quặng và các hợp chất ấy đã có mặt trong môi trường thiên nhiên cả triệu năm nay rồi mà không làm hại đến sinh thảo vật..

Cụ thể, quặng bauxite chứa một số hợp chất như trình trên bảng 1. Ngoài hợp chất chính, oxyd nhôm (Al2O3), gọi là alumin, còn có oxyd siliciumm (SiO2) và oxyd sắt (Fe2O3) cộng với một số hợp chất khác như là oxyd titanium (TiO2). Để có alumin thì phải tách ly oxyd nhôm khỏi các hợp chất khác. Những hợp chất đó có sẵn từ khi khai thiên lập địa nên thải chúng không có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thiên nhiên mấy. Vì sự có mặt của oxyd sắt nên những phế liệu có mầu đỏ và gọi là bùn đỏ.

Bảng 1 Cấu tạo quặng bauxite

Hợp chất Bauxite karstic (%) Bauxite laterit (%)
Al2O3 48 60 54 61
SiO2 3 7 1 6
Fe2O3 15 23 2 10
TiO2 2 3 2 4
CaO 1 3 0 4
H2O 10 14 20 28

Phần trăm của quặng khô

Vì quy trình Bayer dùng đến hydroxyd natri (NaOH, còn gọi là xút), để hoà tan alumin nên bùn đỏ thải ra có dính hoá chất đó.

Xút là một hoá chất thông dụng dùng để làm vệ sinh nhà cửa. Hoá chất này có phản ứng phát nhiệt mạnh với nước, làm nhiệt độ nước tăng đến 100°C, nước bốc hơi và bắn ra ngoài rất nguy hiểm. Xút còn làm rát và ăn mòn da. Nếu nuốt xút thì toàn bộ tiêu hoá sẽ bị gặm mòn đến bị thủng ruột. Trên nhãn những bao bì chứa xút thường có cảnh báo về những rủi ro này. Thải ra ngoài thiên nhiên thì xút làm tăng độ pH đe doạ đời sống sinh vật và thảo vật trong nước.

Sau khi bùn ráo thì vẫn có nước với dung dịch hydroxyd natri bám vào những hạt bùn. Khi mỏ bauxite Baux ở Pháp còn hoạt động, người ta bơm bùn đỏ ra ngoài biển làm cho bùn được nước biển pha loãng. Ở Australia, người ta chôn bùn đã được sấy khô ở một nơi hoang vằng và giả vờ quên đi. Ở những nơi không thể xâm phậm môi trường như vậy, người ta có hai cách : phương pháp khô và phương pháp ướt.

Theo phương pháp khô, người ta chờ cho bùn ráo rồi sấy bùn cho đến khô thành bụi. Bụi có thể trộn với nhựa asphalt để trải đường hay dùng làm phụ gia làm gạch bê tông. Về trải đường thì không có vấn đề gì đặc biệt cả . Theo chúng tôi được biết thì áp dụng này chưa được khai triển vì chưa được nghiên cứu kỹ. Ngoài ra mỗi mỏ bauxite có cấu tạo riêng và mỗi nơi có nước dùng làm bê tông riêng nên tính bền vững theo thời gian của bê tông phải được thử nghiệm trước khi dùng.

Có tin một đường ống sẽ chuyển quặng khai thác tại Đắc Nông xuống cảng biển Bình Thuận để chế biến nhằm giảm thiểu ô nhiễm cho Tây Nguyên. Tin này không đúng và có thể bắt nguồn từ một đường ống dẫn nước biển từ bờ biển Bình Thuận lên Tây Nguyên. Người ta dùng nước biển để giảm hàm lượng xút hãy còn bám vào những hạt bùn đỏ. Sau đó người ta dùng lại nước đó để pha loãng hỗn hợp bauxite xút làm cho những chất bẩn, chủ yếu gồm những oxyd, chứa trong quặng bauxite kết tủa và có thể loại ra thành bùn đỏ bằng một quy trình lọc. Sau khi lọc một lần thứ hai để tách ly hydrat nhôm, người ta không đổ nước có xút đó ra ngoài thiên nhiên mà làm bốc hơi lượng nước đó để thu hồi và dùng lại xút chứa trong nước. Vậy, với phương pháp này, sẽ không còn vấn đề hạ lưu những sông Tây Nguyên thiếu nước và vấn đề nước thải ô nhiễm sông ngòi.

Như mọi phế liệu, bùn đỏ có thể dùng lại làm nguyên liệu có giá trị nếu bỏ công ra nghiên cứu những công dụng mới. Nhiều người không muốn những mỏ bauxite được khai thác vì sợ ô nhiễm trầm trọng khi mưa lũ làm tràn những hồ chứa bùn đỏ, những đê đập của hồ có thể bị vỡ hay bùn thấm vào nguồn nước ngầm. Đây chỉ là một vấn đề thiết kế kỹ và xây dựng kiên cố. Ngoài ra nếu có sự cố mà bùn đã được xử lý để các chất hoá học được vô hiệu hoá hay loãng xuống dưới hàm lượng có thể chấp nhận được thì cũng không có vấn đề gì vượt vòng kiềm chế kỹ thuật cả.

Như viết ở trên, bauxite chứa oxyd sắt Fe2O3 và oxyd titan TiO2. nên bùn đỏ cũng chứa những oxyd này. Bauxite karstic chứa từ 15 đến 23 % oxyd sắt Fe2O3. Suy ra bùn đỏ có thể coi là một loại quặng sắt với hàm lượng từ 25 đến 58 % Fe2O3. Một quặng có hàm lượng trên 50 % Fe2O3có thể coi là quặng sắt có giá trị kinh tế. Oxyd titan ở dạng rutile, một đá quý mầu đỏ thẫm. Với hàm lượng đá quý rất nhỏ bùn đỏ có khả năng trở thành một mỏ rutile có giá trị kinh tế. Chúng tôi đề nghị TKV nghiên cứu thêm hàm lượng bauxite Tây Nguyên để tìm hiểu khả năng khai thác lại bùn đỏ như một khoáng sản thô có giá trị kinh tế. Một thông tin mà chúng tôi chưa xác nhận được là hình như cây cỏ mọc rất tốt trên đất có bùn đỏ được xử lý bằng phương pháp này và những nơi khi xưa chứa bùn đỏ có hiệu suất rau quả rất cao.

Khí thải

Như mọi ngành công nghiệp nặng, ngành khai thác mỏ cũng sinh ra bụi và khí chứa hoá chất. Trong chuỗi chế biến bauxite thành nhôm thì nguồn ô nhiễm vì khí thải chính ở khâu điện phân.

Alumin chẩy lỏng ở 2.040°C. Làm lỏng alumin để điện phân ở nhiệt độ quá cao đó thì sẽ tiêu thụ nhiều năng lượng. Để tiết kiệm năng lượng, người ta giảm nhiệt độ chảy lỏng xuống 960°C bằng cách trộn alumin với cryolit. Ở nhiệt độ đó cryolit ( hexafluoroaluminate de trisodium, Na3AlF6 hay 3NaF,AlF3 ) và những điện cực bằng carbon có thể trộn với không khí xung quanh lò điện phân và bay ra ngoài. Người ta chụp lò điện phân bằng một bộ lọc khí để giữ lại và tiết kiệm cryolit và carbon. Nhưng cũng có một phần đáng kể toả ra ngoài khí quyển.

Cryolit chứa fluor. Người ta thêm một hàm lượng flour rất nhỏ (dưới 1,2 phần triệu) vào nước uống và bột đánh răng để chống sâu răng. Nhưng với hàm lượng đáng kể thì fluor là một chất độc chết người do bộ tiêu hoá bị xáo trộn. Carbon ở nhiệt độ cao biến thành oxyd carbon, một khí có hiệu ứng nhà kính.

Fluor cũng là một vật liệu đắt tiền, giữ lại fluor bay ra khỏi lò điện phân không những giảm ô nhiễm mà còn giảm chi phí sản xuất nhôm.

Những phế liệu rắn, nước thải hay khí thải của một công nghiệp là những nguồn nguyên liệu có giá trị thương mại của những công nghiệp khác. Công nghệ hiện đại đã có giải pháp để bảo vệ môi trường thiên nhiên không những giảm thiểu chi phí xử lý những xâm phạm đến môi trường thiên nhiên mà có khi còn làm những việc này sinh lợi.

Những dòng trên có vẻ rất lạc quan về những giải pháp xử lý ô nhiễm. Thực tế không hoàn toàn đúng như vậy. Những giải pháp đó thành công hay không tuỳ ở cách áp dụng thế nào để thích hợp với những điệu kiện thiên nhiên địa phương ( địa dư, địa chất và khí hậu ). Trước khi chép một giải pháp đã thành công ở một nước khác chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng những tham số kỹ thuật và điều kiện thiên nhiên ở nước đó và ở nước mình. Như thế mới biết được giải pháp của nước đó có thể chuyển sang nước mình hay không và nếu giải pháp có thể chuyển được thì phải thay đổi những tham số kỹ thuật ra sao thì mới thích ứng được với điều kiện thiên nhiên ở nước ta.

Có một điểm mà hình như các nhà khoa học trong nước chưa nghĩ tới. Đó là bùn đỏ và những phế liệu khác mà công nghiệp nhôm tỉnh Vân Nam đổ xuống sông Hồng và sông Gianh. Chúng ta đã bố trí một bộ phận giám sát nào chưa ? Chính phủ đã có sẵn phản ứng gì nếu có sự cố ?

Những vị lãnh đạo không ngừng tuyên bố "lắp đặt dây chuyền chế biến [...] bằng công nghệ hiện đại, nhằm đem lại hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao, tiết kiệm tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường, đi đôi với giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội".

Nhưng những quy định của Luật Môi trường không thể áp dụng được ở nước ta vì :

- Không có tiêu chuẩn về toàn vẹn môi trường thiên nhiên,

- Lãnh đạo không quan tâm đến bảo vệ môi trường thiên nhiên, không biết làm gì vì thiếu kiến thức, tham nhũng hay vô trách nhiệm,

- Đội ngũ cán bộ chuyên môn về môi trường còn yếu,

- Thiếu thiết bị đo lường để kiểm tra phát hiện những tình trạng ô nhiễm quá mức quy định.

Vì những lý do đó mà chúng tôi quan ngại về hậu quả dự án bauxite Tây Nguyên.

Phần III - Dự án và xáo trộn văn hoá xã hội

Mọi dự án công nghiệp lớn đều làm xáo trộn đời sống văn hoá xã hội địa phương. Vấn đề là :

- Xáo trộn có hậu quả tiêu cực hay tích cực.

- Nếu có hậu quả tiêu cực thì chọn giải pháp giảm thiểu những hậu quả tiêu cực đó.

- Và giải pháp đó nhân dân địa phương vẫn có thể chịu đựng được không.

Đồng bào Tây Nguyên

Dân số hai tỉnh liên hệ với dự án Nhân Cơ và Tân Rai, tỉnh Đắk Nông và và tỉnh Lâm Đồng, tổng cộng 1.620.000 nhân khẩu. Đồng bào ở hai tỉnh này chủ yếu gồm các dân tộc Ê Đê, M'Nông, Cơ Ho, Mạ, Ra Glai, Kinh, Tày và Nùng. "Hiện nay dân tộc Kinh cư trú ở Ðắc Lắc chiếm tỷ lệ khá lớn. Cùng với người Kinh, các dân tộc thiểu số miền Bắc gần đây cũng di chuyển vào khu vực này ( kể cả di chuyển theo kế hoạch và không kế hoạch ) với số lượng khá lớn".

Những đe doạ về văn hoá xã hội

Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hoá dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng... được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Nguy cơ là đa dạng văn hoá của Quốc gia Việt Nam sẽ giảm nếu văn hoá của một dân tộc suy thoái. Vì không được đọc Báo cáo Tác động Văn hoá Xã hội của dự án bauxite Tây Nguyên, chúng ta lo ngại cho tương lai của dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

So với các dân tộc khác, đời sống văn hoá xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên đã bị xáo trộn nhiều nhất trong hai chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ và đang tiếp tục bị xáo trộn vì, sau 1975, người Kinh và những người thuộc dân tộc thiểu số ở ngoài Bắc đến định cư canh tác. Dự án bauxite Tây Nguyên chắc chắn sẽ xáo trộn đời sống thêm nữa.

Một dân tộc của Quốc gia Việt Nam cư trú ở một số vùng nhất định. Nhưng ở vùng đó cũng có dân tộc khác sống xen kẽ. Vì thế mà, theo Hiến pháp CHXHCN Việt Nam, nước ta không có "khu dành riêng cho người da đỏ" ( "Indian Reservation" ) như ở các nước Mỹ Châu hay những vùng tự lập như ở Liên Xô cũ và ở Trung Quốc và mọi công dân Việt Nam thuộc dân tộc nào cũng đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau.

Khi hai văn hoá tiếp cận thì văn hoá của dân tộc giầu sẽ ép chẹt văn hoá dân tộc nghèo hơn. Cả thế giới xem phim Mỹ vì người Mỹ giầu nhất thế giới. Thanh niên người Kinh bắt chước lối sống thanh niên Việt Kiều nhiều tiền hơn. Thanh nữ người Kinh theo thời trang phụ nữ Hàn Quốc, giàu hơn 25 lần,... Vì dân ta hãy còn nghèo, nhiều người mơ ước được đi học hay định cư ở những nước Tây Âu. Tiếp cận với người Kinh và người các nước khác qua phương tiện truyền tin hiện đại, lớp trẻ những dân tộc thiểu số sẽ từ bỏ lối sống cổ truyền của dân tộc họ, muốn rời khỏi nơi sinh trưởng, hoà nhập với người Kinh để theo đuổi lối sống của những người giầu sang hơn. Điều này làm cho văn hoá các dân tộc nghèo hơn trung bình từ từ suy tàn mai một đến mức không còn biểu hiện đặc tính của một dân tộc riêng biệt nữa. Lúc đó Quốc gia Việt Nam sẽ nghèo đi.

Cấm người dân tộc khác đến định cư ở Tây Nguyên để bảo tồn văn hoá những dân tộc bản địa không phải là một giải pháp. Giải pháp cũng không phải là vĩnh viễn tài trợ các lễ hội truyền thống của những dân tộc có văn hoá bị đe doạ vì, lâu dần, sẽ không còn chủ lễ để tổ chức những lễ hội đó nữa. Giải pháp là phải tạo diều kiện để các đồng bào thiểu số có thể tự mình nâng mức sống đến ngang hàng với mức sống trung bình của tất cả người Việt Nam. Giải pháp này chẳng qua cũng chỉ là một mục đích của xã hội chủ nghĩa.

Tình hình kinh tế

Tây Nguyên có nhiều phong cảnh núi rừng ngoạn mục. Nhưng ngành du lịch chưa phát triển vì thiếu hạ tầng giao thông và, đặc biệt, thiếu người được đào tạo làm hướng dẫn viên. Nhờ địa thế cao nguyên và nhiều thác nước, tài nguyên thủy năng lớn đang biến Tây Nguyên thành bình điện của phía Nam Việt Nam. Nhưng những nhà máy thuỷ điện cần ít lao động và những lao động cần thiết đều là lao động chuyên môn kỹ thuật. Về lâm nghiệp Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ rừng bị tàn phá hết vì người Kinh và người dân tộc thiểu số miền Bắc đến lập nghiệp xâm lấn rừng để ở và sản xuất, người dân tộc thiểu số dân bản địa phá rừng làm rẫy và lâm tặc khai thác gỗ trái phép.

Đời sống nông dân địa phương vẫn khó khăn vì phương pháp canh tác không tối ưu.

Chính phủ đã thành lập ở Tây Nguyên các nông lâm trường thuộc trung ương hoặc thuộc tỉnh quản lý chiếm phần lớn diện tích đất các tỉnh Tây Nguyên. Từ 1975 đến nay, vì quản lý kém, những xí nghiệp này không sinh bao nhiêu lợi. Cư dân bản địa trồng lúa theo chế độ luân khoảnh theo phương pháp đao canh hoả chủng (phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay), mỗi năm chỉ trồng một vụ. Để cải thiện đời kinh tế gia đình thì có thêm nghề thủ công, săn bắn, đánh cá, hái lượm lâm thổ sản. Những người mới nhập cư Tây Nguyên trồng những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà, cao su,… Giá trên thị trường quốc tế những sản phẩm những cây công nghiệp biến động nhanh và mạnh như giá thị trường của mọi vật phẩm. Vì làm ăn theo dạng cá thể những người này có ba nhược điểm làm cho lợi tức của họ không cao lắm :

- Họ không có đủ vốn lưu hành để tích trữ sản phẩm chờ thời cơ bán ra thị trường với giá cao.

- Họ không tiếp cận được thị trường quốc tế nên phải chịu ách của những lái buôn môi giới.

- Họ không có khả năng hấp thụ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật.

Trước tình cảnh đó, người Tây Nguyên, bản địa cũng như mới nhập cư, phải tìm một sinh kế khác. Các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều điện là một hướng phát triển đầy hứa hẹn nhất. Với tài nguyên thuỷ điện và bauxite, Tây Nguyên có thể là một vùng kinh tế trọng điểm dựa trên tài nguyên bauxite.

Có người nói rằng khai đào bauxite sẽ làm nông dân mất đất để sinh sống. Điều này không đúng vì :

- Thu hoạch của một việc làm công nghiệp cao hơn là thu hoạch của một việc làm nông lâm nghiệp.

- Như viết ở một phần trên, khai đào mỏ quặng tương đối không chiếm nhiều đất.

- Những nơi có hàm lượng quặng bauxite lớn thì cây cối phát triển rất kém vì không có chất mùn, có những quả đồi bauxite gần như lộ thiên, nằm dưới lớp.

- Những người có đất bị giải toả vẫn có thể trở lại canh tác những diện tích đã hoàn thổ với hiệu suất cao hơn.

Có người cũng nói rằng mỏ bauxite sẽ không sử dụng tất cả những nông dân không còn đất để canh tác. Điều này vừa đúng vừa sai. Mỏ sẽ không tuyển tất cả những nông dân không bị giải toả đất. Nhưng mỏ bauxite và những nhà máy alumin sẽ sinh ra những việc làm gián tiếp : những hoạt động dịch vụ y tế, giáo dục, nhà hàng, giải trí,… những hoạt động sản xuất, xây dựng, sửa chữa, phục vụ dân đia phương,… Ở Pháp một việc làm trong một xí nghiệp lớn sinh ra đủ việc làm gián tiếp để nuôi sống mười người. Nếu có thêm nhà máy điện phân alumin có công suất đủ để tiêu thụ tất cả alumin sản xuất thì có thể nhân đôi số chỗ làm. Còn nếu những xí nghiệp cơ khí đến sản xuất những sản phẩm cuối cùng bằng nhôm thì lại còn thêm việc làm nữa. Số lao động này khó có thể tính trước được.

Nâng cao mức sống và giáo dục phổ thông

Nhà văn Nguyên Ngọc có nêu : "Ở Tây Nguyên, suốt hơn 30 năm qua, các dự án khu công nghiệp hiện đại, cả lớn và nhỏ, chưa từng có nơi nào thành công trong việc đưa người dân tộc thành công nhân công nghiệp. Con số người dân tộc trở thành công nhân trong các khu công nghiệp chỉ là zêrô". Tình trạng này là do người dân tộc thiểu số không có tối thiểu kiến thức khoa học kỹ thuật. Những hoạt động sản xuất hiện nay của họ có thể cha truyền con nối theo lối làm mẫu, bắt chước và truyền khẩu. Những hoạt động sản xuất của mô hình kinh tế hiện đại kể trên cần đến những kiến thức khoa học kỹ thuật ít nhất ở trình độ giáo dục phổ thông.

Theo số liệu của TCTK thì, quy ra 1.000 nhân khẩu, chúng ta có những nhận xét sau đây (bảng 2 ):

- So với trung bình cả nước thì giáo dục phổ thông ở Đắk Nông và Lâm Đồng tương đối có nhiều giáo viên và học sinh hơn, vượt xa Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về đào tạo đại học và cao đẳng thì xấp xỉ bằng trung bình cả nước.

- Còn về đào tạo trung học chuyên nghiệp thì thua xa trung bình cả nước.

Bảng 2 Số giáo viên và học sinh/Sinh viên quy 1.000 nhân khẩu

Giáo viên CẢ NƯỚC ĐẮK NÔNG LÂM ĐỒNG TP HCM
Giáo dục phổ thông 6,6 8,0 6,9 4,3
Đại học và Cao đẳng 0,7 1,3 0,5 2,1
Trung học chuyên nghiệp 0,2 0,1 0,1 0,3
Học sinh và sinh viên CẢ NƯỚC ĐẮK NÔNG LÂM ĐỒNG TP HCM
Giáo dục phổ thông 184,2 269,3 220,1 145,5
Đại học và Cao đẳng 22,6 21,3 23,7 79,2
Trung học chuyên nghiệp 7,3 2,4 3,5 18,6

( Tính từ số liệu của TCTK )

Những con số này cho thấy chính phủ đã ưu đãi giáo dục phổ thông ở Đắk Nông và Lâm Đồng và tại sao chúng ta đã thành công trong chương trình xoá đói giảm nghèo ở các vùng xa như Tây Nguyên và thất bại ở các thành thị như Thành phố Hồ Chí Minh ?

Chỉ có các dân tộc Tây Nguyên mới biết được mình muốn gì cho tương lai dân tộc mình. Chúng tôi chỉ có thể phát biểu quan điểm của một Việt kiều sinh sống ở Pháp và gốc người Kinh : nếu muốn hưởng một mức sống cao và duy trì văn hoá của mình thì phải có trình độ kiến thức phổ thông để có thể chuyển sang những hoạt động sản xuất hiện đại. Chính quyền địa phương phải thuyết phục những gia đình không quan tâm đến giáo dục con cái rằng mức sống tương lai của họ và sự duy trì văn hoá dân tộc họ tuỳ ở trình độ học vấn con cái họ.

Xí nghiệp và nhân công Trung Quốc

Chúng tôi phân biệt dân tộc Hoa, một thành phần của nước Việt Nam và người Trung Quốc, công dân một nước khác, sinh sống hay tạm trú ở Việt nam. Khi xưa sự phân biệt này không rõ lắm. Trong những thập niên 50 đến 70 thế kỷ trước, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà cũng như chính quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã bắt những người gốc Trung Quốc phải chọn giữa quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước khác hay địa vị vô quốc tịch. Kết quả là những người đã chọn quốc tịch Việt Nam là những người thực sự tự coi mình là thành phần của nước Việt Nam và chỉ có trên dưới một phần trăm dân số Việt Nam là người Hoa. Khi xưa, đa số đã tham gia vào kháng chiến giải phóng thống nhất đất nước. Bây giờ, quy ra đầu người, người Hoa đóng góp nhiều nhất cho phát triển kinh tế. Họ có quyền và nghĩa vụ do Hiến pháp quy định và không ai được phép nghi ngờ sự chung thuỷ của dân tộc Hoa đối với đất nước Việt Nam.

Người Trung Quốc tạm trú ở Việt Nam là một chuyện khác. Họ có thể bị trục xuất nếu phá rối an ninh trật tự, nếu không tôn trọng pháp luật hay chỉ bị nghi ngờ có âm mưu làm hại đến Việt Nam. Đây không phải là hành vi của một chính quyền chuyên chế : tất cả các nước trên thế giới đều đối đãi như vậy đối với cư dân hay du khách có quốc tịch ngoại quốc.

Sau đây chúng tôi xin đúc kết những thông tin đọc trong sách báo chuyên về thông tin kinh tế kinh doanh và những chuyện các bạn đồng nghiệp có kinh nghiệm quốc tế kể. Những thông tin này cần được đánh giá lại vì nguồn gốc là những xí nghiệp Tây Âu đối thủ của những xí nghiệp Trung Quốc.

Những xí nghiệp thiết kế và xây dựng

Các xí nghiệp Trung Quốc có một phương pháp quản lý dự án xây dựng rất độc đáo mà các xí nghiệp thiết kế và xây dựng Việt nam cần nghiên cứu và làm theo.

Tất cả nhân viên quản lý giám sát, xây dựng và phụ trợ, từ cấp giám đốc, cán bộ đến nhân công phổ thông đều là người của họ, do họ tuyển và bồi dưỡng kỹ năng. Hầu như tất cả những người này là người Trung Quốc, có khi thuộc địa phương xí nghiệp có trụ sở. Khi có hợp đồng xuất khẩu thì họ mang từ Trung Quốc tất cả những nhân viên họ đã đào tạo sẵn và máy móc cơ khí xây dựng họ đều có sẵn, lắp ráp hay mua ở Trung Quốc. Kể cả đầu bếp, nhân viên làm vệ sinh họ cũng mang từ nước họ. Nước khách hàng hầu như không đóng góp gì trong việc thực hiện dự án. Họ tuyển rất ít người nước chủ nhà và nếu có tuyển thì chỉ tuyển khi nào thiếu thể lực thi hành.

Với phương pháp đó, chúng tôi không lấy làm lạ khi ông Phạm Sĩ Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, phàn nàn "ở Tân Rai, hiện có hơn 700 lao động đang làm việc trên công trường, trong đó có 500 lao động người Trung Quốc, 200 lao động Việt Nam và hơn 10 người nước khác làm giám sát công trình".

Thông thường một công trình phải mấy năm mới xây xong ( có khi tới hơn mười năm ) và cần đến cả nghìn nhân công và kỹ sư. Để cho những người đó và gia đình họ sinh sống bình thường thì phải lập cả một đô thị (life base) với tiện nghi nhà ở, siêu thị, trường học, nhà thương, khu giải trí và có khi cả những nơi hành đạo. Một công trình do Trung Quốc xây cũng có một đô thị tạm thời như vậy. Chỉ khác là người Trung Quốc sống chung với nhau ít giao dịch với người nước chủ nhà, những người làm dịch vụ phụ trợ (giáo viên, bác sĩ,...) cũng là người Trung Quốc. Trừ thực phẩm tươi, mọi thứ cần thiết cho đời sống thường ngày, mọi thứ để xây đô thị tạm thời kể cả bàn ghế và văn phòng phẩm từ Trung Quốc mang sang. Sau khi dự án được hoàn tất họ dỡ đi hết mang về nước không để lại một tý gì... Một bạn đồng nghiệp nói : "họ sống như lính Mỹ sống trong những doanh trại ở nước ngoài".

Lề lối làm ăn như thế rất hữu hiệu :

- Nếu chỉ dùng người Trung Quốc thì không có vấn đề chuyển ngữ và khác biệt văn hoá nên nhân viên dễ hiểu những mệnh lệnh,

- Nếu chỉ dùng nhân viên của xí nghiệp thì giảm việc đào tạo vì nhân viên đã có kinh nghiệm những công trường trước và, nếu cần, học những kỹ năng mới mau hơn,

- Nhân viên đã biết việc thì lao động có hiệu quả hơn, kiểm tra và bảo đảm chất lượng công việc dễ hơn,

- Giảm số nhân viên ngoài xí nghiệp thì cũng giảm rủi ro bí quyết tay nghề bị xí nghiệp đối thủ hay nước khác ăn cắp,

- Lương Trung Quốc rẻ hơn so với những nước khác,

- So với lương ở Trung Quốc, nhân viên thường có lương cao hơn lại có thêm trợ cấp xa nhà nên lao động rất nhiệt tình.

Nhờ đó, so với đối thủ các nước khác, giá thầu của những xí nghiệp thiết kế và xây dựng Trung Quốc thường rẻ và thời hạn hoàn tất công trường ngắn hơn. Nhiều nguyên thủ Phi Châu rất hài lòng về hai điểm này.

Những xí nghiệp thiết kế và xây dựng Trung Quốc không có chính sách để nhân viên ở lại nước khách hàng. Vì nhân viên có tay nghề và kinh nghiệm là những tiềm năng hiếm của một xí nghiệp họ rút ngay về Trung Quốc mỗi người đã hoàn tất công việc được giao phó để bổ túc kỹ năng trước khi điều đi công trường khác. Ngoại trừ trường hợp một cá nhân xin từ chức để ở lại, không có chuyện nhân viên một xí nghiệp thiết kế và xây dựng Trung Quốc ồ ạt nhập cư nước khách hàng.

Những xí nghiệp khác

Mặc dù kinh doanh thường trực, những xí nghiệp Trung Quốc không can thiệp gì vào nội bộ chính trị nước chủ nhà cả. Họ quản lý nhân sự địa phương như ở nước họ. Ở những nước không có luật lao động hay luật lao động dễ dãi hơn ở Trung Quốc thì nhân viên của họ rất hài lòng. Ngược lại, ở những nước có luật lao động khắt khe và tiến bộ hơn thì luôn luôn có mâu thuẫn với chính quyền địa phương và có nhiều tranh chấp lao động. Sau một vài năm tìm hiểu nhau, những xí nghiệp lớn tuân thủ pháp quy nước chủ nhà và kinh doanh ổn định. Nhưng những xí nghiệp nhỏ thì ít khi đạt được liên hệ hài hoà với chính quyền và người lao động địa phương.

Một đặc tính nữa là những chức vụ quản lý và chỉ huy đều nằm trong tay người Trung Quốc. Người nước chủ nhà chỉ được làm những việc cần đến nhiều thể lực do người Trung Quốc giao làm.

Từ vài năm nay có một hiện tượng mới. Để bảo đảm an ninh lương thực, Trung Quốc thuê đất để gửi nông dân của họ đến canh tác ở những nước có thừa đất nông nghiệp nhưng không có nhân lực và/hay vốn đầu tư. Tình huống này hãy còn mới nên chưa ai biết được hậu quả cho nước chủ nhà về xáo trộn kinh tế, xã hội, chính trị và quân sự ra sao.

Mô tả như thế thì những người Trung Quốc đi làm việc ở các nước khác không biểu hiện một đe doạ tiềm tàng nào cho độc lập và vẹn toàn lãnh thổ của nước chủ nhà. Nhưng, những thông tin chúng tôi gom được chỉ liên quan đến những nước không giáp giới với Trung Quốc. Về ba nước có biên giới với Trung Quốc ( Myanmar, Lào và Việt Nam ), chúng tôi chỉ có những tin đồn.

Đặc biệt có tin đồn, không được nhà cầm quyền Việt Nam xác nhận hay phủ nhận, người Trung Quốc ồ ạt đến khai thác bauxite ở Tây Nguyên và những người đó có thể là quân nhân trá hình. Một số lão tướng đã phát biểu lo ngại nhân công Trung Quốc làm việc ở Tây Nguyên có thể đe dọa đến an ninh của Việt Nam. Cụ Hồ có dạy : "không có gì quý hơn độc lập và tự do", chúng tôi không biết Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có quan tâm đến vấn đề này chưa. Kiến thức của chúng tôi chỉ đủ cho phép trao đổi ở cấp trà dư tửu hậu thôi về vấn đề này với các nhà quân sự trong nước.

Ông Trần Quốc Huy, bí thư Tỉnh ủy Đắk Nông, tuyên bố : "Nếu làm tốt thì không lo dân phản đối". Nhưng chính phủ và TKV đã đánh giá tác động môi trường và tác động văn hoá xã hội của dự án một cách hời hợt.

Mọi người, mọi dân tộc đều có một sức ỳ trước đổi mới ( resistance to change ). Để dự án bauxite Tây Nguyên có triển vọng thành công thì trước tiên phải có một công trình nghiên cứu xã hội học và nhân chủng học để tìm ra những biện pháp thích ứng chống lại sức ỳ đó. Sau đó phải có công tác dân vận : trình bày thành thực, rõ rệt và một cách dễ hiểu những khía cạnh kỹ thuật, những rủi ro và những lợi ích của dự án.

Những khẩu hiệu "khai thác bô xít Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng" hay là "đã được triển khai nghiêm túc" và mọi việc "đã được tính toán kỹ lưỡng", "đã được các nhà khoa học nhất trí" đâu phải là những luận chứng khoa học để thuyết phục dự án bauxite Tây Nguyên sẽ mang lợi cho nhân dân địa phương. Một nghị quyết của Đảng đâu phải là một giấy phép trắng để muốn làm gì thì làm một cách vô ý thức.

Phần IV - Dự án và tiến bộ công nghệ

Trong phần này, chúng tôi xin chỉ chú trọng đến những cơ hội phát triển công nghệ nhân dự án bauxite Tây Nguyên.

Hợp tác quốc tế

Hợp tác với Chalieco

Từ khi Trung Quốc đi vào kinh tế thị trường, quốc gia này trở nên bất công : một phần nhỏ dân số, thường là con cháu những vị lãnh đạo cách mạng khi xưa, cực giầu sống giữa một biển người bữa no bữa đói. Vì sự bất công đó mà Trung Quốc phản ảnh một nước chậm tiến. Nhưng nếu chỉ có một người Trung Quốc trên một trăm đã được đào tạo và đã hấp thụ công nghệ tiên tiến của nhân loại thì, với 1.400 triệu nhân khẩu, Trung Quốc có 14 triệu nhân tài kỹ thuật, đội ngũ của một cường quốc công nghệ. Vậy chọn một nhà thầu Trung Quốc như Chalieco không nhất thiết là một sai lầm.

Chalieco là công ty con của Chinalco, một tập đoàn thành lập năm 2001 từ sự sáp nhập 12 xí nghiệp và cơ quan Trung Quốc hoạt động trong ngành nhôm[i]. Chỉ sau vài năm, Chinalco đã trở thành công ty hàng đầu thế giới về kim loại mầu, thứ nhì về alumin và thứ ba về nhôm. Năm 2007, tập đoàn tổng cộng 200.000 nhân viên, vốn 201,4 tỷ nhân dân tệ (RMB) ( khoảng 29,2 tỷ USD ), doanh số 131,7 tỷ RMB ( 19,1 tỷ USD ) và lãi 10 tỷ RMB (1,5 tỷ USD). Tập đoàn kiểm soát 34 công ty con, trong đó có Chalco ( Aluminum Corporation of China Limited ). Chalco bao gồm tất cả vốn và các hoạt động thương mại và công nghiệp của Chinalco trong ngành nhôm. Chinalco giữ 38,6 % cổ phần của Chalco. Phần còn lại được niêm yết trên các sàn giao dịch New York, Hong Kong và Thượng Hải. Nhờ được niêm yết, Chalco nổi tiếng hơn Chinalco nên nhiều người tưởng lầm chỉ có một công ty mang hai tên.

Năm 2003 Chinalco sáp nhập hai công ty con Guiyang Aluminum & Magnesium Engineering & Research Institute và Shenyang Aluminum & Magnesium Engineering & Design Institute thành công ty Chalieco ( China Aluminum International Engineering Co. Ltd ) trong đó Chinalco giữ 95 % cổ phần. Chalieco chuyên về thiết kế và xây dựng trong ngành kim khí. Họ khoe đã khai triển công nghệ phân loại khoáng sản theo quy trình Bayer và một kiểu lò điện phân nhôm 400 kA.

Sáng chế một lò điện phân nhôm mới có thể là một bước tiến công nghệ nếu sáng chế đó tiết kiệm điện và giảm cryolit và điện cực bốc hơi do nhiệt độ cao của lò. Nhưng TKV chỉ ký hợp đồng xây dựng một nhà máy alumin. Về phân loại khoáng sản thì chúng tôi không có thông tin về cái mà Chalieco gọi là công nghệ riêng của họ là gì. Công nghệ phân loại khoáng sản bauxite dựa trên sáng chế của Bayer từ cuối thế kỷ XIX và bây giờ vẫn được áp dụng. Trừ khi Chalieco sáng chế ra một quy trình khác quy trình Bayer, những tiến bộ có thể là những tiến bộ về phương pháp vô hiệu hoá xút trong bùn đỏ, tiết kiệm năng lượng và giảm hao hụt xút trong quy trình. Nhưng đó không phải là những công nghệ mới mà cũng không phải là những bước nhảy vọt công nghệ.

Ngày 13-7-2008 TKV đã ký hợp đồng EPC ( Engineering Procurement Construction ) với Chalieco xây dựng nhà máy alumin trị giá 460 triệu USD ở Tân Rai, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Chalieco đã đặt mua máy móc của Marubeni và chắc sẽ mang tay nghề và phương pháp quản lý dự án của họ để thực hiện công trình.

Các chuyên gia Việt Nam đã đi thăm các cơ sở điển hình ở Australia và ở Trung Quốc. Những vị này kết luận rằng Australia xử lý bùn đỏ theo phương pháp khô hay hơn là phương pháp ướt của Trung Quốc. Thực ra, như trình bày ở một phần trên, chọn giữa hai phương pháp tuỳ ở tình huống cá biệt về điều kiện thiên nhiên địa phương.

Có người hỏi tại sao không chọn một công ty khác. Những tập đoàn khoáng sản đều có bộ phận thiết kế và xây dựng nhưng chỉ để đáp ứng nhu cầu riêng của họ. Nếu gửi một RFQ ( Request For Quotation, Yêu cầu Kê Giá ) thì họ tìm cách từ chối vì đó không phải là nghề ruột ( core business ) của họ. Theo chúng tôi được biết thì Chalieco là công ty duy nhất trên thế giới bán dịch vụ thiết kế và xây dựng chuyên trong ngành nhôm. Công ty này đã xây tổng cộng 15 nhà máy alumin và hơn 100 nhà máy điện phân nhôm. Đây là những con số đáng kể trong ngành thiết kế và xây dựng. Ngoài ra những xí nghiệp thiết kế và xây dựng Trung Quốc có phương pháp quản lý độc đáo để có thể giảm giá thành và thời hạn hoàn tất mà chúng tôi đã trình bày ở một phần trên.

Chúng tôi xin cảnh báo TKV đã ký một hợp đồng EPC với Chalieco. Nếu bây giờ TKV đòi Chalieco làm gì khác họ đã dự định thì sẽ chịu trách nhiệm và bồi thường mọi hậu quả của sự thay đổi này về tài chính, thời hạn thực hiện và hiệu năng kỹ thuật. Nếu muốn huỷ hợp đồng thì cũng quá muộn. Từ hơn một năm nay dự án đã khởi công, mặt bằng đã được giải toả và đào đắp, những máy móc đã được Chalieco đặt mua rồi, tiền cọc đã đóng rồi,... Nếu bây giờ ngưng thì dự án sẽ đi vào một vòng xoáy những dự án ở Việt Nam thực hiện dở dang, lãng phí tiền của và công lao của người dân.

Quá lắm là chúng ta tiến hành dự án Tân Rai, ngưng thực hiện các dự án bauxite nhôm khác kể cả dự án Nhân Cơ và coi Tân Rai là một thí điểm để đào tạo nhân lực chuyên môn. Đây cũng là đề nghị của các nhà khoa học Việt Nam và quyết định của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải sau hội thảo ngày 09 04 2008.

Hợp tác với những đối tác quốc tế khác

Trong Công văn 2728/VPCP QHQT[v] Chính phủ cho phép TKV mời :

- Tập đoàn Chalco (Trung Quốc) tham gia cổ phần với tỷ lệ 40 % vào dự án 1/5 và Quảng Sơn,

- Tập đoàn Luyện kim Vân Nam ( Trung Quốc ) tham gia vào dự án Tân Rai (Lâm Đồng) với tỷ lệ không quá 20 %,

- Tập đoàn Alcoa (Mỹ) tham gia cổ phần vào Dự án Nhân Cơ (Đăk Nông) với tỷ lệ đến 40 %,

- Tập đoàn BHP (Mỹ) tham gia vào dự án đường sắt từ Tây Nguyên đi Bình Thuận với tỷ lệ đến 49 %,

và được phép tham gia hợp tác khai thác, chế biến bauxite tại Campuchia với tỷ lệ tham gia 10 %.

Chúng tôi đã giới thiệu Chalco ở phần trên. Nội dung đàm phán thì chúng tôi không biết. Theo chúng tôi được biết thì TKV vẫn còn đàm phán với Chalco.

Về Tổng Công ty Nhôm Vân Nam, chúng tôi được biết qua trạm Internet của TKV "Tổng Công ty Nhôm Vân Nam có kế hoạch nâng vốn thêm 1,2 tỷ NDT ( 175,5 triệu USD ) để xây dựng dự án alumin công suất 800.000 t/năm" và công ty đó là công ty con của Tập đoàn Luyện kim Vân Nam. Ngoài ra chúng tôi không tìm thấy trên mạng Internet thông tin gì khác về Tập đoàn Luyện kim Vân Nam vì không biết Hoa văn.

Alcoa là hãng Mỹ số một thế giới về nhôm. Công ty được thành lập năm 1988 dưới tên là The Pittsburg Reduction Company để khai thác bằng sáng chế của Hall về điện phân alumin thành nhôm. Năm 1907 xí nghiệp này đổi tên thành Aluminium Company of America Alcoa cho đến năm 1999 thì lấy tên gọi tắt là Alcoa. Năm 2007, Alcoa có 107.000 nhân viên, doanh số 30,7 tỷ USD, lãi 2,6 tỷ USD và giá trị niêm yết 16,0 tỷ USD. Tập đoàn này sản xuất alumin, nhôm sơ đẳng dưới nhiều dạng, nghiên cứu và sản xuất những thành phần bằng nhôm cho các ngành phi cơ, ô tô, bao bì, xây dựng, phương tiện vận tải,...

Tập đoàn Alcoa chỉ chuyên về sản xuất nhôm và các áp dụng của nhôm, một kiểu mẫu sáp nhập theo chiều dọc (vertical integration) từ nguyên liệu cơ bản đến sản phẩm cuối cùng. Theo chúng tôi được biết thì tập đoàn này chỉ muốn đầu tư chung với những đối tác khác để bảo đảm nguồn cung cấp alumin cho họ. Vì đây là nguyên liệu chiến lược của họ, họ ưu tiên đầu tư trực tiếp (direct investment) để nắm ít nhất tỷ lệ cổ đông có quyền phủ quyết trong hội đồng quản trị hay, nếu có thể, tỷ lệ áp đảo. Nhờ Alcoa có tay nghề rất chuyên môn và những sáng chế đã được coi là đột phá về công nghệ kim khí, hợp tác với tập đoàn này có tiềm năng sinh ra cho chúng ta nhiều tiến bộ trong ngành công nghệ nhôm. Chúng tôi không biết hợp đồng với Alcoa có khoản hợp tác về công nghệ hay chỉ vỏn vẹn ở một bên góp vốn một bên cung cấp lâu dài bauxite và alumin.

BHP Billiton là tập đoàn khoáng sản và kim loại lớn nhất thế giới. Trụ sở đặt tại Melbourne, Australia, và London, Anh Quốc. Năm 2001 tập đoàn được thành lập do sáp nhập công ty BHP ( Broken Hill Proprietary, thành lập năm 1885 ) và công ty Billiton ( thành lập năm 1860 ). Năm 2008, BHP Billiton có 33.900 nhân viên, doanh số 59,5 tỷ USD, lãi 16,0 tỷ USD và giá trị niêm yết 39,0 tỷ USD. Tập đoàn này sản xuất alumin, nhôm sơ đẳng dưới nhiều dạng, nghiên cứu và sản xuất những thành phần bằng nhôm cho các ngành phi cơ, ô tô, bao bì, xây dựng, phương tiện vận tải,... Tập đoàn tác động trên thị trường sắt, kim cương, than, dầu khí, nhôm, đồng, kền và uranium.

Chúng tôi không hiểu tại sao TKV chỉ được mời BHP Billiton đầu tư vào dự án đường sắt từ Tây Nguyên đi Bình Thuận. Theo chúng tôi được biết thì, cũng như Alcoa, BHP Billiton chỉ muốn đầu tư chung với những đối tác khác để bảo đảm nguồn cung cấp khoáng sản và những sản phẩm sơ đẳng được biến chế từ khoáng sản. Vì đây là nguyên liệu và thương phẩm chiến lược của họ, họ ưu tiên đầu tư trực tiếp để nắm ít nhất tỷ lệ cổ đông có quyền phủ quyết trong hội đồng quản trị hay, nếu có thể, tỷ lệ áp đảo. Dự án đường sắt của TKV không phải là một đầu tư chiến lược của họ. TKV lại nhường cho họ một tỷ lệ cổ phần ngay ở dưới tỷ lệ áp đảo thì chắc chắn họ sẽ không nhận.

Công nghệ không phải là một hàng hoá. Chúng ta chỉ có thể đổi một sáng chế hay tay nghề lấy một sáng chế hay tay nghề của đối tác. Nếu chúng ta hạn chế hợp tác quốc tế ở những tập đoàn khổng lồ như Chalco, Alcoa hay BHP Billiton thì chúng ta sẽ thương lượng ở vị thế không thuận lợi vì chúng ta có ít sáng chế hay tay nghề riêng để trao đổi. Ngược lại, nếu chúng ta hợp tác với những đối tác cùng tầm vóc với ta thì chúng ta có thể thương lượng một cách cân bằng hơn. Những tập đoàn công nghiệp các nước đang lên như là Ấn Độ hay Brazil có thể nắm một số sáng chế hay tay nghề mà chúng ta cần đến nhưng không có. Nhiều khi, vì hoàn cảnh khó khăn như chúng ta, họ đã sáng chế những giải pháp kỹ thuật thích hợp với ta hơn mà họ muốn đổi với sáng chế hay tay nghề của ta.

Chúng tôi xin đề nghị hợp tác với Brazil. Nhờ tài nguyên thiên nhiên rất lớn và một chính phủ khuynh tả sáng suốt, Brazil là một cường quốc đang lên. Companhia Vale do Rio Doce (52.600 nhân viên, doanh số 38,5 ty USD, thành lập năm 1942) và Companhia Brasileira de Aluminio (6.500 nhân viên, doanh số 2,2 tỷ USD, thành lập năm 1955) là những công ty khai thác khoáng sản tầm vóc quốc tế, đã được thành lập từ lâu và đã tích luỹ được nhiều tay nghề. Kỹ sư Oliver Henry Knowles được ghi danh trên Danh sách 500 Người Trên Thế giới Được Khen tặng vì Thành tựu cho Môi trường ( Global 500 Roll of Honour for Environmental Achievement ) của UNEP ( United Nations Environment Programme, Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc ) vì đã khai triển thành công phương pháp hoàn thổ cuốn chiếu cho xí nghiệp khai thác bauxite Mineracao Rio do Norte, mà chúng tôi nêu tên ở một phần trên.

Hợp tác với Brazil sẽ mang lại nhiều lợi ích cho hai nước. Chuyến thăm chính thức gần đây của Tổng thống Lula đã mở đường cho những trao đổi thương mại mật thiết hơn giữa Việt Nam và Brazil. Nước này có nhiều mỏ bauxite đã được khai thác từ lâu, có điều kiện thiên nhiên gần giống Việt Nam và đã nghiên cứu để giải quyết những xáo trộn văn hoá xã hội đồng bào thiểu số của họ gây ra bởi khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Các nước bạn láng giềng Campuchia và Lào đều có mỏ bauxite ở những tỉnh giáp giới với Việt Nam và muốn hợp tác với nước ngoài để thăm dò khai thác những mỏ đó. Lào đang hợp tác với China Nonferrous Metals International Mining Inc. và Ord River Resources để thăm dò trên Cao nguyên Boloven. Chúng tôi xin đề nghị ba nước hàng xóm hợp tác về công nghiệp nhôm chặt chẽ hơn là tham gia 10 % vào một dự án ở Campuchia.

Dù hợp tác với nước nào chăng nữa, dù nước đó là bạn hay thù, chúng tôi cũng ân cần xin nhắc lời răn đe Vua Lê Thái Tổ, thế kỷ 15, đã cho khắc vào vách núi đá ở Hoà Bình :

Biên phòng hảo vị trù phương lược

Xã tắc ưng tư kế cửu an

( Phải có phương lược tốt phòng thủ biên giới.

Cần tìm kế sách hay làm cho xã tắc yên ổn lâu dài )

Nội lực

Muốn phát triển công nghệ thì phải dùng nội lực nghiên cứu những vấn đề khoa học kỹ thuật của mình mà nước khác không quan tâm đến và gửi người đi nước ngoài học những công nghệ có tiềm năng giải quyết những vấn đề đó. Nhưng phương pháp dễ nhất, hữu hiệu nhất là thực hiện chung những hợp đồng thiết kế và xây dựng với các xí nghiệp ngoại quốc. Dự án bauxite Tây Nguyên đáng lý ra phải là một cơ hội bằng vàng để chúng ta học kỹ thuật và phương pháp làm ăn của Chalieco.

Nhưng hợp đồng nhà máy alumin Tân Rai đã ký năm ngoái với Chalieco chỉ là một hợp đồng EPC. Loại hợp đồng này cũng được gọi nôm na là hợp đồng "chìa khoá trao tay". Những nước chậm tiến ưa chuộng những loại hợp đồng này vì không có cán bộ có kỹ năng và cũng chịu không thể thành lập một đội ngũ cán bộ có kỹ năng cho sau này.

Rất tiếc hợp đồng với Chalieco không mang lại gì cho chúng ta về tiến bộ công nghệ : TKV trả 466 triệu USD theo một kỳ hạn tuỳ ở tiến độ của công trình rồi chờ Chalieco giao cho một nhà máy có công suất 600.000 tấn/năm. Sau một thời gian chạy thử nhà máy nếu thấy nhà máy chạy không trục trặc gì và với công suất thực 600.000 tấn/năm thì TKV ra lệnh ngân hàng thanh toán tài khoản tạm kìm lại để bảo hành. Chalieco lo hết từ thiết kế, đặt mua những công nghệ mà họ không có, đặt mua thiết bị và vật liệu xây dựng cho nhà máy, mang thiết bị và nhân công xây dựng của họ, chỉ huy và giám sát tất cả mọi việc. Họ muốn mang công nghệ tân tiến hay lạc hậu thì họ mang, họ muốn mua thiết bị cũ hay mới thì tuỳ họ miến là nhà máy sản xuất được đều dặn 600.000 tấn/năm trong suốt thời gian bảo hành. Kết quả là phía Việt Nam chỉ cần học vận hành một nhà máy, không cần biết gì khác mà cũng không có dịp học hỏi thêm gì hết. Ngược lại, với dự án Tân Rai, Chalieco sẽ tích tụ thêm kinh nghiệm, tiến bộ thêm và có thêm một viện chứng để khoe với khách hàng của họ.

Hợp tác quốc tế có thể được thực hiện dưới nhiều loại hợp đồng. Ngoài hợp đồng EPC còn có nhiều loại hợp đồng khác đã được liệt danh và định nghĩa trong Luật Đấu thầu. Những hợp đồng đó đều phải có sự tham gia kỹ thuật của chủ đầu tư hay chủ đầu tư phải uỷ thác phần trách nhiệm của mình cho một xí nghiệp khác. Nhưng uỷ thác nhiều quá thì không kiểm soát được dự án nữa mà cũng không tích luỹ được một chút kinh nghiệm nào. Vì TKV thiếu người có kỹ năng nên đã phải đấu thầu và ký một hợp đồng EPC. Còn nếu Chalieco trúng thầu thì chỉ tại Chalieco rẻ hơn những đối thủ khác, kể cả đối thủ Việt Nam.

Những nhà thầu Việt Nam than phiền chủ đầu tư Việt Nam chọn nhà thầu ngoại. Tình trạng đáng tiếc này có nhiều nguyên do :

- Những nhà thầu Việt Nam không có tay nghề để thiết kế những giải pháp rẻ tiền và hữu hiệu.

- Có nhiều vụ tai tiếng trong thực hiện hợp đồng làm cho các chủ đầu tư không có tín nhiệm vào tất cả cộng đồng nhà thầu Việt Nam.

- Tầm vóc mỗi xí nghiệp thiết kế và xây dựng nhỏ nên khi có một hợp đồng lớn thì phải thầu lại một phần gói thầu cho một chuỗi nhà thầu phụ làm cho dự án vừa đắt vừa không có chất lượng bảo đảm.

Chúng tôi đề nghị Tổng hội Xây dựng Việt Nam và Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam :

- Thành lập những trường trung học chuyên nghiệp và đại học để đào tạo nhân lực cần thiết.

- Thanh lọc hàng ngũ chỉ giữ lại những cá nhân và xí nghiệp có kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức kinh doanh.

- Sáp nhập những xí nghiệp còn lại vào một tập đoàn hay hợp tác xã lớn.

Chúng ta không thiếu gì những LILAMA, COMA, VINACONEX, CONINCO hay LICOGI. Tại sao những xí nghiệp đó không hiệp lại để trở thành một công ty tầm vóc quốc tế, với tiềm năng thực hiện những dự án lớn trong nước cũng như xuất khẩu ? Nếu đã làm được như vậy thì đâu có chuyện người nước ngoài đến cướp việc làm của chúng ta, đâu còn nghi vấn về công nghệ lạc hậu hay thiết bị cũ ngoại bang bán lại cho chúng ta. Nếu đã làm được như vậy thì chúng ta đã tự xây nhà máy Tân Rai, tích tụ kinh nghiệm và có một viện chứng để xây những nhà máy alumin khác cho nước ta và để xuất khẩu.

Kết luận

Bauxite chỉ là một khoáng vật có ích trong số những khoáng vật có ích có mặt trên lãnh thổ Việt Nam. Những vấn đề các báo trong nước nêu lên về mỏ bauxite ở Tây Nguyên cũng là những vấn đề chung cho tất cả các mỏ khác và tất cả những tài nguyên thiên nhiên ở nước ta. Những đề nghị trong bài này cũng có thể áp dụng cho mọi tài nguyên thiên nhiên của nước ta.

Khai thác tài nguyên thiên nhiên tương tự như quản lý một gia tài. Chúng ta có thể không đụng đến gia tài đó để dùng khi cần thiết cấp bách hay để truyền lại cho những thế hệ sau. Chúng ta có thể khai thác hết ngay để thỏa mãn tất cả những ước ao trước mắt mà không tính đến tương lai. Và chúng ta cũng có thể khai thác một cách vừa phải đủ để có vốn phát triển những ngành kinh tế khác. Nếu khai thác ở nhịp độ vừa phải thì chúng ta có thể tránh được bị lôi cuốn vào vòng xoáy suy thoái kinh tế mà các chuyên gia gọi là bệnh Hoà Lan.

Làm việc gì thì cũng phải có mục đích và ở trong chừng mực những phiền luỵ sinh ra vẫn còn có thể chịu đựng được. Chúng tôi không đồng ý với những ý kiến "Có tài nguyên thì cần khai thác"hay "Không làm thì bô xít vẫn là đất thôi". Chúng tôi cũng không đồng ý với ý kiến không nên khai thác tài nguyên bauxite ở Tây Nguyên vì rủi ro xáo trộn văn hoá xã hội hay rủi ro ô nhiễm môi trường thiên nhiên. Ngược lại chúng tôi xin đề nghị tiếp tục dự án nhà máy Tân Rai và hoãn lại những dự án mỏ bauxite khác để có thì giờ :

- (a) nghiên cứu kỹ hơn về khả thi về kinh tế, kỹ thuật ( đặc biệt về môi trường ), văn hoá xã hội và hợp tác quốc tế.

- (b) tăng cường đội ngũ cán bộ thanh tra kỹ thuật, thành tra môi trường và thanh tra tài chính.

- (c) nghiên cứu những cơ hội phát triển công nghệ qua dự án và đưa những cơ hội đó vào kế hoạch của những dự án khác.

- (d) và thành lập một tập đoàn thiết kế và xây dựng công nghiệp có tiềm năng tham gia trực tiếp vào dự án Tân Rai, học hỏi tay nghề của Chalieco để thực hiện những dự án tương lai.

Nếu chính phủ quyết định tiếp tục dự án Tân Rai thì chúng tôi xin đề nghị điều động thêm vốn để xây cùng một lúc một nhà máy điện phân ở Đắk Nông hay Lâm Đồng với công suất tương ứng với công suất alumin của nhà máy Tân Rai. Nhà máy điện phân này sẽ ưu tiên dùng điện của những nhà máy thuỷ điện địa phương.

Theo chúng tôi được biết, đây là lần đầu tiên một quyết định đã được các lãnh đạo chính trị cao nhất cực lực bảo vệ mà được mang ra bàn lại và điều chính theo yêu cầu của xã hội dân sự và các nhà khoa học. Có người nói đã có tiền lệ dự án Thuỷ điện Sơn La. Nhưng lúc đó chỉ có chuyên gia tranh luận với nhau và Quốc Hội đã chỉ được chọn giữa hai phương án. Với dự án bauxite Tây Nguyên xã hội dân sự và các nhà khoa học đã tham gia thảo luận rất hăng say. Chỉ trong một tuần lễ, chúng tôi đã đếm được 186 bài bình luận đầy tâm huyết sau loạt bài về dự án bauxite Tây Nguyên đăng trên báo trong nước. Những nhà khoa học có tín nhiệm đã đăng nhiều bài biện luận. Trong số lãnh đạo đã nghỉ hưu, có ít nhất ba sĩ quan cấp tướng và một Phó Chủ tịch Nước cho ý kiến. Đây là những con số tối thiểu vì chúng tôi không đọc hết tất cả những báo trong nước đăng trên mạng Internet.

Kết luận và quyết định của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải sau hội thảo ngày 09-04-2009 chưa làm nhiều người thoả mãn. Nhưng, phải coi buổi hội thảo này là một bước tiến về dân chủ ở Việt Nam : dù tài ba tới mấy chăng nữa một cá nhân, một nhóm chuyên gia hay một bộ phận Nhà nước cũng không bao giờ sáng suốt bằng 85 triệu người dân.

Ngày và đêm 25-01-1954 , Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng phương án "đánh nhanh thắng nhanh" căn cứ Điện Biên Phủ mang nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên không thể đảm bảo chắc thắng. Sau một đêm không ngủ, Đại tướng quyết định hoãn đến ngày 13-03 mới ra lệnh tấn công đồn thứ nhất để có thì giờ tổ chức lại trận đánh theo phương án "đánh chắc thắng chắc" dài ngày theo kiểu "bóc vỏ" dần tập đoàn cứ điểm. Nhờ khả năng hoãn lại một việc để chuẩn bị cho kỹ mà Võ Tướng quân đã trở thành một nhân vật huyền thoại ngay lúc hãy còn sống.

Noi gương đó, cách đây hai năm, chúng tôi có đề nghị hoãn dự án sản xuất điện hạt nhân trong một thế hệ để toàn dân Việt nam có thì giờ hấp thụ văn hoá an toàn công nghệ . Bây giờ chúng tôi lại xin đề nghị hoãn vài năm những dự án liên quan đến khu mỏ bauxite Tây Nguyên ngoại trừ nhà máy Tân Rai.

Những dự án đó đều cần phải được thực hiện, nhất là dự án năng lượng hạt nhân đáng lẽ ra phải khởi công ngay bây giờ. Nhưng chúng ta bất đắc dĩ phải hoãn lại vì, từ 1975 cho đến nay, những lãnh đạo chính trị liên tiếp đã không quan tâm đến giáo dục đào tạo nhân lực mà kinh tế quốc dân cần đến.

KS Đặng Đình Cung