NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Chính sách quốc phòng độc đáo của Singapore

" Không phải tình cờ Singapore trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất các loại vũ khí tiên tiến thuộc thế hệ thông minh cho toàn ASEAN."

So với các quốc gia khác trong khối ASEAN, với một diện tích chưa tới 700 km2 và một dân số chưa tới 4,6 triệu người, Singapore là quốc gia-thành phố có chi phí quốc phòng lớn nhất trong năm 2005 với 4,7 tỷ USD. Việt Nam về hạng nhì với 2,3 tỷ USD, kế là Mã Lai với 2 tỷ USD, Indonesia và Thái Lan : 1,8 tỷ USD, Miến Điện : 1,5 tỷ USD và Philippines : 880 triệu USD.

Lý do của sự gia tăng này là từ sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, hải quân Nga rời bỏ Cam Ranh, quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi các căn cứ Subic Bay và Clarke Field tại Phillipines. Cả một vùng biển rộng lớn từ Đông Nam Á đến Tây Thái Bình Dương gần như bị bỏ ngỏ, Trung Quốc đã thừa cơ hội tuyên bố chủ quyền trên gần như toàn bộ Biển Đông, đưa cuộc chạy đua vũ trang sang một vận tốc mới trên qui mô vùng.

Nhưng vì có một diện tích quá nhỏ ( 693 km2 ) và một dân số không đông ( 4,6 triệu người ), Singapore không thể xây dựng cho mình một lực lượng quốc phòng qui mô lớn được. Chính sách quốc phòng của Singapore do đó tập trung vào một khẩu hiệu : "rắn hổ phun độc", nghĩa là đánh phủ đầu địch thủ trước khi bị tấn công, hay chờ đồng minh đến tiếp cứu.

Hiện nay Singapore có 60.000 quân, trong đó 21.600 người là chuyên nghiệp, số còn lại là trưng binh. Lực lượng trừ bị khoảng 50.000 người, khi tổng động viên có thể lên đến 250.000 người. Trong thời bình, Singapore chỉ giữ một sư đoàn bộ binh, khi khẩn cấp có thể huy động hai sư đoàn bộ binh, mười đại đội pháo binh, ba đại đội công binh chiến đấu. Nhưng sức mạnh phản công của quân đội Singapore tập trung vào hải quân và không quân. Vì thiếu địa bàn huấn luyện, phần lớn chương trình huấn luyện quân sự được thực hiện trong những phòng ốc với những chiến trường ảo ( simulator ), phần còn lại lúc gần mãn khóa được thực hành tại trung tâm huấn luyện chính ở Đài Loan. Tại đây bộ binh được tập bắn bằng đạn thật, lực lượng cơ giới được diễn tập trên những chiến xa thật do chính quyền Singapore gởi nhờ khoảng vài chục chiếc đủ loại, đủ cỡ. Lực lượng xung kích (taskforce) Singapore được Brunei cho mượn đất để tập huấn trong rừng rậm. Theo hiệp ước FPDA, Singapore cũng có thể gởi binh sĩ sang Úc và Tân Tây Lan để được huấn luyện. Vì thiếu cảng thuần túy dành cho nhu cầu quân sự, hải quân Singapore được Indonesia cho 3 tàu ngầm loại trung đậu nhờ trên lãnh thổ của mình. Về không quân cũng thế, trừ những may bay tuần thám duyên hải ( E-2C và AWACS ) được quyền thường trú tại Singapore, vì thiếu đất xây dựng phi cảng quân sự nên phần lớn phi cơ chiến đấu của Singapore được gởi nhờ ở các căn cứ không quân bạn trong vùng Châu Á - Thái Bình Dương. Chương trình huấn luyện và đào tạo phi công cũng thế, đa số được đưa đi huấn luyện tại Mỹ và lưu trú luôn trong các căn cứ không quân Mỹ, chỉ khi hữu sự, như vào dịp các lễ lớn, những phi công này mới lái máy bay tới Singapore để biểu diễn hay triển lãm rồi sau đó bay về lại các căn cứ bạn.

Chiến lược phòng vệ của Singapore là liên minh với Hoa Kỳ. Để duy trì sự hiện diện liên tục của quân đội Hoa Kỳ trong eo biển Malacca, ngày 13-11-1990, Singapore đã ký Thỏa Thuận Hợp Tác Quân Sự giữa hai nước để quân đội Hoa Kỳ có thể sử dụng căn cứ không quân Paya Lebar và căn cứ hải quân Sembawang. Để mở rộng khả năng tiếp nhận tàu chiến của Hạm đội 7, Singapore cho xây thêm hải cảng Changi (hoàn tất năm 2001) để có thể đón nhận các tàu chiến lớn của Hạm đội 7, như hàng không mẫu hạm và các tàu hộ tống, đến nghỉ chân và nhận tiếp tế. Nhờ hải cảng mới này, Hạm đội 7 có thể hoạt động lâu dài trên Ấn Độ Dương mà không cần về lại đảo Guam hay Nhật để nhận tiếp tế hay sửa chữa nhỏ.

Khi ký hợp tác này, ngoài mục tiêu chiến lược quân sự là tiếp cứu Singapore khi lâm nguy, ban lãnh đạo quốc gia-thành phố này còn nhắm tới những mục tiêu kinh tế mà văn bản này mang lại. Từ 1991 đến nay, dưới sự điều động của Bộ chỉ huy hậu cần vùng Tây Thái Bình Dương ( ComLog WestPac ), hải cảng Sembawang đón tiếp hàng trăm tàu chiến đủ loại của Hạm đội 7 ra vào sửa chữa và nhận hàng tiếp tế mỗi năm. Từ năm 2001 Singapore trở thành nơi nghỉ chân lớn thứ hai của quân đội Mỹ trên Thái Bình Dương, sau hải cảng Yokosuka (Nhật).

Sau khi thuyết phục được bộ quốc phòng Mỹ về trình độ kỹ thuật cao của chuyên viên Singapore, từ tháng 9-1992, bộ chỉ huy Hạm đội 7 giao cho Singapore quyền tu sửa và sản xuất phụ tùng và trang thiết bị cần thiết cho các tàu chiến Mỹ. Nhờ dịch vụ này, chuyên viên Singapore đã được chuyên viên Mỹ huấn luyện những kỹ thuật tu sửa cao cấp của những tàu chiến hiện đại nhất thế giới, và một phần nào thụ đắc được nhiều kỹ thuật sản xuất vũ khí mới.

Từ đó, với đà tăng trưởng đều đặn của sinh hoạt kinh tế và dân trí có trình độ cao về tin học, Singapore phát triển vượt bực và bắt đầu nghiên cứu đầu tư vào kỹ nghệ quốc phòng. Trong thập niên 1990, chi phí quốc phòng của Singapore chiếm 6% GDP, khoảng 2,5 tỷ USD/năm, có năm chiếm 34% ngân sách quốc gia.

Tuy có một kinh phí lớn, bộ quốc phòng Singapore đã rất tiết kiệm trong việc chi tiêu. Chính sách trang bị quân sự của Singapore không theo kiểu tăng cường quân lực theo từng giai đoạn như Đài Loan hay Mã Lai mà theo kiểu liên tục cập nhật hiện đại hóa của Nhật Bản, kết hợp giữa quốc phòng và thương mại, nghĩa là vừa đầu tư sản xuất những trang bị cao cấp cho quân đội vừa tìm thị trường xuất khẩu những quân cụ thông dụng để thu về ngoại tệ.

Nội dung trang bị của quân đội Singapore gồm hai hướng : tân trang những quân cụ có sẵn và thụ đắc những thiết bị quân sự mới nhất của thế giới. Để tìm những vũ khí thích hợp theo hướng này, mỗi năm Singapore tổ chức Hội chợ hàng mẫu kỹ nghệ quốc phòng và hàng không để những nhà sản xuất vũ khí lớn nhỏ trên toàn thế giới đến giới thiệu sản phẩm của mình với khách hàng châu Á.

Qua những hội chợ này, chính quyền Singapore thành lập những công ty trực thuộc chính quyền để gia công hay sản xuất những loại vũ khí chiến thuật tối tân nhất với những bằng sáng chế của các quốc gia sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới như Mỹ, Canada, Do Thái, Anh, Ấn Độ, v.v.

Thật ra ngay khi vừa có độc lập năm 1965, chính quyền Singapore đã nghĩ tới việc xây dựng cho mình một lực lượng quốc phòng độc lập giữa thế giới Hồi giáo Đông Nam Á chung quanh. Năm 1967, công ty sản xuất vũ khí quốc doanh Chartered Industries of Singapore (CIS) được thành lập và bắt đầu sản xuất các loại vũ khí nhẹ với bằng sáng chế của Mỹ và Anh, nhưng từ sau 1990 công ty này đã phát triển mạnh và trở thành một tổ hợp lớn nhờ mua được các bằng sáng chế các loại vũ khí tối tân, quan trọng nhất là tổ hợp STE ( Singapore Technologies Engineering ) chuyên về các loại vũ khí thuộc thế hệ tinh khôn, tức hoàn toàn được điều khiển bằng tin học và trí tuệ nhân tạo. Hiện nay công ty CIS có 50 công ty con thuộc đủ mọi ngành, từ nghiên cứu đến sản xuất, với trên 12.000 nhân công làm việc ngày đêm, xuất khẩu 65% lượng vũ khí được chế tạo ra, lợi tức thu về hàng năm khoảng 3 tỷ USD.

Kỹ nghệ vũ khí Singapore gồm đủ loại, từ các loại súng nhỏ, súng trường, súng đại liên, súng phóng lựu đến các súng đại bác lớn nhỏ tầm gần và tầm xa ; từ các loại đạn cổ điển đến các đầu đạn tinh khôn dò tìm mục tiêu bằng tia laser hay quang học ; từ các phụ tùng thay thế đến những quân cụ được tân trang ( tàu chiến cỡ nhỏ, máy bay chiến đấu, chiến xa ). Không phải tình cờ Singapore trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất các loại vũ khí tiên tiến thuộc thế hệ thông minh cho toàn ASEAN.

Ngoài các công ty nhà nước, một số công ty kỹ thuật cao cấp của tư nhân cũng được chính quyền Singapore cho tham gia vào kỹ nghệ quốc phòng dưới hình thức gia công sản xuất phụ tùng hay tháo khoán sửa chữa hay tân trang dụng cụ quân sự. Về cơ khí, công ty Singapore Automotive Engineering (SAE) chuyên tân trang và hiện đại hóa các loại chiến xa AMX của Mỹ ( 350 chiếc bọc thép AMX-10, 401 chiến xa AMX-13SM1 ), các loại thiết giáp M113 và V-200. Riêng loại V-200 được gắn thêm đại bác do Singapore sản xuất và hỏa tiễn địa đối không Matra Mistral mua của Pháp.

Nhờ những đầu tư và sản xuất vũ khí trên, bộ binh Singapore được trang bị đầy đủ nhất nhưng lại ít tốn kém nhất Đông Nam Á. Tất cả các loại vũ khí, trang bị và đạn dược hiện đại nhất đều được sản xuất từ trong nước, không những thế còn xuất khẩu sang nước ngoài thu về ngoại tệ. Nhờ những trang bị này, Singapore đã thành lập được một liên đội triển khai cấp tốc, với các trang bị phòng ngừa hơi độc và đại bác 105 LG1 mua của Pháp, nhất là được huấn luyện những kỹ thuật tác chiến chống khủng bố bởi những chuyên viên thượng thặng quốc tế trong lãnh vực này.

Về ngoại giao, chính quyền Singapore cũng rất chú trọng đến khía cạnh tâm lý của những quốc gia thành viên ASEAN khác để không bị phật lòng hay lo sợ bị thua kém. Trong thực tế Singapore có thừa ngân sách để hiện đại hóa không quân và hải quân của mình nhưng chỉ làm từ từ, chú trọng về phẩm hơn về lượng.

Về không quân, để tránh mang tiếng là người mở đầu cuộc chạy đua võ trang tại Đông Nam Á, bộ quốc phòng Singapore chỉ nới cũ thay mới với tốc độ vài ba chiếc một năm. Chẳng hạn như từ 1988 Singapore đã mua hai loại chiến đấu cơ tối tân nhất của Mỹ lúc đó : 4 chiếc F-16A (một chỗ ngồi) và 4 chiếc F-16B ( hai chỗ ngồi ). Đến 2005, sau khi Thái Lan và Indonesia bắt đầu sử dụng máy bay F-16 của Mỹ, Singapore mới ồ ạt thay thế 47 chiến đấu cơ Hunter cũ của Anh bằng loại F-16 của Mỹ. Việc mua 18 chiến đấu cơ FA-18 cũng vậy, phải chờ cho tới khi chính quyền Mã Lai nhập vào một chiếc tương tự chính quyền Singapore mới công bố.

Trước đó, năm 1984 không quân Singapore giao cho công ty SAIC ( Singapore Aerospace Industries ) trách nhiệm cải tạo 46 khu trục cơ A4S ( Skyhawk ) bằng động cơ A-5 SU/TA-4SU ( Super Skyhawk ), và trang bị thêm radar APGland và phụ tùng điện tử do công ty Fairanty (Anh) cùng với hệ thống quán tính phi hành LN-93 của hãng Litton (Mỹ). Đến 1992, năng lực chiến đấu của loại khu trục cơ này gia tăng bội phần. Giá thành tổng cộng của loại khu trục cơ tân trang này là 4,6 triệu USD, nhưng sức chiến đấu ngang ngữa với chiến đấu cơ F-16A ( giá 28 triệu USD, tức rẻ gần 1/7 lần ) từ 90 đến 95%. Singapore dự trù sẽ bán những máy bay này cho Việt Nam, Philippines, Argentina.

Hiện nay Singapore đang tân trang lại 46 chiến đấu cơ F5-E và F5-F với hỏa tiễn không đối địa AGM-65 của Mỹ và hệ thống Erisla của Do Thái. Nếu thành công, thị trường canh tân các loại chiến đấu cơ F5 này rất lớn, vì đây là chiến đấu cơ của Mỹ được mua nhiều nhất.

Về khả năng phòng vệ và cảnh giác, không quân Singapore được trang bị bằng các loại máy bay E-2C vượt mọi thời tiết và 6 chiếc AWACS do Mỹ sản xuất, 8 máy bay dò tìm trên biển Talker 50 Enforcer Mk2 của Hòa Lan.

Hải quân Singapore cũng đã sớm có tàu cao tốc gắn hỏa tiễn đối hạm ( 2 chiếc mua của Đức, 4 chiếc được đóng tại Singapore ) có thể chạy với vận tốc 35 knots/giờ liên tục trên 4.000 hải lý, sau đó được trang bị thêm một đại bác 96 mm, 8 dàn phóng hỏa tiễn đối không, 2 dàn phóng ngư lôi và một dàn radar sonar dò tìm tàu ngầm. Singapore có 6 chiến hạm tiền tiêu cao tốc (OPV), trong đó chiếc đầu tiên đóng ở nước ngoài, 5 chiếc còn lại được đóng trong nước. Về tàu phá ngư lôi, Singapore có 4 chiếc mua của công ty Kaal Ronabavet của Thụy Điển năm 1995.

Nguyễn Tống

Sức mạnh các chiến hạm tàng hình lớp Formidable của Singapore

Sức mạnh của Hải quân Singapore đã được nâng lên một bước đáng kể sau khi mua sáu chiến hạm tàng hình lớp Formidable của Pháp và đã bắt đầu triển khai hoạt động đầu năm 2009.

Tháng 8/2008, Singapore đã nhận đủ 6 chiến hạm tàng hình từ pháp mang tên RSS Formidable (68), RSS Intrepid (69), RSS Steadfast (70), RSS Tenacious (71), RSS Stalwart (72) và RSS Supreme (73). Các chiến hạm này được phát triển dựa trên mẫu tàu La Fayette của Pháp.

Các chiến hạm được trang bị những hệ thống chiến đấu hiện đại như: pháo 76mm, được trang bị 32 quả tên lửa Aster 15 với 04 bệ phóng SYLVER A43, mỗi bệ 8 ống phóng; ngoài ra còn được trang bị tên lửa hạm-đối-hạm Harpoon có tầm 130 km, thuỷ lôi A244/S Mod 3, có thể mang theo 01 trực thăng Sikorsky S-70B.

Các chiến hạm này có chiều dài 114,8m, lượng choán nước 3.200 tấn, vận tốc tối đa đạt 50km/h, tầm hoạt động 4.200 hải lý, mỗi khinh hạm biên chế một ê kíp 71 thuỷ thủ, 15 lính Không quân.

Các khinh hạm này có khả năng tàng hình tránh được phát hiện của ra-đa, chống lại các mối de doạ từ trên không, mặt nước và dưới ngầm.

Hiện nay, các khinh hạm này đã được đưa vào hoạt động với nhiệm vụ bảo vệ an ninh chủ quyền lãnh hải, chống hải tặc, khủng bố và sẵn sàng đối trả với những đe doạ. Sau khi đưa vào hoạt động, các chiến hạm này đã phát huy tốt khả năng tìm kiếm và tiêu diệt các mục tiêu trên không, biển và trên bộ thông qua các hoạt động diễn tập song phương và đa phương với Ấn Độ, Mỹ và theo chương trình các chiến hạm tàng hình này sẽ tham gia vào diễn Bersama Shield 2009 với các nước trong khối Ngũ cường vào tháng 5/2009 tại khu vực Biển Đông.

Trần Anh

Sức mạnh của lực lượng tàu chiến Singapore

Là một quốc đảo có diện tích nhỏ ở khu vực Đông Nam Á, nhưng Singapore hiện có lực lượng hải quân hiện đại hàng đầu trong khu vực với một lực lượng tàu chiến hiện đại được mua từ các nước phương Tây.

Cộng hoà Singapore có dân số khoảng 4,83 triệu người, nằm ở cực Nam Bán đảo Malaysia, phía Bắc giáp Malaysia, Đông – Nam giáp Indonesia, nằm giáp eo biển Malacca, trên đường từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương. Có diện tích: 692,7 km2, gồm 64 đảo, 1 đảo lớn và 63 đảo nhỏ.

Có lẽ cũng xuất phát từ yếu tố vị trí địa lý đặc biệt này, Singapore đã có nhiều quan tâm phát triển lực lượng quân đội, trong đó chú trọng tới phát triển hải quân. Về tổng thể, hải quân Singapore hiện đang sở hữu một lực lượng tàu chiến khá đông đúc và hiện đại gồm các hải đội 171, 182, 185, 188, 189, 191 và 194.

Khinh hạm tàng hình lớp “Formidable” ( Formidable class multi-role stealth frigates ) - Hải đội 185

Năm 2002, Bộ Quốc Phòng Singapore ký hợp đồng với Pháp đóng 6 khinh hạm tàng hình lớp Formidable. Tính đến tháng 8/2008, Singapore đã nhận đủ 6 chiếc từ pháp mang tên RSS Formidable (68), RSS Intrepid (69), RSS Steadfast (70), RSS Tenacious (71), RSS Stalwart (72) và RSS Supreme (73). Các khinh hạm này được phát triển dựa trên mẫu tàu La Fayette của Pháp.

Các khinh hạm được trang bị những hệ thống chiến đấu hiện đại như: pháo 76mm, được trang bị 32 quả tên lửa Aster 15 với 04 bệ phóng SYLVER A43, mỗi bệ 8 ống phóng; ngoài ra còn được trang bị tên lửa hạm-đối-hạm Harpoon có tầm 130 km, thuỷ lôi A244/S Mod 3, có thể mang theo 01 trực thăng Sikorsky S-70B.

Khinh hạm lớp Formidable có chiều dài 114,8m, lượng choán nước 3.200 tấn, vận tốc tối đa đạt 50km/h, tầm hoạt động 4.200 hải lý, mỗi khinh hạm biên chế một ê kíp 71 thuỷ thủ, 15 lính Không quân. Khinh hạm có khả năng tàng hình tránh được phát hiện của radar, chống lại các mối de doạ từ trên không, mặt nước và dưới ngầm.

Đặc biệt, hệ thống tên lửa đối không của tàu được kết hợp giữa radar Thales Herakles với ống phóng Sylver A50 và khoảng từ 15-30 tên lửa MBDA Aster (tên lửa Aster có thể dùng để chống máy bay hoặc tên lửa hành trình). Hệ thống chống ngầm của Formidable là ngư lôi hạng nhẹ Eurotop A244-S Mod 3, có tầm bắn 13,5km. Ngoài ra, Formidable còn được vũ trang pháo hạm Oto Melara 76mm rất hữu hiệu khi công kích các mục tiêu nhỏ, tầm gần trên biển.

Hiện nay, các khinh hạm này đã được đưa vào hoạt động với nhiệm vụ bảo vệ an ninh chủ quyền lãnh hải, chống hải tặc, khủng bố và sẵn sàng đáp trả với những đe doạ. Sau khi đưa vào hoạt động, các chiến hạm này đã phát huy tốt khả năng tìm kiếm và tiêu diệt các mục tiêu trên không, biển và trên bộ thông qua các hoạt động diễn tập song phương và đa phương với Ấn Độ, Mỹ và các nước trong khu vực.

Tàu tuần tiễu lớp Fearless (Fearless class patrol vessels) - Hải đội 182 và 189

Sau khi hải quân Singapore chuyển giao các tàu tuần duyên lớp Swift cho lực lượng phòng vệ bờ biển, ngày 27/2/1993 hải quân đã ký hợp đồng đóng 06 chiếc đầu tiên với hãng đóng tàu nội địa ST Marine, loạt đầu tiên này được trang bị khả năng tác chiến chống ngầm khá hiệu quả.

Tính đến ngày 22/8/1998, hải quân Singapore đã biên chế đủ 12 chiếc vào hoạt động gồm: RSS Fearless (94), RSS Brave (95), RSS Courageous (96), RSS Gallant (97), RSS Daring (98), RSS Dauntless (99), RSS Resilience (82), RSS Unity (83), RSS Sovereignty (84), RSS Justice (85), RSS Freedom (86), RSS Independence (87). Ngày 03/1/2003, chiếc RSS Courageous (96) đã bị hư hỏng nặng trong một vụ va chạm với một tàu hàng ở eo biển Singapore. Theo biên chế hiện nay của hải quân chỉ có 11 chiếc thuộc các hải đội 182 và 189. Fearless có lượng giãn nước 500 tấn, tàu dài 55m. Vũ khí trang bị trên tàu bao gồm tên lửa đối không Mistral, thủy lôi chống ngầm Eurotop A244-S Mod 3 có tầm bắn 13,5km, pháo hạm Oto Melara 76mm và pháo phòng không CIS 50 12,7 mm.

Tàu quét mìn lớp Bedok (MCMVs) - Hải đội 194

Các tàu thuộc lớp Bedok được coi là lực lượng tàu khá quan trọng trong nhiệm vụ bảo đảm an toàn hàng hải cho eo biển Singapore và tuyến đường biển quốc tế qua khu vực này. Lớp Bedok được thiết kế và chế tạo theo công nghệ Thụy Sĩ.

Tháng 4/1994 hải quân Singapore đã tiếp nhận đủ 04 chiếc từ Thụy Sĩ, tiếp đó đến ngày 07/10/1995 hải quân Singapore chính thức biên chế vào hoạt động. Hiện, Bedok được biên chế thành hải đội tàu chiến 194 gồm: Tàu RSS Bedok (M105), RSS Kallang (M106), RSS Katong (M107) và RSS Punggol (M108)

Tàu quét mìn lớp Bedok có lượng giãn nước 360 tấn, tàu dài 47.5m. Tàu được trang bị pháo phòng không Bofor 40mm, súng máy CIS 50 12.7mm. Đặc biệt, Bedok được lắp đặt máy xử lý bom mìn điều khiển từ xa ECA PAP 104 Mk5.

Các tàu lớp Bedok đã phát huy khá hiệu quả khi tham gia vào một số cuộc diễn tập song và đa phương với hải quân các nước như: Diễn tập Bersama Padu (khối Ngũ cường), Mercury (Mỹ - Singapore), Lejon Singa (Singapore - Thụy Điển), Joint MINEX (Singapore - Indonesia), Exercise Milan (diễn tập đa phương do Ấn Độ tổ chức).

Tàu hộ tống lớp Victory (Victory class corvettes) - Hải đội 188

Năm 1983, Bộ Quốc phòng Singapore mua 6 chiếc loại này từ Đức. Chiếc thứ nhất đóng tại Đức, 05 chiếc còn lại đóng tại xưởng đóng tàu ST Marine, Singapore; Victory là lớp tàu chống ngầm đầu tiên của Singapore.

Tính đến năm 1991, Singapore đã hoàn thành toàn bộ 06 chiếc và biên chế thành đội tàu hộ tống 188 gồm: RSS Victory (88), RSS Valour (89), RSS Vigilance (90), RSS Valiant (91), RSS Vigour (92), RSS Vengeance (93).

Các tàu thuộc lớp Victory có lượng choán nước 600 tấn, dài 62 mét, vận tốc tối đa 30 hải lý (56 km/h), atù được biên chế 46 thủy thủ đoàn. Hệ thống vũ khí trên tàu bao gồm tên lửa chống hạm Harpoon, tên lửa đối không Rafael Barak, thủy lôi chống ngầm Eurotop 2A44-S Mod 3, pháo hạm Oto Melara 76mm và pháo phòng không CIS 50 12,7mm.

Tàu vận tải đổ bộ lớp Endurance (LPD) - Hải đội 191

Tàu vận tải đổ bộ lớp Endurance được Hải quân Singapore tự thiết kế và đóng mới để thay thế tàu đổ bộ lớp County quá hạn sử dụng. Trong giai đoạn từ 2000 – 2001, hải quân Singapore đã lần lượt biên chế 04 chiếc vào hoạt động gồm: RSS Endurance (207), RSS Resolution (208), RSS Pesistence (209) và RSS Endeavour (210).

Endurance có lượng choán nước lên tới 6000 tấn, là loại tàu lớn nhất của hải quân Singapore hiện nay. Tàu dài 141m, thủy thủ đoàn 65 người, Endurance đạt tốc độ tối đa 20 hải lý mỗi giờ. Tàu có khả năng chở 18 xe tăng và binh lính, đồng thời trên boong tàu phía sau còn có sân đỗ cho hai trực thăng hạng trung. Tàu được trang bị hệ thống vũ khí phòng vệ khá mạnh bao gồm tên lửa đối không Mistral, pháo phòng không CIS 50 12.7mm và pháo hạm Oto Melara 76 mm.

RSS Endurance đã trở thành chiếc tàu hải quân đầu tiên của Singapore thực hiện chuyến đi vòng quanh trái đất để tới tham gia cuộc tập trận hải quân quốc tế tại thành phố New York, Mỹ, năm 2000. Các tàu lớp Endurance cũng tham gia vào các hoạt động cứu trợ nhân đạo, như ở Đông Timor, vịnh Ba Tư và đợt cứu trợ sóng thần ở tỉnh Aceh, Indonesia.

Thanh Hà