NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Sức mạnh quân sự của Trung Quốc - Nguyễn Minh , Kiều bào Nhật Bản

Từ vài năm trở lại đây, quyết tâm canh tân qui mô lực lượng quân sự của Trung Quốc để bắt kịp trình độ kỹ thuật tác chiến hiện đại đang biến thành hiện thực. Tháng 3-2005 , quốc hội đã thông qua Luật chống ly khai và chấp nhận gia tăng ngân sách quốc phòng năm 2005 lên 247,7 tỷ CNY ( 30 tỷ USD ), tăng 12,6% so với năm trước. Hai quyết định này gây nhiều lo ngại trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ và các nước láng giềng châu Á.

Mọi người đều hiểu rằng Luật chống ly khai này nhắm vào Đài Loan, theo đó Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu đảo này tuyên bố độc lập vào năm 2008, khi bản hiến pháp mới được chấp thuận sau cuộc trưng cầu dân ý. Trong thực tế đạo luật này nhắm vào các tỉnh lớn trong lục địa hơn là Đài Loan. Hiện nay khuynh hướng thoát ly của các tỉnh ven biển, vì quá giàu mạnh nên muốn tách khỏi sự kềm chế của Bắc Kinh, và các tỉnh Hồi giáo phía Tây, vì quá nghèo khó nên muốn thoát khỏi sự khống chế của văn hóa Trung Hoa, ngày càng lên cao có thể làm tan vỡ Trung Quốc.

Việc chấp nhận gia tăng ngân sách quốc phòng chỉ là sự hợp thức hóa ước muốn xây dựng và củng cố một nước Trung Quốc hùng mạnh mà mọi người đều đồng ý. Ước muốn này càng cao đối với ê-kíp cầm quyền của ông Hồ Cẩm Đào và ông Ôn Gia Bảo, cả hai đều còn trẻ và muốn thấy sự hồi sinh của nền văn hóa Đại Hán khi còn đương thời.

Nhưng ước muốn là một chuyện, thực hiện được hay không là một chuyện khác. Hiện nay tốc độ phát triển cao một cách tự phát đang vượt khỏi tầm tay những nhà lãnh đạo Trung Quốc : 8%, 9% hay 10%, không ai biết rõ, những con số đưa ra đều là phỏng đoán, có khi phóng đại. Nhiều vấn đề lớn đang đặt ra cho một quốc gia có 1,3 tỷ người. Chẳng hạn như làm sao tự do hóa xã hội Trung Quốc trong thời gian chuyển tiếp đến năm 2007 để thích hợp với những cam kết sau khi đã gia nhập vào WTO ; giải quyết số lao động thừa như thế nào ( khoảng 200 triệu người ) sau đại hội Olympic (2008), Expo Thượng Hải và đập Tam Lũng Hiệp (2010). Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề xã hội trầm trọng không kém khác là làm sao thuyết phục nông dân đóng thuế vào năm 2010 mà không gây xáo trộn xã hội, làm sao giải quyết gánh nặng nuôi dưỡng hơn 1/4 dân số ( 350 triệu người ) trên 60 tuổi vào năm 2012 và bù đắp nạn thiếu phụ nữ ( 10 triệu người mỗi năm ) do chính sách một con gây ra. Cũng nên biết vào năm 2020 sẽ có khoảng 500 triệu người ( 1/3 dân số ) Trung Quốc trên 60 tuổi và nạn thiếu phụ nữ tiếp tục trầm trọng hơn.

Trước những vấn đề xã hội khó khăn và to lớn như vậy, sự gia tăng ngân sách quốc phòng có hợp lý hay không ? Đó là một câu hỏi dành cho các quốc gia phương Tây, tại Trung Quốc vấn đề không đặt ra như vậy. Khi đã giàu mạnh, Trung Quốc phải làm sao rửa được cái nhục thua kém vì bị các đế quốc phương Tây và Nhật sâu xé cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trung Quốc đã gần như bắt kịp đà tiến bộ chung của thế giới vào cuối thế kỷ 20 và bây giờ muốn trở thành đại cường quốc quân sự vào đầu thế kỷ 21.

Chính vì thế, việc thống nhất với Đài Loan rất là quan trọng, nếu không bằng biện pháp hòa bình thì bằng vũ lực, do đó vai trò của quân đội càng thêm quan trọng. Nhưng Trung Quốc gặp một trở ngại lớn : Hoa Kỳ, cái dù che chắn của Đài Loan trước sự đe dọa của Trung Quốc.

So với Hoa Kỳ, quân đội Trung Quốc còn thua rất xa về mặt kỹ thuật, nhất là về các loại vũ khí tinh khôn IT, cũng như khả năng tác chiến ở những nơi xa lục địa, như Đài Loan, các hải đảo hay tại các quốc gia khác. Sự hiện diện của quân đội Mỹ tại những căn cứ trong vùng Trung Á càng làm cho Bắc Kinh lo ngại bị bao vây.

Quyết tâm canh tân quân đội chính vì thế là một trong những ưu tiên hàng đầu của ban lãnh đạo mới tại Bắc Kinh. Ban tham mưu của ê kíp ông Hồ Cẩm Đào và ông Ôn Gia Bảo đang ngày đêm nghiên cứu phương án chuyển hóa quân đội từ cơ giới qua tin học. Đây là lãnh vực hoàn toàn mới đối với người Trung Quốc vì sự đông đảo và vũ khí nguyên tử ngày nay không còn là những yếu tố quyết định nữa.

Tiềm năng quân sự của Trung Quốc như thế nào ?

- Khả năng trả đũa bằng vũ khí nguyên tử của Trung Quốc đã lỗi thời : 30 hỏa tiễn liên lục địa có đầu đạn nguyên tử đặt trong những silô là những mục tiêu rất dễ bị tấn công khi có biến, lực lượng hỏa tiễn di động trên xe còn rất giới hạn, 70 hỏa tiễn nguyên tử tầm trung phân tán trên một vùng biên giới dài. Từ 1980 trở đi một số tàu ngầm cấp hạ được trang bị 12 đầu đạn nguyên tử tầm ngắn, nhưng khả năng di động của các loại tàu ngầm rất giới hạn. Năm 2010 Trung Quốc sẽ có khoảng 60 tàu ngầm có khả năng di chuyển xa và chở nhiều đầu đạn nguyên tử tầm xa.

- Lực lượng bộ binh Trung Quốc tuy rất đông ( khoảng 1,7 triệu người với 12 quân đoàn, 440 sư đoàn, 15.200 đại bác, 7.200 chiến xa ) nhưng khả năng chiến đấu rất yếu vì thiếu trang bị, sự di động rất giới hạn vì thiếu phương tiện.

- Trung Quốc có ba hạm đội ( Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải ) với 1.900 tàu chiến ( trọng tải tổng cộng 930.000 tấn ), trong đó có 70 tàu ngầm, 63 khu trục hạm, 100 tàu đổ bộ, 540 máy bay với hai lữ đoàn thủy quân lục chiến nhưng trang bị còn rất lạc hậu.

- Trung Quốc có 7 lữ đoàn không quân, 100 phi trường lớn nhỏ, 2.570 máy bay chiến đấu ( khoảng 230 máy bay đời mới SU-27, SU-30/32 MK, số còn lại không thể đối đầu với các loại Mirage và F-35 của Đài Loan ).

Tất cả những trang bị vũ khí tối tân nhất của Trung Quốc đều mua từ Nga : tàu ngầm, chiến hạm, chiến đấu cơ, oanh tạc cơ, trực thăng, hệ thống truyền tin GPS... Với những trang bị hiện nay, trong nhất thời quân đội Trung Quốc chưa đủ khả năng tấn công hay đổ bộ vào Đài Loan.

Hơn nữa, trong số 247,7 tỷ nguyên dành cho ngân sách năm 2005, 2/3 được dùng để mua những loại vũ khí mới nhất của Nga, số còn lại để trả tiền lương và hưu bổng cho quân nhân. Nói chung, Trung Quốc sẽ còn rất lâu mới bắt kịp sự chậm trễ so với các cường quốc phương Tây.

Trung Quốc : chiến lược hiện đại hóa quốc phòng đợt 3

“…Trung Quốc là một quốc gia khổng lồ, vừa rộng lớn vừa đông dân, nên việc phòng vệ cũng đòi hỏi một lực lượng quân sự khổng lồ không kém…”

Tại Trung Quốc, một thói quen đã trở thành tiền lệ là các cấp lãnh đạo đảng cộng sản khi vừa lên cầm quyền đều muốn để lại dấu ấn của mình trên quân đội. Lý do là vì Trung Quốc là một quốc gia khổng lồ, vừa rộng lớn vừa đông dân, nên việc phòng vệ cũng đòi hỏi một lực lượng quân sự khổng lồ không kém.

Quân đội Trung Quốc hiện nay được xếp vào hạng thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Nga. Cuối năm 2003, tổng số quân nhân tại ngũ là 2,25 triệu người, với 7.180 chiến xa, 4.560 thiết giáp, 3.400 máy bay, 480 trực thăng, 132 tàu chiến và 258 tàu đủ loại khác, kể cả tàu ngầm. Trừ nhân sự trong quân đội đang có khuynh hướng giảm, những con số về trang thiết bị chỉ tăng thêm theo thời gian.

Chính vì thế ngay sau khi nắm giữ chức chủ tịch nước kiêm chủ tịch quân ủy trung ương, ông Hồ Cẩm Đào liền thi hành chiến lược hiện đại hóa quốc phòng đợt 3 từ tháng 9-2004. Nội dung của chiến lược này gồm ba điểm :

- Nâng cao khả năng tác chiến tin học hóa để thúc đẩy việc đổi mới khoa học quân sự mang tính Trung Hoa,

- Huấn luyện quân sự và nâng cao kiến thức của người quân nhân,

- Tăng cường xây dựng và cải cách việc hỗ trợ hậu cần, khai thác các trang thiết bị mang tính kỹ thuật cao.

Trước khi đi sâu vào nội dung chiến lược này, tưởng cũng nên duyệt qua quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc từ trước đến nay.

1. Thời kỳ tiền hiện đại hóa ( 1949 - 1976 )

Sau khi chiếm chính quyền và thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, hồng vệ quân Trung Quốc đã biến đổi từ một đội quân cách mạng thành một lực lượng quân sự phòng vệ quốc gia. Bắc Kinh đã tổ chức lại lực lượng quốc phòng của mình theo mô thức của Liên Xô, nghĩa là từ biên chế đến trang bị vũ khí, tất cả đều sao y từ trên xuống dưới theo hệ thống quân giai.

Say men chiến thắng, năm 1951 Bắc Kinh tung chí nguyện quân vào chiến trường Triều Tiên trong ý đồ đặt bán đảo này dưới quyền ảnh hưởng của mình. Nhưng ước muốn này đã bị Liên Hiệp Quốc chặn lại và cho phép Hoa Kỳ đưa quân vào bảo vệ Nam Hàn. Phải qua một trận thử lửa với quân đội Hoa Kỳ, Bắc Kinh mới thấy sự thua kém của mình về quân sự. Chiến thuật biển người ( lấy thịt đè họng súng ) của quân đội Trung Quốc, niềm tự hào của hồng vệ binh Trung Quốc, đã chỉ là một cuộc tự sát tập thể : hàng triệu binh lính Trung Quốc, kể cả Mao Sùng Anh, con trai của Ông Mao Trạch Đông, đã ngã gục trước hỏa lực của quân đội đồng minh.

Sau thất bại này, Bắc Kinh mới lập phương án cận đại hóa quân đội Trung Quốc, nghĩa là tổ chức lại quân đội để thích ứng với tình hình mới. Nhưng quân đội Trung Quốc lúc đó vẫn là một quân đội cách mạng, mang nặng tính chính trị hơn là quân sự. Vấn đề canh tân lại kho vũ khí không đặt ra, có lẽ một phần cũng vì tài chánh eo hẹp khi vừa chiếm chính quyền trong suốt thập niên 1950.

Chỉ sau khi có xung đột với Liên Xô ( 1962 ), rồi chiến tranh lạnh, Trung Quốc bị đe dọa trước sức mạnh của hai siêu cường Mỹ và Liên Xô nên buộc lòng phải trang bị lại kho vũ khí cỡ trung và chuẩn bị chiến tranh nguyên tử. Trong suốt hai thập niên 1960 và 1970, đảng cộng sản động viên toàn quốc đào hầm trú ẩn khắp nơi, biến Trung Quốc thành một lô cốt lớn, các cơ sở công nghiệp chính đều được chuyển sâu vào nội địa thành mạng lưới công nghiệp ba tuyến ( Nam Kinh - Thẩm Dương, Tân Cương - Trùng Khánh, Bắc Kinh - Quảng Tây ) để đối phó với tình hình mới. Có lúc Bắc Kinh đã đưa hơn 6 triệu binh sĩ lên trú đóng dọc các vùng biên giới Trung - Xô và Trung - Ấn. Nhưng cho đến gần cuối thập niên 1970, Trung Quốc chỉ thành công trong việc chế tạo vũ khí hạch nhân mà thôi và đã tốn kém rất nhiều trong việc trang bị lực lượng quân sự khổng lồ đó. Phần lớn binh sĩ trú đóng dọc vùng biên giới đều bị phục viên ( nghỉ hưu ) và được cấp đất ngay tại đó để canh tác.

2. Thời kỳ hiện đại hóa đợt 1 ( 1977 - 1989 )

Giai đoạn này được manh nha từ cuối 1976 sau khi Ông Chu Ân lai và Ông Mao Trạch Đông lần lượt qua đời. Ông Đặng Tiểu Bình khi vừa được cử làm chủ tịch quân ủy trung ương đã tách rời quân đội ra khỏi chính trị, nghĩa là biến một quân đội của đảng thành một quân đội của bộ quốc phòng. Chiến lược hiện đại hóa quốc phòng đợt 1 này đặt trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng của quân đội bằng cách nhập khẩu các loại vũ khí và kỹ thuật quân sự tiên tiến của phương Tây, giảm quân số dư thừa.

Trong thực tế công tác chuyên nghiệp hóa quốc phòng có gặp một vài khó khăn, cụ thể các thất bại trong việc duy trì chế độ diệt chủng Pol Pot và chiến tranh trừng phạt Việt Nam. Về tỷ lệ, ngân sách dành cho quốc phòng năm 1980 bằng 8% ngân sách chung của cả nước, nghĩa là giảm xuống hơn một nửa so với thời Ông Mao Trạch Đông ( từ 1966 đến 1972 mỗi năm tăng bình quân 16,7% ), nhưng cũng đủ để tân trang và sản xuất những quân cụ đã lỗi thời. Trong thời kỳ này bộ quốc phòng Trung Quốc cũng đã hai lần giảm trừ binh bị, mỗi lần một triệu quân. Tổng số binh sĩ Trung Quốc từ 5 triệu năm 1979 xướng còn 3 triệu năm 1989.

Trong giai đoạn này, quân đội Trung Quốc được xây dựng trong thời bình, do đó đã được tinh nhuệ hóa trong tập luyện với những loại loại vũ khí nhập từ phương Tây, hệ thống tổ chức cũng đơn giản hơn, gọi là "tinh giảm chỉnh biên".

3. Thời kỳ hiện đại hóa đợt 2 ( 1990 - 2002 )

Đặc điểm của giai đoạn này là chiến tranh lạnh chấm dứt. Ông Giang Trạch Dân được cử làm chủ tịch nước và kế nhiệm Ông Đặng Tiểu Bình trong chức vụ chủ tịch quân ủy trung ương. Ngay sau khi vừa nhậm chức, ông chủ trương đặt quân đội dưới quyền lãnh đạo của đảng và chuyên môn hóa quân đội về mặt kỹ thuật ( lập thêm binh chủng pháo binh 2 sử dụng hỏa tiễn ).

Mục tiêu của chiến lược hiện đại hóa đợt 2 này là tránh đụng độ quân sự với Mỹ và tìm cách ngăn chặn trước sự can thiệp của siêu cường này vào khu vực Đông Á. Cố gắng của đảng cộng sản trong giai đoạn này là làm sao tổ chức lại quân đội để có khả năng chiến đấu như các lực lượng quân sự phương Tây trong các cuộc chiến tranh vùng Vịnh, tại Bosnia và Serbia Hergovina. Vấn đề là sau cuộc đàn áp sinh viên tại Thiên An Môn (1989), Trung Quốc bị các nước phương Tây cấm vận kỹ thuật quân sự tiên tiến, Bắc Kinh đành phải nhập thêm các loại vũ khí mới nhất từ Nga và tự sản xuất lấy các loại vũ khí mới. Ngân sách quốc phòng được tăng lên 10%, nhưng số quân nhân tại ngũ cũng bị giảm khá nhiều, mỗi năm 200.000 người.

Mặc dầu kinh phí quốc phòng có tăng lên nhưng phần lớn được dùng để lấy lòng quân đội, như tăng lương cho các tướng tá, khả năng trang bị quân sự chỉ dừng ở mức cơ giới hóa hay nửa cơ giới hóa trên các quân khu. Chính trong giai đoạn này có loạn kiêu binh, chỉ huy các quân khu giàu có phía Đông đòi sử dụng bom nguyên tử đánh Hoa Kỳ nếu can thiệp vào Đài Loan.

Trong giai đoạn này, sự hiện diện của quân đội các quốc gia phương Tây ở khắp nơi và khả năng tác chiến cũng như trang bị kỹ thuật quân sự của họ đè bẹp các quốc gia đang có tranh chấp.

4. Thời kỳ hiện đại hóa đợt 3 ( từ 2004 trở đi )

Trong thời kỳ này, ông Hồ Cẩm Đào được cử làm chủ tịch nước kiêm chủ tịch quân ủy trung ương. Nhận thấy sự yếu kém của quân đội Trung Quốc trước các quân đội phương Tây, chiến lược hiện đại hóa quân đội đợt 3 của ông Hồ Cẩm Đào là tăng cường bảo an quốc phòng về phòng không, tập trung vào chiến tranh tin học hóa, triển khai các loại tác chiến tổng hợp. Mục tiêu tinh giảm 200.000 quân nhân mỗi năm vẫn tiếp tục được duy trì, dọn mọi cố gắng để đào tạo nhân sự quốc phòng mới. Việc xây dựng hậu cần với những kỹ thuật mới phải được tăng cường. Nói chung quân đội Trung Quốc phải được trang bị và có khả năng tác chiến trên mọi địa bàn chiến lược và chiến thuật như các quân đội phương Tây.

Trọng tâm của chiến lược này tập trung vào việc đưa tin học vào công nghiệp quốc phòng, đặc biệt là phát triển phần mềm ( software ). Lý do là vì quân đội Trung Quốc hiện nay bị bỏ rơi khá xa so với các quân đội của các quốc gia phương Tây, và đặc biệt là Nhật Bản và Đài Loan. Nếu có xảy ra chiến tranh chắc chắn quân đội Trung Quốc sẽ bị đè bẹp ngay tức khắc, do đó đầu tư vào lãnh vực tin học quốc phòng phần mềm là một điều kiện sinh tử.

Chiến lược phần mềm tập trung vào 5 điểm sau đây : nhân sự phải được huấn luyện cùng với vũ khí tin học tối tân ; hệ thống hóa việc vận dụng tổng hợp trận địa học ; coi trọng tình báo, phản gián và thông tin mới nhất ; hiện đại hóa chiến lược, chiến thuật tác chiến ; tăng cường thông tin đúng lúc ( realtime ) binh trại các các quân khu.

Chiến lược phát triển con người là trọng tâm thứ hai của chủ trương hiện đại hóa đợt 3 này, nghĩa là đào tạo được nhân tài quân sự có tư chất cao, có thể sử dụng được những kỹ thuật cao cấp về quân sự, nói chung là một quân nhân được chuyên nghiệp hóa. Cụ thể là nâng cao phẩm chất lực lượng sĩ quan về mặt kiến thức để vận dụng được kỹ năng chiến tranh sử dụng kỹ thuật cao cấp, bỏ rơi chủ trương coi trọng chính trị. Do đó chính sách quân dịch và tuyển mộ binh sĩ cũng phải thay đổi.

Cách bổ sung quân đội hiện nay là gia tăng đào tạo sĩ quan có trình độ đại học, tuyển dụng những phó tiến sĩ, tiến sĩ trong các ngành nghiên cứu để khai thác kỹ thuật quân sự. Công tác nâng cao học lực của sĩ quan hiện nay là một bắt buộc, tất cả đều phải tốt nghiệp đại học : 100% hạm trưởng hạm đội ở tuyến 1, phi công các chiến đấu cơ đời mới, toàn thể cán bộ kỹ thuật binh chủng pháo binh 2 ( chuyên về hỏa tiễn ) và 95% cán bộ chỉ đạo cấp liên đoàn trở lên. Ngoài khả năng học vấn, toàn thể cán bộ chỉ đạo quân đội cũng được trẻ hóa.

Trong quân ủy trung ương, các tổng tư lệnh tối cao và các tướng tá chuyên môn của các binh chủng hải, không và pháo binh 2 cùng các tư lệnh bộ binh ở các quân khu đều phải có học lực đại học. Thời kỳ quân dịch của quân trừ bị được giảm xuống còn hai năm, ngược lại số lượng hạ sĩ quan được đào luyện thêm ở các trường hạ sĩ quan về chuyên môn mới và được phục vụ trong quân đội cho đến khi về hưu. Mục tiêu của việc đào luyện binh sĩ đa năng là vừa xạ kích giỏi vừa biết thông tin liên lạc, sử dụng được các xe cơ giới và làm được nhiệm vụ công binh.

Đời sống quân nhân cũng được cải thiện. Lương của quân nhân được tăng 20% so với các công chức khác, nhất là cấp trung đội trưởng trở lên được tăng lương thêm 100 nguyên, tức 800 nguyên một tháng. Tiền ăn của binh sĩ cũng được tăng thêm 10 nguyên một ngày.

Trong thực tế, tham vọng của chiến lược hiện đại hóa quốc phòng đợt 3 này quá lớn, trong một vài lãnh vực vượt quá khả năng của Trung Quốc như có sức chiến đấu kềm chế được Mỹ (cho đến năm 2020) và thắng lợi trong các chiến tranh cục bộ với vũ khí kỹ thuật cao cấp ( từ 2008 đến 2040 ). Lý do là các quốc gia khác, kể cả Nhật Bản và Đài Loan, không chờ Trung Quốc bắt kịp mình để phát triển thêm các loại vũ khí hay khả năng tác chiến mới, do đó Trung Quốc vẫn cứ lẹt đẹt theo sau và có lúc phải ngã xuống vì kiệt quệ như Liên Xô trước đây trong cuộc chạy đua chiến tranh không gian với Mỹ.

Vấn đề của quân đội Trung Quốc hiện nay vẫn là quyền lợi kinh tế. Nếu được chuyên nghiệp hóa thì giải quyết sao đây các công ty, xí nghiệp của quân đội ? Và cho nếu có thực hiện được đi nữa thì vai trò tự lực tự cường của các quân khu sẽ như thế nào ?

Trung Quốc muốn giữ vai chủ đạo tại Đông Á

Sau chuyến viếng thăm Bắc Triều Tiên và Việt Nam vào tháng 10-2005, ông Hồ Cẩm Đào, chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đến Đại Hàn tham dự hội nghị lần thứ 13 các nhà lãnh đạo quốc gia thuộc tổ chức Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương APEC ( Asia-Pacific Economic Cooperation ) tổ chức tại Phố Sơn ( Busan ) từ 15 đến 19-11-2005 .

Cũng nên biết từ nhiều năm qua 21 quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang cùng nhau xây dựng một thị trường thịnh vượng chung trong hòa bình. Trước cơ hội mới này, qua các hội nghị thượng đỉnh APEC, Bắc Kinh đang hiền lành hóa bộ mặt của Trung Quốc để được thế giới nhìn nhận như một cường quốc kinh tế xứng đáng lãnh đạo khối Đông Á.

Hòa hoãn với Đài Loan

Hiện nay về quân sự, tương quan lực lượng ở eo biển Đài Loan nghiêng hẳn về phía Trung Quốc, ít nhất về số lượng. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc sẽ tấn công Đài Loan trong những ngày sắp tới vì chỉ số rủi ro quá lớn, có thể làm sụp đổ luôn đà phát triển kinh tế của Trung Quốc.

Sự thật là khả năng quân sự của Trung Quốc không mạnh như mọi người lầm tưởng. Theo những chuyên gia về chiến lược quốc phòng, nếu Trung Quốc dốc mọi sức lực tấn công Đài Loan thì chỉ trong vài ngày sẽ bị kiệt sức. Hơn 700 đầu đạn tầm trung bắn vào Đài Loan thì hơn một nửa sẽ bị bắn hạ khi vừa phóng ra, số còn lại sẽ bắn lầm mục tiêu và thiệt hại về phía Đài Loan sẽ không là bao nhiêu vì mỗi đầu đạn chỉ chứa 500 kg chất nổ. Đó là chưa kể khả năng phản công của Đài Loan, về kỹ thuật hơn Trung Quốc rất xa về trang bị. Do đó tuy bề ngoài Trung Quốc cố làm ra vẻ hung hăng, thông qua Luật chống ly khai hồi đầu năm nay, ê kíp cầm quyền của ông Hồ Cẩm Đào đã tỏ ra rất nhũn nhặn khi nói tới Đài Loan, mặc dù vấn đề thống nhất vẫn là ưu tiên hàng đầu.

Từ khi lên cầm quyền năm 2002 đến nay, ông Hồ Cẩm Đào đặt trọng tâm vào những biện pháp kinh tế và giao lưu nhân sự, theo nguyên tắc " tam thông " ( thông thương, thông hành, thông tấn ). Ngoạn mục nhất là chuyến viếng thăm lục địa của các nhà lãnh đạo chống cộng Quốc Dân Đảng, Tân Dân Đảng và các chuyến bay dân sự trực tiếp từ Đài Loan sang Trung Quốc vào những dịp lễ lớn. Mặc dù vậy chính quyền Trung Quốc vẫn lo sợ phản ứng dân chúng sau khi tấm màn bưng bít từ 56 năm qua bị sụp đổ, những sự thật về thế giới bên ngoài, nhất là ước muốn được sống tự do như người Đài Loan, sẽ được dân chúng biết đến.

Bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ

Từ năm 2002 đến nay, những nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thức rằng cần phải bình thường hóa quan hệ với Mỹ vì điều này có lợi hơn cho sự phát triển Trung Quốc hơn là đối đầu. Chiến lược mới này được tóm gọn gồm bốn điểm như sau : ổn định chính trị nội bộ ; tổ chức các cuộc tiếp xúc cấp cao với Mỹ ; quan hệ hữu hảo với các nước láng giềng ; cố gắng thống nhất với Đài Loan bằng những phương pháp hòa bình, vì dùng vũ lực là ưu tiên thấp nhất.

Mặc dù gần đây chính quyền Mỹ có nghi ngại sự canh tân hóa quân đội và tham vọng muốn là cường quốc quân sự của Trung Quốc, nhưng quan điểm mới của Mỹ hiện nay là nhìn nhận vai trò chủ đạo của Trung Quốc trong vùng Đông Á, vì đó là điều không thể tránh được. Hoa Kỳ muốn Trung Quốc trở thành một đối tác kinh tế hơn là một đối thủ chính trị hay quân sự. Cách hay nhất đối với các nước láng giềng, từ Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn đến Việt Nam, Philippines, Indonesia, v.v., là gia tăng kinh phí quốc phòng để tự phòng vệ vì áp lực quân sự và chính trị của Trung Quốc trong những ngày sắp tới chỉ có tăng lên, và không nên trông cậy vào sự can thiệp của Hoa Kỳ, trừ Đài Loan, khi có biến.

Tham vọng lãnh đạo khối Đông Á

Sau những hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 13 vừa họp tại Busan, Nam Hàn, các nhà lãnh đạo Đông Á sẽ cùng nhau gặp lại tại Kuala Lumpur ( Malaysia ) vào trung tuần tháng 12 này. Mục đích của hội nghị này là kết hợp các nước trong vùng Đông Á thành một khối, đủ sức cạnh tranh với Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu về kinh tế và các vấn đề quốc tế lớn. Tổ chức mới này sẽ là một trung tâm quyền lực đủ khả năng chia sẻ quyền lãnh đạo thế giới trong thế kỷ 21.

Nhưng ước muốn này khó thành tựu trong một ngày rất gần vì còn nhiều tranh chấp chưa có giải pháp ổn thỏa như việc khai thác các mỏ khí đốt trên Đông Hải giữa Nhật Bản và Trung Quốc, vấn đề phi nguyên tử hóa Bắc Triều Tiên, chủ quyền trên các quần đảo Trường Sa và việc dò tìm các nguồn dầu khí dưới lòng biển, v.v. Tuy vậy ước muốn này vẫn còn tồn tại. Mã Lai và Nhật Bản đã thực hiện xong vai trò khởi xướng, Trung Quốc có tham vọng đứng ra thay thế như tự đứng ra tổ chức hội nghị sáu bên về Bắc Triều Tiên.

Nhưng sự thiếu sót của các quốc gia Đông Á là không có mẫu số chung về địa lý, văn hóa, kinh tế hay chính trị để đồng ý với nhau về một lộ trình có thể chấp nhận được. Ai cũng nghi kỵ tham vọng bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông và trên đất liền, nhất là quyết tâm tìm nguồn dầu khí và nước gia dụng bằng mọi giá, đang buộc những quốc gia trong vùng gia tăng kinh phí quốc phòng để tự bảo vệ khi cần. Kinh phí quốc phòng của các quốc gia trong vùng tăng đều mỗi năm 2%.

Để hiền lành hóa bộ mặt của Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào đã đi nhiều nơi để thuyết phục trong hy vọng được nhìn nhận là quốc gia chủ đạo trong các hội nghị thượng đỉnh các nước Đông Á, như đề nghị thành lập văn phòng thường trực tại Bắc Kinh thay vì Kuala Lumpur, quyền lãnh đạo luân phiên hai năm một lần, v.v. Nhưng yếu điểm lớn của Trung Quốc hiện nay là chưa có dân chủ, điều kiện căn bản để được đa số các nước thành viên tiếp tục thảo luận.

Nguyễn Minh

( Tokyo )