NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ấn Độ đang trở thành một cường quốc quân sự khu vực - Nguyễn Minh , Kiều bào Nhật Bản

“… cho dù có tăng cường binh bị, quốc gia Ấn Độ luôn chú trọng tới việc bảo vệ những quyền cơ bản của quốc dân …”

Một cách âm thầm nhưng chắc chắn Ấn Độ đang trở thành một cường quốc khu vực, đủ khả năng cạnh tranh với bất cứ thế lực nào trong vùng Nam Á trong thế kỷ 21 này.

Một vài phác họa về Ấn Độ

Ấn Độ là một quốc gia khổng lồ với 3,287 triệu km2 diện tích và một dân số 1,1 tỷ người, sau Trung Quốc ( hơn 1,3 tỷ người ). Tỷ lệ phát triển kinh tế trung bình tăng đều từ 4 đến 7% cho đến 1999, nhưng từ năm 2000 bị khựng lại ở mức 3,9% rồi tăng đều trở lại cho đến nay : năm 2004 là 6,6%, niên khóa 2005-2006 khoảng 8,1%. Tuy có một tỷ lệ phát triển kinh tế tương đối cao nhưng tổng sản lượng quốc gia của Ấn Độ còn khá thấp so với trọng lượng dân số của mình, gần 700 tỷ USD năm 2004, lợi tức đầu người khoảng 600 USD/năm. Hơn 1/3 dân số Ấn Độ sống dưới mức nghèo khó, nhưng tỷ lệ này không đúng với sức mạnh thực sự của Ấn Độ trên chính trường quốc tế.

Phải nhìn lại Ấn Độ từ sau khi Anh trao trả độc lập năm 1947 (15-8), đó là một quốc gia khổng lồ bị phân hóa và chậm tiến, hơn 70% dân số sống dưới mức nghèo khổ, đó là chưa kể thiên tai, dịch bệnh và đói kém đã làm hao hụt thành phần dân số bần cùng rất nhiều. Nhưng từ sau ngày 26-1-1950, Ấn Độ trở thành một nước cộng hòa liên bang và tổ chức chính trị theo thể chế đại nghị, nền kinh tế của Ấn Độ đã cất cánh một cách ngoạn mục qua các kế hoạch ngũ niên do thủ tướng Nehru phát động. Nhưng tất cả những thành tựu về kinh tế trong giai đoạn này đều dồn hết vào chiến tranh chống Pakistan, một nước láng giềng đang tranh giành ảnh hưởng với Ấn Độ trong vùng Nam Á. Sau bốn cuộc xung đột lớn trên vùng Kashmir làm hàng triệu người thiệt mạng, cuộc chiến vẫn chưa ngã ngũ, đến nay hai nước luôn ở trong tư thế thù địch. Từ 1975 đến 1977, chính sách cai trị hà khắc của bà thủ tướng Indira Gandhi ( bị ám sát năm 1984 ) gây nhiều bất mãn trong dân chúng và sinh hoạt kinh tế Ấn Độ lâm vào trì trệ, tình trạng này kéo dài cho tới năm 1991 sau khi con trai bà là thủ tướng Rajiv Gandhi bị hai cận vệ gốc Sikh ám sát.

Từ 1991 đến 2004, quyền lãnh đạo quốc gia thuộc về tay đảng quốc gia Jenata Dal. Dưới quyền lãnh đạo của đảng này, Ấn Độ đã làm nhiều cải tổ quan trọng để phát triển kinh tế và phát triển con người, nhờ đó Ấn Độ đã bắt kịp sự chậm trễ của mình đối với thế giới tiến bộ. Hiện nay thủ tướng Manmohan Singh, thuộc đảng Quốc Đại, tiếp tục các chính sách phát triển của đảng Jenata Dal để lại và quyết tâm biến Ấn Độ thành một cường quốc khu vực.

Tiềm năng nhân lực hiện nay của Ấn Độ rất là khủng khiếp : 9.000 bác sĩ, 200.000 kỹ sư và 300.000 người tốt nghiệp đại học mỗi năm, trong đó 250.000 tìm được việc làm trong nước, số còn lại được tuyển dụng làm việc trong những công ty tin học hay văn phòng kỹ sư nổi tiếng nhất của Anh và Mỹ, vì tất cả đều nói thành thạo tiếng Anh.

Nét độc đáo của giới lãnh đạo Ấn Độ là biết quốc gia mình nghèo nên thay vì phát triển nông, lâm, công nghiệp như tất cả các lãnh tụ quốc gia nghèo khó khác thường làm, họ đã tập trung phát triển con người trong những kỹ thuật đi trước thời đại là tin học, từ đó làm đầu tàu lôi kéo các ngành nghề khác. Và họ đã thành công !

Ngày nay Ấn Độ đã tự túc được đủ mọi mặt và còn dư khả năng xuất khẩu hàng hóa và kỹ thuật sang các quốc gia khác. Trong vụ sóng thần cuối năm 2004, Ấn Độ đã từ chối sự giúp đỡ của thế giới vì đủ sức tự lo liệu lấy. Nhưng trước những đe dọa thường xuyên của hai nước láng giềng là Pakistan và Trung Quốc, các giới lãnh đạo Ấn Độ bất kể thuộc khuynh hướng nào cũng đều chung một ước muốn là tăng cường lực lượng quốc phòng để tự phòng vệ.

Lực lượng quốc phòng của Ấn Độ

Theo Cục điều tra của quốc hội liên bang Mỹ (CRS) công bố hồi tháng 8-2005, Ấn Độ là quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều nhất thế giới trong năm 2004. Năm 2005, Ấn đã nhập 5,7 tỷ USD vũ khí mới của Nga, Mỹ, Pháp và Anh. Ngân sách quốc phòng của Ấn trong năm 2004 là 19, 1 tỷ USD ( 3,1% GDP ), năm 2005 là 22 tỷ USD (2,5% GDP).

Ý thức được sự mong manh của một quốc gia rộng lớn, với một đường biên giới dài 8.000 km trên bộ và 7.000 km bờ biển, Ấn Độ phải liên tục tăng cường lực lượng quốc phòng trên cả ba lãnh vực : bộ binh, hải quân và không quân để đáp ứng đúng với những đòi hỏi mới của chiến trường. Quân số của Ấn Độ hiện nay 1,325 triệu người và 535.000 quân trừ bị, trong đó bộ binh có 1,1 triệu người, không quân 170.000 người và hải quân 55.000 người.

Theo Military Balance phát hành tại Anh tháng 4-2005, quân đội Ấn Độ có hơn 3.000 chiến xa, 1.900 thiết giáp đủ loại, 760 phản lực cơ chiến đấu ( cho cả không quân và hải quân ), 16 tàu ngầm, một hàng không mẫu hạm, 8 khu trục hạm và 150 chiến hạm đủ loại. Với những trang bị này Ấn Độ có đủ khả năng tự phòng vệ, nhưng trước sự bành trướng của Trung Quốc ra biển cả và sự đe dọa tấn công bằng vũ khí hạch nhân của Pakistan, giới lãnh đạo Ấn Độ dành cho ngân sách quốc phòng từ 2 đến 3% GDP mỗi năm để tân trang và trang bị thêm những kỹ thuật mới nhất cho quân đội Ấn Độ, bắt kịp đà tiến bộ của những lực lượng quân sự tiên tiến nhất trên thế giới.

Ưu tư chính của các cấp lãnh đạo Ấn hiện nay là lực lượng hải quân, còn quá yếu so với Mỹ và Anh trên Ấn Độ Dương và chưa đủ khả năng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh hải ở cả hai mặt Đông và Tây cùng một lúc. Nhất là gần đây, lực lượng hải quân của Trung Quốc đang tìm cách vào Ấn Độ Dương để lập căn cứ bảo vệ các đoàn tàu chở dầu.

Khả năng phòng thủ trên Ấn Độ Đương

Với một bờ biển dài trên 7.000 km, công tác bảo vệ và phòng thủ vùng biển rất phức tạp và tốn kém, thêm vào đó hai mặt Đông và Tây của Ấn Độ nằm trên đường vận chuyển hàng hóa và dầu thô lớn nhất châu Á : 90% lượng dầu thô của Đông Á và Đông Nam Á, bằng 1/3 lượng dầu thô trên thế giới.

Trước thế chiến lược quan trọng này, Ấn Độ không thể để cho những thế lực khác làm chủ vùng này, trừ Hoa Kỳ là cường quốc hải quân có mặt từ 1966 tại căn cứ Diego Garcia (do Anh cho Mỹ thuê), thuộc quần đảo san hô Chagos trên Ấn Độ Dương, cách bờ biển Ấn Độ 2.000 km. Tháng 4-1986, Anh bán lại cho Ấn Độ hàng không mẫu hạm Viraat ( tên cũ là Hermès, hạ thủy từ 1953 ), dự trù hoạt động đến năm 2010. Đây là hàng không mẫu hạm đầu tiên không phải chỉ riêng của Ấn Độ mà cả châu Á, có khả năng chứa từ 12 đến 18 chiến đấu cơ lên thẳng Sea Harrier ( khi lâm trận có thể chứa 30 chiếc ) và từ 7 đến 8 trực thăng Sea King. Với hàng không mẫu hạm này, hải quân Ấn Độ đã nhiều lần tập trận chung với Hoa Kỳ, Nga, Singapore và Pháp trên Ấn Độ Dương.

Ngày 20-1-2004, Nga chấp thuận nhượng lại cho Ấn Độ hàng không mẫu hạm Vikramaditiya ( tên cũ là Admiral Gorshkov ), với giá 1,6 tỷ USD, có khả năng chứa từ 18 đến 20 chiến đấu cơ Mig-29K và 12 trực thăng săn tàu ngầm Ka 27 và Ka 29. Hải quân Nga sẽ giao mẫu hạm này cho Ấn Độ vào tháng 5-2008 sau khi đã huấn luyện xong thủy thủ đoàn.

Tháng 10-2005, Nga thuận nhượng cho Ấn Độ bằng sáng chế hàng không mẫu hạm cỡ trung 37.500 tấn, đặt tên là Vikrant, tương đương với hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle của Pháp, có thể chứa 16 chiến đấu cơ Mig-29K và 20 trực thăng săn tàu ngầm và cấp cứu loại Ka 27 và 29. Công trình thiết kế đã bắt đầu từ tháng 4-2006, nhưng chỉ thực sự thi công năm 2009 và dụ trù sẽ hoàn thành năm 2012. Sau đó Ấn Độ sẽ sản xuất chiếc hàng không mẫu hạm nội địa thứ hai và sẽ đi vào hoạt động năm 2018.

Theo dự trù, hai hàng không mẫu hạm mới này (Vikramaditiya và Vikrant) sẽ do hai bộ tư lệnh hải quân phía Đông (căn cứ Vishaka Patnam, bang Andrapradesh trong vịnh Bengal) và phía Tây ( căn cứ Mumbai, bang Maharashtra trong vịnh Ả Rập ) chỉ huy. Còn hàng không mẫu hạm Viraat, trực thuộc bộ tư lệnh trung ương, được dùng làm tàu huấn luyện hay tàu cứu trợ như cứu trợ nạn nhân tsunami hồi cuối năm 2004.

Về chiến lược phòng thủ và bảo vệ hiện nay, vai trò của bộ tư lệnh phía Đông quan trọng hơn cả : bảo vệ sự qua lại an toàn của các tàu thuyền trong vịnh Bengal và eo biển Malacca, theo chính sách Look East của bộ ngoại giao và bộ quốc phòng Ấn Độ. Chính vì vai trò quan trọng này mà hải quân Ấn Độ rất được hải quân Mỹ, hạm đội 7, trọng dụng để bảo vệ sự qua lại của các tàu thuyền trong Ấn Độ Dương và biển Nam Hải.

Năm 2004, hải quân Ấn có 16 tàu ngầm đủ loại, năm 2006 thêm 8 chiếc mới được đưa vào hoạt động, như vậy đội tàu ngầm của Ấn có 24 chiếc. Tháng 10-2005 vừa qua, chính phủ Ấn đã mua bằng sáng chế tàu ngầm của Pháp và Tây Ban Nha để sản xuất 6 tàu ngầm cỡ trung Scorpène vào năm 2015. Ngoài ra Ấn đã có kế hoạch tự đóng tàu ngầm nguyên tử dự trù hạ thủy năm 2009, nghĩa là đến 2010 tàu ngầm Ấn Độ có thể hoạt động ở khắp nơi, có thể sang Thái Bình Dương và biển Đông Trung Hoa mà không cần tiếp tế nhiên liệu. Những tàu của Ấn đều có hệ thống phóng hỏa tiễn liên lục địa nhưng chưa phóng thử lần nào.

Trong các cuộc tập trận với Mỹ, Anh và Pháp, Ấn Độ đã cho các tàu ngầm của mình tham gia tác chiến tàu ngầm chống tàu ngầm, các tàu chiến tham gia tác chiến đối không và tác chiến chống khủng bố, cách tiếp nhiên liệu, tìm vớt và cứu người trên biển.

Vai trò của Ấn Độ trên Ấn Độ Dương

Sự lớn mạnh của Ấn Độ không che giấu được ai, nhất là đối với Trung Quốc, một đối thủ ngang tầm vóc của Ấn Độ tại châu Á. Chính vì thế, để xoa dịu tình hình lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận cùng tập trận với nhau trên biển, lần đầu trong vùng biển Vàng thuộc Trung Quốc và lần thứ hai trong vùng biển Cochin thuộc Ấn Độ. Thực ra đây là dịp để hải quân hai nước làm quen xã giao với nhau và để có thể liên lạc khi khẩn cấp, vì những thực tập trên biển chỉ giới hạn trong các lãnh vực huấn luyện, cấp cứu và tìm người trên biển.

Ngược lại Ấn Độ muốn tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ như một đồng hành chiến lược trong việc hạn chế sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc trên Ấn Độ Dương. Cũng nên biết 90% lượng dầu thô của Trung Quốc phải đi qua vùng này, nhất là từ năm 2006 Trung Quốc bắt đầu nhập LNG ( khí đốt dưới dạng thể lỏng ). Con đường vận chuyển nhiên liệu qua Ấn Độ Dương chính vì thế ngày càng quan trọng đối với Trung Quốc, do đó hải quân Trung Quốc phải có mặt để bảo vệ con đường tiếp tế này.

Để thực hiện ước muốn đó, Trung Quốc đã tích cực hợp tác ngoại giao, kinh tế và quân sự với Miến Điện, Bangladesh và Pakistan để được xây dựng những căn cứ hải quân lâu dài trong Ấn Độ Dương. Ở phía Tây Ấn Độ, Trung Quốc tài trợ cho Pakistan xây dựng cảng Guwadal ở vùng ra vào vịnh Ba Tư. Mặt phía Đông, Trung Quốc tích cực xuất khẩu vũ khí và hợp tác xây dựng hải cảng cho Bangladesh để tìm đường gần nhất ra vịnh Bengal. Trung Quốc đang thương lượng với Miến Điện để thuê dài hạn đảo Coco, cạnh quần đảo Adaman của Ấn. Mục đích của Bắc Kinh là xây dựng một đường vận chuyển dầu thô và vật tư từ Trung Đông và châu Phi vào Trung Quốc qua ngả Vân Nam mà không phải đi ngang qua eo biển Malacca.

Để hạn chế sự bành trướng này, New Dehli đang chứng tỏ cho các quốc gia Nam Á thấy Ấn Độ là cường quốc khu vực. Ở phía Đông, Ấn Độ tăng cường sự kiểm soát vùng biển Adaman để ngăn chặn sự hiện diện đầy đe dọa của hải quân Trung Quốc. Được sự hợp tác của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ, Ấn đang làm áp lực trên Miến Điện và Bangladesh để hai nước này không rơi vào quỹ đạo chiêu dụ của Trung Quốc. Tại phía Tây, Ấn Độ đang thi hành chính sách hòa hoãn với Pakistan nhân vụ động đất trên vùng Kashmir, đang làm áp lực dân chủ hóa trên vương quốc Nepal, trước đó đã sát nhập thành công tiểu vương quốc Sikkim vào Ấn Độ (1970).

Được tham dự vào việc thành lập cộng đồng Đông Á từ đầu, Ấn Độ đã giữ một vai trò quan trọng trong việc hòa giải những mâu thuẫn giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Trong những ngày sắp tới, New Dehli muốn Bắc Kinh phải thương lượng một cách tương kính với Ấn Độ trên các vấn đề liên quan tới châu Á, nhất ở Nam Á. Chẳng hạn như việc muốn lập căn cứ quân sự trên Ấn Độ Dương, biến Tây Tạng thành tiền đồn quân sự, bao vây Ấn Độ bằng cách viện trợ quân sự cho những quốc gia lân bang, v.v. Với sự tăng cường lực lượng hải quân trên Ấn Độ Dương, New Dehli bắn tiếng cho Bắc Kinh biết rằng Ấn Độ có thừa khả năng phong tỏa đường vận chuyển dầu vào Trung Quốc trên Ấn Độ Dương khi bị đe dọa.

Thêm vào đó, Ấn Độ là một trong bốn quốc gia châu Á nắm vững kỹ thuật sản xuất vũ khí hạch nhân với những hỏa tiễn tầm xa liên lục địa, do đó có đủ khả năng trả đũa bất cứ một cuộc tấn công nào bằng vũ khí hạch nhân. Mọi đe dọa tấn công lẫn nhau bằng vũ khí hạch nhân không đặt ra, kể cả đối với Pakistan.

Nguyên tắc điều hành quân đội Ấn Độ

Là một quốc gia dân chủ đông dân nhất thế giới và trung thành với chủ trương bất bạo động của người cha lập quốc Gandhi, quân đội Ấn Độ phải đặt dưới quyền kiểm soát của một bộ trưởng quốc phòng dân sự và phải là một dân biểu quốc hội. Quân đội Ấn cũng không được nhân danh an ninh và an toàn xã hội chà đạp nhân quyền, nghĩa là đàn áp những cuộc chống đối của xã hội dân sự trong nước. Lý do là gần đây, chính phủ Ấn có ban hành luật phòng chống khủng bố và nêu tên 23 tổ chức khủng bố, đa số là những tổ chức Hồi giáo quá khích, đã gặp sự phản đối của xã hội dân sự cho rằng đạo luật có khả năng phá hoại sinh hoạt dân chủ. Chính vì thế, ngày 21-2-2003 quốc hội Ấn đã ban hành một luật mới: không được lấy cớ chống khủng bố để vi phạm nhân quyền, cụ thể là không được bắt người mà không xét xử sau 80 ngày. Điều này cho thấy cho dù có tăng cường binh bị, quốc gia Ấn Độ luôn chú trọng tới việc bảo vệ những quyền cơ bản của quốc dân.

Cũng nên biết cách tổ chức quân đội Ấn Độ hiện nay thừa hưởng từ quân đội Anh, nghĩa là độc lập với chính trị. Nguyên tắc tổ chức ngoại giao và quốc phòng Ấn, do thủ tướng Nehru chủ trương, dựa trên 5 nguyên tắc của Phong trào phi liên kết do ông sáng lập: xây dựng quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới; giải quyết các vấn đề quốc tế trong hòa bình ; đối xử bình đẳng và tôn trọng chủ quyền lẫn nhau; tôn trọng quyền tự do trong tư tưởng và hành động trong từng quốc gia ; tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ giữa các nước.

Nhưng từ khi được trả độc lập năm 1947, quốc gia Ấn Độ còn non nớt đã phải đương đầu với nước láng giềng Pakistan về chủ quyền trên vùng Kashmir bằng vũ lực. Hai quốc gia đã ba lần gây chiến với nhau, làm hàng trăm ngàn người thiệt mạng, nhưng đến nay chủ quyền vẫn chưa giải quyết. Lợi dụng sự non yếu của Ấn Độ, lúc đó đang tranh chấp với Pakistan tại Kashmir, năm 1962 Trung Quốc xua quân sang lãnh thổ Ấn Độ chiếm giữ một số cao điểm trên dãy Himalaya, dọc vùng biên giới với Tây Tạng.

Từ sau ngày đó Ấn Độ từ bỏ đường lối dĩ hòa vi quí và tập trung xây dựng lực lượng quân sự của mình. Trung thành với chủ trương phi liên kết, mà đối thủ là các quốc gia phương Tây, Ấn Độ xây dựng quan hệ mật thiết với Liên Xô để đối đầu với Pakistan lúc đó đang được Mỹ và Trung Quốc tích cực giúp đỡ. Từ thập niên 1970, Ấn đã sản xuất được vũ khí hạch nhân và thử nghiệm thành công một vụ nổ nguyên tử tại Pokran ngày 18-5-1974, từ đó Ấn Độ bắt đầu sản xuất các loại hỏa tiễn tầm gần và tầm xa Agni và Prithvi có gắn đầu đạn nguyên tử. Nắm vững kỹ thuật này, Ấn đã tự sản xuất các lò điện nguyên tử dựa theo các bằng sáng chế của Canada và Pháp.

Về ngoại giao, thành công đầu tiên của Ấn Độ là giúp miền Đông Pakistan tách khỏi miền Tây để thành lập quốc gia Bangladesh năm 1971, sáp nhập vương quốc ở chân núi Himalaya là Sikkim vào liên bang Ấn Độ năm 1975, làm áp lực để dân chủ hóa Nepal năm 2006. Từ 1958 New Dehli đón nhận những người Tây Tạng chạy sang Ấn Độ tị nạn khiến Bắc Kinh nổi giận xua quân sang chiếm giữ một số cao điểm dọc vùng biên giới Ấn Độ-Tây Tạng năm 1962, nhưng từ sau ngày đó quân đội Trung Quốc bị mắc kẹt ở những vùng lạnh lẽo đó cho tới ngày nay.

Sự căng thẳng trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc được duy trì từ 1962 đến 1984. Dưới thời thủ tướng Rajiv Gandhi, chính sách của Ấn Độ thay đổi hẳn. Về quân sự, thay vì đối đầu với Mỹ và Trung Quốc, ông chủ trương hợp tác. Về kinh tế, thay vì tiếp tục đường lối kinh tế chỉ huy có tính kế hoạch, ông đổi hẳn sang sinh hoạt tư bản chủ nghĩa, lấy nguyên tắc tự do cạnh tranh làm nền tảng. Về ngoại giao, ông đích thân sang thăm Trung Quốc năm 1988 để phục hồi lại quan hệ nguội lạnh giữa hai nước từ 1962. Rajiv Gandhi bị ám sát năm 1991, người kế vị ông là bộ trưởng tài chánh Narashime Lao tiếp tục hiện đại hóa Ấn Độ và vẫn còn tiếp tục cho đến thủ tướng Singh hiện nay.

Về vũ khí hạch nhân, Ấn Độ đang có chủ trương phế bỏ toàn bộ lượng vũ khí hạch nhân nếu các nước xung quanh cùng làm. Tuy nhiên Ấn Độ vẫn chưa ký hai hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạch nhân (NPT -Nuclear nonprofileration Treaty) và hiệp ước cấm thử nghiệm hạch nhân bao quát ( CTBT - Comprehensivenuclear Test Ban Treaty) vì cho rằng hai hiệp ước này có tính phân biệt đối xử, chỉ có lợi cho các cường quốc có vũ khí hạch nhân sớm nên Ấn chưa tham gia. Mặc dù vậy, Ấn Độ hoàn toàn tự tin về sức mạnh phòng vệ quân sự của mình ở châu Á, nghĩa là trong khu vực Nam Á và trên Ấn Độ Dương.

Về thực chất sức mạnh quân sự của Ấn Độ ngang ngửa hoặc hơn Trung Quốc trên một số mặt, nhưng Ấn Độ không khoe khoang: bộ binh Ấn Độ được trang bị rất tối tân và được huấn luyện thiện nghệ thích ứng với mọi chiến trường, hải quân Ấn Độ được xếp vào hạng thứ 5 thế giới, không quân Ấn Độ đứng hạng thứ tư trên thế giới.

Nguyễn Minh

( Tokyo )