NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Chính sách an ninh quốc phòng của Thái Lan - Nguyễn Minh , Kiều bào Nhật Bản

"...Trước những nguy cơ chiến lược đối với các lân bang hùng mạnh, năng lực phòng thủ của Thái tùy thuộc vào sự ổn vững của chế độ dân chủ vừa được thiết lập..."

Ám ảnh lớn nhất đối với người Thái là sợ mất độc lập. Thật vậy, từ sau khi đánh bại đế quốc Angkor (1431) và giành lại độc lập, ưu tư chính của các vương triều Xiêm La là giữ gìn độc lập bằng mọi giá. Do đó trước những đối thủ hùng mạnh hơn thì người Thái chọn phe mạnh nhất để được bảo vệ mà không bị mất độc lập. Chính nhờ sự đu dây này mà từ thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 20, trong khi các quốc gia Đông Nam Á khác lần lượt bị các thế lực thực dân châu Âu chiếm đóng, vương triều Xiêm La vẫn duy trì được độc lập. Sau 1945, Xiêm La đổi tên thành Thái Lan ( đất của người Thái ) và áp dụng thể chế quân chủ lập hiến, nhưng chính sách quốc phòng của quốc gia mới này vẫn không thay đổi, nghĩa là chọn cường quốc mạnh nhất để hợp tác : Hoa Kỳ.

Chính sách đu dây của các chính quyền Thái

Từ sau 1945 đến nay, cho dù các chính quyền quân sự và dân sự cứ tiếp nối thay nhau nhưng đồng minh quân sự chính của Thái Lan vẫn là Hoa Kỳ. Nằm giữa một vùng đất đầy tranh chấp với các quốc gia lân bang và giữa hai thế giới đang bành trướng thế lực : Trung Quốc và Ấn Độ, tiếp tục là đồng minh quân sự với Hoa Kỳ Đây là một thái độ khôn ngoan. Nhất là gần đây, Thái Lan rất cần Hoa Kỳ hỗ trợ về kỹ thuật tác chiến đế chống khủng bố Hồi giáo quá khích đang xâm nhập vào lãnh thổ phía Nam.

Trong suốt thời gian từ 1956 đến 1992, quân đội Thái Lan luôn luôn ở trong tình trạng báo động thường xuyên, vì Thái Lan là hậu cần của quân đội Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến Việt Nam ( 1956 - 1975 ) và là hậu cứ của lực lượng Khmer Đỏ ( 1979 - 1992 ). Sự duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ tuy rất tốn kém nhưng không thể thiếu được. Nhưng từ 1992 trở lại đây, sau khi ba nước Đông Dương ( Việt Nam, Campuchia và Lào ) gia nhập vào khối ASEAN, căng thẳng quân sự giảm hẳn và biến mất vào đầu thiên niên kỷ thứ ba. Hiện nay bộ binh Thái Lan có khoảng 280.000 người, trong đó lực lượng tác chiến là 190.000 người.

Nét đặc trưng của giới tướng lãnh Thái Lan, từ khi lên cầm quyền trong thập niên 1960 đến cuối thập niên 1990, là làm kinh doanh. Chính quyền quân phiệt đã kết hợp với giới tư sản để trở thành lực lượng lãnh đạo độc quyền. Khi chấp nhận cho quân đội Mỹ sử dụng căn cứ Udon-Thani làm hậu cứ tiếp tế chiến trường Việt Nam và Lào trong hai thập niên 1960 và 1970, cả vùng rừng núi phía Tây của Thái Lan cũng nhờ đó phát triển theo : hệ thống đường sá và điện nước đã đến tận những vùng nông thôn xa xôi nhất. Quân đội Thái làm chủ hệ thống ngân hàng lớn nhất nước.

Tuy nắm giữ rất nhiều quyền lực trong tay nhưng phe cầm quyền không biết chia đều quyền lợi cho những phe khác nên đã xảy ra nhiều cuộc đảo chánh từ 1960 đến cuối thập niên 1980. Sau những cuộc tranh đấu của giới sinh viên và học sinh, chính quyền quân phiệt nhường chỗ cho chính quyền dân sự tháng 9-1991, 557 tướng tá đã bị cách chức, quân đội trở về lại với vai trò chính của mình là bảo vệ an ninh nội địa và khu vực biên giới. Từ sau ngày đó, sinh hoạt kinh tế của Thái Lan phát triển mạnh, tăng 33% năm 1993, chính phủ dồn mọi nỗ lực ( 8 tỷ USD ) để nâng cao hạ tầng cơ sở với tốc độ phát triển trung bình 6%/năm, nhưng cuộc khủng hoảng tài chánh năm 1997 đã làm khựng lại mọi dự án phát triển.

Nhờ có phát triển, chính quyền dân sự đã dành một ngân sách lớn để hiện đại hóa quân đội. Mặc dù vẫn nhìn nhận Hoa Kỳ là đồng minh chính, nhưng giới lãnh đạo Thái vẫn không quên tập quán cố hữu là duy trì nền độc lập bằng mọi giá. Không muốn lệ thuộc vào Hoa Kỳ về quân sự, Thái Lan đã mua vũ khí từ 11 nước khác trên thế giới. Biết rõ tập quán của quân đội Thái, giới buôn bán vũ khí thường mua chuộc những cấp lớn trong quân đội để ký những hợp đồng béo bở. Trước đó quân đội Thái đã gián tiếp cung cấp vũ khí và tiếp tay với giới buôn lậu vào việc vận chuyển thuốc phiện từ khu Tam Giác Vàng đi khắp thế giới. Tình trạng này chỉ chấm dứt vào năm 2003 khi chính quyền Thái Lan bị thế giới làm áp lực chống buôn bán thuốc phiện tại khu Tam Giác Vàng.

Vừa chấm dứt xong nạn chuyên chở thuốc phiện vùng biên giới phía Bắc, quân đội Thái liền đối đầu với những xung đột về tôn giáo, sắc tộc và buôn bán thuốc phiện tại vùng biên giới phía Nam. Từ đầu năm 2004, quân du kích khủng bố Hồi giáo gốc Mã Lai đã liên tục tấn công các đồn cảnh sát, trường học và cả doanh trại quân đội ở ba tỉnh cực nam Thái Lan. Những cuộc xung đột giữa quân chính phủ và quân Hồi giáo quá khích đã làm hàng ngàn người thiệt mạng, đa số là thường dân ; bộ trưởng quốc phòng Thái bị cách chức ngày 6-10-2004. Tình trạng bất ổn tại vùng này vẫn còn kéo dài cho tới ngày nay.

Thái xem trọng các cuộc diễn tập quân sự với Mỹ

Tuy chưa bao giờ biết đến chiến tranh, Thái Lan vẫn duy trì chế độ quân dịch. Người thanh niên đến tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự ( 18 tuổi ) sau khi được huấn luyện xong, gọi là quân trừ bị, sẽ được bắt thăm để bố trí vào các binh chủng hải, lục, không quân trong vòng hai năm, hoặc được miễn dịch. Hiện nay Thái Lan có khoảng 200.000 quân trừ bị.

Nhờ có phát triển kinh tế đều đặn từ 1991 đến 1996, từ 7 đến 8% mỗi năm, hải quân Thái đã được trang bị một hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ Chaklinalevet do Tây Ban Nha nhượng lại, trọng tải 11.485 tấn, vận tốc 26 knot. Đây là hàng không mẫu hạm đầu tiên của các quốc gia trong khối ASEAN. Để hỗ trợ hàng không mẫu hạm này, hải quân Thái được trang bị thêm ba tàu tiếp tế nhiên liệu mua của Trung Quốc và sáu hộ tống hạm Knock mua của Mỹ. Hàng không mẫu hạm này có nhiệm vụ gìn giữ bầu trời và vùng biển trong vịnh Thái Lan, vùng biên giới giữa Thái Lan và Miến Điện dọc bán đảo Mã Lai và eo biển Malacca. Với hạm đội này, Thái Lan đã tham dự các cuộc diễn tập trên biển ngang hàng với các cường quốc hàng hải khác như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Đại Hàn và hơn hẳn các quốc gia lân bang như Philippines, Singapore, Mã Lai và Indonesia.

Về không quân, chủ lực tấn công chính của Thái Lan là phi đội chiến đấu cơ F16 mua của Hoa Kỳ. Ngoài số lượng trực thăng do quân đội Mỹ nhượng lại, không quân Thái vừa được trang bị thêm 10 trực thăng chiến đấu Alpha Jet do Đức nhượng lại dùng để truy kích và tảo trừ lực lượng phiến quân dọc hai vùng biên giới Mã Lai và Miến Điện.

Ngoài số lượng súng cá nhân mua của Hoa Kỳ, bộ binh Thái chưa được cấp ngân sách lớn để trang bị những loại vũ khí mới. Hiện tại binh chủng thiết giáp vẫn còn sử dụng các loại chiến xa đời cũ mua của Mỹ như M60, M48 và xe bọc thép Hammer. Binh chủng pháo binh cũng thế, vẫn tiếp tục sử dụng các đại bác 105 mm và 155 mm. Binh chủng truyền tin được trang bị tối tân hơn với những máy truyền tin mua của châu Âu nhưng đa số quân cụ truyền tin vẫn là của Mỹ.

Chính vì thế, bộ tham mưu quân đội Thái đã rất buồn phiền vì chưa dè bẹp được lực lượng phiến quân tại các khu vực biên giới, được trang bị bằng các loại vũ khí nhẹ tối tân hơn do lợi tức từ buôn bán thuốc phiện mang lại. Hơn nữa quân đội Thái vẫn còn sống xa cách với quần chúng nông thôn, trong khi lực lượng phiến quân bám trụ vào dân chúng để tồn tại. Cuộc chiến chống buôn lậu thuốc phiện do đó sẽ còn kéo dài chừng nào khoảng cách giàu nghèo giữa thị thành và nông thôn chưa thu ngắn lại.

Hiện nay việc giữ gìn an ninh tại hai khu vực biên giới Mã Lai và Miến Điện được giao cho lực lượng đặc biệt Thái, được chuyên viên biệt kích Mỹ huấn luyện, đảm nhiệm. Mỗi năm đều có diễn tập quân sự giữa hai lực lượng biệt kích Thái-Mỹ, dưới tên gọi "Rắn Hổ Mang Vàng" (Golden Cobra), trên các vùng biên giới để trao đổi kinh nghiệm.

Về thực lực, quân đội Thái Lan hiện nay chưa đủ mạnh để đương đầu với những biến chuyển quân sự lớn trong vùng vì thiếu trang bị. Lo ngại lớn nhất của các chính quyền Thái là sự hiện diện ngày càng công khai của hải quân Trung Quốc trên vùng biển Andaman, nhất là quyền sử dụng các căn cứ quân sự của Miến Điện trên quần đảo Coco. Thêm vào đó, hải quân Trung Quốc còn được Indonesia cho ghé vào ba quân cảng để nhận tiếp tế (trong đó có một căn cứ dành riêng cho tàu ngầm Trung Quốc) để bảo vệ nguồn cung cấp dầu. Thái cũng có mối lo tương tự với Ấn Độ vì sự hiện diện hùng hậu của lực lượng hải quân Ấn trên quần đảo Anandes, cửa ngõ vào Malacca.

Trước những nguy cơ chiến lược vừa kể đối với các lân bang hùng mạnh, năng lực phòng thủ của Thái tùy thuộc vào sự ổn vững của chế độ dân chủ vừa được thiết lập.

Hiện nay quân lực Thái còn rất lao đao trong việc giữ gìn an ninh dọc vùng biên giới giữa Miến Điện và Mã Lai. Mỗi năm vào mùa khô, tháng 5 và tháng 6, quân đội Miến Điện tấn công vào lãnh thổ của người thiểu số Karen dọc vùng biên giới Thái để làm chủ đường vận chuyển thuốc phiện, dân quân Karen chạy vào lãnh thổ Thái lánh nạn và lập căn cứ chống lại. Sự kiện này buộc quân đội Thái phải hiện diện thường xuyên để gìn giữ an ninh, nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề.

Thêm vào đó, việc duy trì một hàng không mẫu hạm cùng những tàu hộ tống và tiếp tế quá tốn kém mà khả năng tài chánh của Thái Lan không còn đảm nhiệm nổi. Hiện nay đang có những thương thảo giữa Bangkok và Bắc Kinh để nhượng lại toàn bộ hệ thống hàng không mẫu hạm cho Trung Quốc với giá phải chăng. Nếu mua được, Bắc Kinh sẽ duy trì hạm đội này tại vùng biển Andaman để bảo vệ đường tiếp tế nhiên liệu của Trung Quốc, trong khi vẫn tiếp tục trang bị cho mình một hàng không mẫu hạm khác, Wariya ( 60.000 tấn ) mua lại của Nga, để tăng cường sự hiện diện trên Biển Đông, căn cứ đặt tại quân cảng Tam Á, đảo Hải Nam. Với hai hạm đội này, Trung Quốc đủ khả năng uy hiếp lực lượng hải quân của các quốc gia Đông Nam Á trên quần đảo Trường Sa, trong quyết tâm chiếm thêm các đảo khác, để mở rộng khả năng dò tìm dầu hỏa trên vùng Biển Đông trước sự bất lực của các quốc gia Đông Á ( Nhật Bản và Đại Hàn ).

Nguyễn Minh

( Tokyo )