NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Các xu thế gần đây của quốc tế hóa trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R-D) : một quá trình chậm chạp nhưng có tốc độ ngày càng gia tăng

Tri thức

Phương tiện truyền thống để phổ biến kiến thức là thông qua các xuất bản phẩm khoa học cũng đang bị ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa. Tiếng Anh giờ đây đã trở thành ngôn ngữ phổ thông của khoa học. Nhiều tạp chí đã nổi lên, đặc biệt là ở châu Âu và vai trò của các học viện và các tổ chức phi lợi nhuận trong lĩnh vực này đã thu nhỏ. Một vài tờ báo đã trở nên có vị trí nổi trội, nhưng các ủy ban xét duyệt đang ngày càng trở nên mang tính quốc tế hơn.

Sự phân tích thống kê thư mục các xuất bản phẩm khoa học cho phép đánh giá sự tiến hóa của hợp tác quốc tế. Trong những năm 90, hầu như tất cả các hợp tác đều được triển khai trong lĩnh vực khoa học. Tỷ lệ đồng xuất bản trong tổng số các xuất bản phẩm đã tăng gấp đôi, từ 10% lên 20%, nhưng đồng xuất bản quốc tế còn tăng nhanh hơn. Trong giai đoạn từ 1996 đến 2001, tỷ lệ đồng xuất bản quốc tế trong tổng số xuất bản phẩm đã tăng từ 19,3% lên 23,8% tại EU, tại Mỹ con số này tăng từ 18,1% lên 23,7% và từ 14,2% lên 18,4% tại Nhật Bản. Hợp tác quốc tế thường được thúc đẩy thông qua các mạng lưới cá nhân và tổ chức truyền thống. Ví dụ như, vì những lý do chính trị rõ ràng mà hai quốc gia như Nga và Nam Phi đã trải qua một sự phát triển đáng kể về hợp tác xuất bản khoa học quốc tế với các tỷ lệ gia tăng tương ứng từ 22,8 lên 32,8% và từ 25,7 lên 38,4% trong khi đó tỷ lệ này của Trung Quốc vẫn giữ ở mức tương đối ổn định khoảng 24%.

Nguồn nhân lực

Trong những năm gần đây, có một sự gia tăng chung về số lượng các sinh viên nước ngoài theo học đại học tại EU và Mỹ. Trong năm 2002, có 895 000 sinh viên nước ngoài theo học với trình độ giáo dục đại học và cao đẳng ở Châu Âu, tăng 19% so với năm 1999. So với 583 000 sinh viện đại học người nước ngoài theo học ở Mỹ, trong đó có 13,8% là người châu Âu, trong khi số sinh viên nước ngoài theo học tại châu Âu đến từ Bắc Mỹ chỉ chiếm có 4,6%.

Số các nhà khoa học nước ngoài ở Mỹ đã tăng trung bình 4,6% một năm trong 15 năm qua. Trong năm 2002, một phần tư số họ đến từ EU và 17% đến từ Trung Quốc. Họ chiếm trong khoảng từ 30 đến 40% số các nhà nghiên cứu tại các trường đại học của Mỹ, so với con số này ở Pháp là 7,5%.

Nhìn chung, điều trở nên ngày càng rõ ràng là sự thuyên chuyển số nhân lực khoa học có kỹ năng cao đang có xu hướng hướng tới các nước OECD. Nhân công người nước ngoài chiếm khoảng 10% số việc làm đòi hỏi kỹ năng cao ở Mỹ, 20% ở Canada và 25% ở Ôxtrâylia. Có khoảng một phần ba số các nhà nghiên cứu có nguồn gốc từ các nước đang phát triển hiện đang làm việc tại các nước OECD. Tuy nhiên, một số người đã quay trở về nước có các nền kinh tế đang nổi (như Trung Quốc, Ấn Độ...) và đây có lẽ cũng là cách thức chuyển giao công nghệ có hiệu quả nhất.

Đầu tư

Trong những năm gần đây, cả hai khu vực Nhà nước và tư nhân đều quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) của mình. Các tổ chức nghiên cứu công đã phát triển các mối quan hệ hợp tác kết nghĩa và thành lập các phòng thí nghiệm nghiên cứu chung ở nước ngoài, đặc biệt là tại các nước có nền kinh tế mới nổi. Họ dường như bị hấp dẫn bởi khả năng thu hút các sinh viên trẻ và có tài năng, họ muốn có mặt vào thời điểm khi các trung tâm xuất sắc mới được thành lập và ở nơi có các vấn đề mới có thể nảy sinh. Trong các dự án mạo hiểm đó, các đối tác của họ phát hiện thấy một số tiềm lực bổ sung và các cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn đến các thực tế mới và tri thức mới.

Xu thế trên cũng mạnh tương đương đối với ngành công nghiệp. Ví dụ, chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) của các công ty chi nhánh ở nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia lớn thuộc các nước OECD đã tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 1991 đến 2001. Sự di chuyển ra nước ngoài này xảy ra chủ yếu giữa châu Âu và Mỹ, ở Nhật Bản có phạm vi hẹp hơn, nhưng bên cạnh đó các nước có nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ hiện cũng đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn. Ví dụ, Tập đoàn viễn thông của Pháp Alcatel hiện nay đã thành lập đến phòng thí nghiệm thứ ba của mình ở Trung Quốc và chỉ có 28% số nhà nghiên cứu của họ đang làm việc tại Pháp.

Tuy nhiên, nếu đầu tư nghiên cứu và phát triển (R-D) ra nước ngoài đang tăng lên, thì sự phát triển các dự án quốc tế mới, cũng như các chương trình hay các phương tiện nghiên cứu lớn chủ yếu dựa vào sự phối hợp đầu tư công lại có vẻ như đang chậm lại. Không có một tổ chức đa phương mới nào giống như CERN hay ESO được thành lập trong những năm gần đây. Nghiên cứu vũ trụ hiện đang gặp khó khăn và gần đây mới đạt được một hiệp định về lò phản ứng tổng hợp hạt nhân ITER.

Đồng nhất hóa hay tập trung hóa ?

Sự sản sinh ra tri thức chủ yếu tập trung ở các nước OECD. Với số dân chỉ chiếm 19% dân số thế giới, các nước OECD chiếm tới 85% chi tiêu thế giới cho R-D, ngược lại với châu Phi có dân số bằng 13% dân số thế giới nhưng chỉ chiếm có 0,6% chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R-D). Liệu quá trình quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) sẽ làm thay đổi bức tranh này hay không? Do các hiện tượng mới xảy ra gần đây và thiếu các số liệu nên câu trả lời không rõ ràng, mặc dù có thể tập hợp được một số đầu mối.

Một dấu hiệu đầu tiên có thể thấy rõ thông qua sự thống kê xuất xứ của các xuất bản phẩm khoa học: trong giai đoạn từ 1991 đến 2001, tỷ trọng xuất bản phẩm của 10 nước xuất bản chính trong tổng số các xuất bản phẩm đã giảm từ 89% xuống 85% trong khi con số này của 20 nước đầu tiên chỉ giảm từ 86% xuống 85%. Sự sản sinh tri thức dường như có mở rộng hơn một chút với một số ít các nước và một vài nước có nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ đã gia nhập câu lạc bộ các nhà sản xuất tri thức, nhưng hố ngăn cách với phần thế giới còn lại vẫn còn tồn tại.

Sự phân tích về thư mục cũng cho thấy rằng, sự chuyên môn hóa theo chủ đề của mỗi nước hay khu vực đã không tiến bộ đáng kể trong vòng hơn 10 năm gần đây. Mỹ tích cực nghiên cứu về các khoa học về sự sống và kỹ thuật, châu Âu về vật lý và ở các nước châu Á kỹ thuật vẫn chiếm vị trí nổi bật mặc dù các khoa học về sự sống đang ngày càng có vai trò quan trọng.

Các số liệu về sáng chế cũng mang lại những thông tin bổ sung hữu ích. Đối với số bằng sáng chế cấp tại châu Âu, EU, Nhật Bản và Mỹ chịu trách nhiệm khoảng 90% số các bằng sáng chế. Có bốn nước đã tăng tỷ trọng về số bằng sáng chế của mình lên hơn 20% trong giai đoạn 1996 đến 2001 là Trung Quốc, Hàn Quốc, Ixrael và Canada. Đối với các bằng sáng chế cấp tại Mỹ, Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á chiếm đến 98,5% tổng số. Trong số các nước có tỷ trọng số bằng sáng chế lớn hơn 0,5%, có bốn nước đã đạt được một tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn 20% trong giai đoạn 1996 đến 2001 là Hàn Quốc, Đài Loan, Ixrael và Thụy Điển. Có thể nhận thấy rằng trong giai đoạn từ 1996 đến 2001, tỷ trọng số bằng sáng chế của Mỹ trong tổng số các sáng chế cấp tại Mỹ đã giảm từ 49,1% xuống 48,7%, trong khi tỷ trọng của nước này trong tổng số các xuất bản phẩm khoa học cũng giảm từ 31,9% xuống 28,5%. Điều này cho thấy một sự coi trọng lớn hơn đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hay một sự định hướng chuyên môn vào các lĩnh vực được bảo hộ dễ dàng.

Tỷ trọng nghiên cứu và phát triển (R-D) trong doanh nghiệp ngày càng gia tăng

Các công ty lớn trên thế giới đang là những người dẫn đầu trong môi trường đầu tư toàn cầu. Họ chi phối quá trình quốc tế hóa và chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) với một ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế ở trong nước lẫn nước tiếp nhận đầu tư. Các nước OECD đang ngày càng dựa vào sự sáng tạo và sử dụng KH&CN để củng cố tăng trưởng và đẩy mạnh năng suất. Các ngành công nghệ cao đang chiếm một tỷ trọng ngày càng tăng về giá trị gia tăng và trong nền thương mại quốc tế và được cho là đóng một vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh khả năng cạnh tranh quốc gia.

Tại hầu hết các nước OECD, khu vực doanh nghiệp chiếm vị trí nổi trội về chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D). Tỷ trọng của ngành công nghiệp trong tổng chi tiêu R-D đã tăng nhanh trong hai thập kỷ gần đây. R-D do ngành công nghiệp tại các nước OECD thực hiện đã đạt tới 458 tỷ USD trong năm 2003 (tăng từ 262 tỷ USD năm 1991), chiếm 67% tổng chi tiêu R-D.

Một số nước như Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản có tỷ trọng nghiên cứu và phát triển (R-D) của ngành công nghiệp cao, chiếm đến 75%. Nếu tính theo tỷ lệ phần trăm của GDP, một số nước có tỷ trọng chi tiêu R-D của ngành công nghiệp cao ( khoảng 3% vào năm 2003 ), như Thụy Điển, Ixrael, Phần Lan và Nhật Bản. Nếu tính về giá trị tuyệt đối, không có gì ngạc nhiên khi thấy Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về R-D doanh nghiệp. Trong năm 2003, khu vực doanh nghiệp của Mỹ chi tiêu 196 tỷ USD cho R-D, tiếp theo là khu vực EU-25 (134 tỷ USD) và Nhật Bản (85 tỷ USD). Đầu tư của giới doanh nghiệp Trung Quốc cho R-D tương đối cao (53 tỷ USD) và vượt lên trước các nước như Đức, Pháp và Anh.

Theo số liệu thống kê năm 2004, 320 công ty chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) hàng đầu thế giới đã đầu tư 331 tỷ USD và có khoảng một nửa tổng số chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) (nhưng chỉ chiếm có 35% tổng doanh thu) được đổ vào ba lĩnh vực công nghiệp lớn, đó là: dược phẩm, điện tử và thiết bị điện, ô tô và linh kiện. R-D được tập trung ở một số công ty lớn. Một phần ba tổng đầu tư được thực hiện bởi 20 công ty chi tiêu R-D hàng đầu, như IBM, Matsushita Electric, Siemens, Ford Motor, DaimlerChrysler, Nokia, Sanofi-Aventis, Pfizer, Intel và Microsoft.

Cường độ nghiên cứu và phát triển (R-D) trung bình (tức là R-D tính theo tỷ lệ phần trăm của doanh thu) của tất cả các công ty vào khoảng trên 4%. Lĩnh vực có hàm lượng nghiên cứu và phát triển (R-D) cao nhất là ngành công nghệ sinh học (29%), với một số công ty chi tiêu cho R-D còn nhiều hơn cả tổng doanh thu của họ. Công nghệ sinh học cũng là ngành công nghiệp nhỏ nhất ( nếu tính về độ lớn tổng doanh thu và nghiên cứu và phát triển (R-D) ) nếu so với các ngành công nghệ cao khác như bán dẫn và các thiết bị điện tử, thiết bị mạng và truyền thông, dịch vụ phần mềm và dữ liệu, dược phẩm. Cả bốn ngành này đều có hàm lượng nghiên cứu và phát triển (R-D) trong khoảng 12 đến 14%.

Các công ty chi tiêu R-D lớn chủ yếu tập trung ở một vài nước. Hơn 70% trong số 700 công ty chi tiêu R-D lớn nhất thế giới lại thuộc về chỉ có ba nước. Theo số liệu năm 2003, Mỹ chiếm đến 38% số các công ty này, Nhật Bản chiếm 22% và Đức có 13%.

Có những bằng chứng rõ ràng cho thấy quốc tế hóa nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp đang đạt xung lượng và số đầu tư, thương mại, đồng sáng chế, hợp tác và số các chi nhánh, dự án nghiên cứu và phát triển (R-D) ở nước ngoài đang tăng lên. Tuy nhiên quốc tế hóa nghiên cứu và phát triển (R-D) vẫn còn chậm chễ nếu so sánh với các hoạt động khác như sản xuất, tài chính, bán hàng và marketing ( Xem Bảng 1 ).

Nghiên cứu và phát triển (R-D) quốc tế do các công ty thực hiện tuy không phải là một hiện tượng mới, nhưng nó mới chỉ bắt đầu tăng lên đáng kể từ giữa những năm 1980. Xu thế này đã được đẩy mạnh lên trong những năm 1990 với sự gia tăng các giao dịch xuyên biên giới liên quan đến nghiên cứu và phát triển (R-D), cùngvới phạm vi tầm với ngày càng rộng hơn, bao gồm cả việc chuyển dời các cơ sở R-D đến các nước đang phát triển.

Bảng 1: 10 nền kinh tế dẫn đầu về nghiên cứu và phát triển (R-D) và chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) trong doanh nghiệp trong các năm 1996 và 2002 ( Xếp hạng được theo trị giá năm 2002, đơn vị: tỷ USD )

Tổng chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) - Chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp

Thứ hạng Nền kinh tế 1996 2002 Thứ hạng Nền kinh tế 1996 2002
* Thế giới 575,6 676,5 * Thế giới 376,3 449,8
1 Mỹ 197,3 276,2 1 Mỹ 142,4 194,4
2 Nhật Bản 138,6 133,0 2 Nhật Bản 92,5 92,3
3 Đức 52,3 50,2 3 Đức 34,6 34,8
4 Pháp 35,3 32,5 4 Pháp 21,8 20,6
5 Anh 22,4 29,3 5 Anh 14,5 19,6
6 Trung Quốc 4,9 15,6 6 Hàn Quốc 9,9 10,4
7 Hàn Quốc 13,5 13,8 7 Trung Quốc * 9,5
8 Canada 10,1 13,8 8 Canada 5,9 7,9
9 Italia 12,6 13,7 9 Thụy Điển 6,6 7,3
10 Thụy Điển 8,8 9,4 10 Italy 6,7 6,6
* Tổng số 495,8 587,6 * Tổng số 334,7 403,4
* Tỷ trọng trong tổng thế giới (%) 86,1 86,9 * Tỷ trọng trong tổng thế giới (%) 88,9 89,7
* Các nền kinh tế đang phát triển, Đông-Nam Âu và các nước CIS 44,5 57,1 * Các nền kinh tế đang phát triển, Đông-Nam Âu và các nước CIS 20,4 31,9
1 Trung Quốc 4,9 15,6 1 Hàn Quốc 9,9 10,4
2 Hàn Quốc 13,5 13,8 2 Trung Quốc * 9,5
3 Lãnh thổ Đài Loan 5,0 6,5 3 Lãnh thổ Đài Loan 2,9 4,0
4 Braxin 6,0 4,6 4 LB Nga 2,6 3,0
5 LB Nga 3,8 4,3 5 Braxin 2,7 1,9
6 Ấn Độ 2,1 3,7 6 Singapo 0,8 1,2
7 Mêhicô 1,0 2,7 7 Mêhicô 0,2 0,4
8 Singapo 1,3 1,9 8 Thổ Nhĩ Kỳ 0,2 0,4
9 Thổ Nhĩ Kỳ 0,8 1,2 9 Hồng Kông (Trung Quốc) 0,2 0,3
10 Hồng Kông (Trung Quốc) 0,7 1,0 10 Chilê 0,1 0,2
* Tổng số 39,1 55,4 * Tổng số 19,7 31,5

Nguồn : UNTAD, 2004

Luồng đầu tư nghiên cứu và phát triển (R-D) rót vào và ra khỏi các nước

R-D công nghiệp do nước ngoài kiểm soát đang ngày càng tăng lên tại tất cả các nước OECD lớn. Tuy nhiên, chi tiêu R-D của các chi nhánh công ty nước ngoài tính theo tỷ trọng của tổng nghiên cứu và phát triển (R-D) công nghiệp có sự khác biệt lớn giữa các nước; con số này thấp hơn 5% ở Nhật Bản nhưng lại lớn hơn 70% ở Hungary và Ailen. Tổng đầu tư R-D của các chi nhánh công ty nước ngoài đã tăng từ 29 tỷ USD năm 1995 lên 52 tỷ USD năm 2001. Mỹ chiếm hơn 42% (21 tỷ USD) trong tổng số này, tiếp theo là Đức, Anh và Nhật Bản thu hút được lượng đầu tư tương ứng là 15%, 12% và 5%. Tính trung bình, tỷ trọng chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) của các cơ sở do nước ngoài kiểm soát tăng từ 12 lên 16% trong giai đoạn năm 1993 đến 2001 tại hầu hết các nước OECD lớn.

Một số nước thu thập dữ liệu liên quan đến các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) ở nước ngoài của các công ty đa quốc gia của nước mình. Qua các số liệu cho thấy, Thụy Sĩ là nước duy nhất có chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) ở nước ngoài cao hơn đầu tư nghiên cứu và phát triển (R-D) trong nước. Đối với Đức (2001) và Phần Lan (1998), R-D ở nước ngoài chiếm khoảng 25% chi tiêu R-D doanh nghiệp trong nước. Tỷ trọng đầu tư nghiên cứu và phát triển (R-D) ra nước ngoài của các công ty Mỹ chiếm khoảng 10% trong tổng chi tiêu R-D doanh nghiệp và giữ ở mức tương đối ổn định kể từ năm 1995 đến nay.

Trong năm 2003, các chi nhánh nước ngoài của các công ty mẹ ở Mỹ đã chi tiêu khoảng 22 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển (R-D) tiến hành ở nước ngoài. Tuy các nền kinh tế phát triển chiếm ưu thế với vai trò là nơi đặt các cơ sở R-D, nhưng tỷ trọng của các nước đang phát triển cũng đã tăng từ 7,6% năm 1994 lên đến 15% năm 2003. Đầu tư R-D nước ngoài vào một số nước đang phát triển thuộc châu Á, như Trung Quốc, Singapo và Hàn Quốc giải thích cho sự suy giảm về tỷ trọng của các nước phát triển. Tại châu Á (không kể Nhật Bản), máy tính và các sản phẩm điện tử là lĩnh vực công nghiệp chiếm ưu thế về đầu tư nghiên cứu và phát triển (R-D). Tại châu Âu, Thụy Điển là nước đứng thứ tư sau Anh, Đức, Pháp và chiếm khoảng 1,4 tỷ USD chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) của các chi nhánh công ty của Mỹ ở nước ngoài.

Một số các công trình khảo sát khẳng định chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp ở nước ngoài đang tăng lên. Xét trên bình diện của một nước, mức độ quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) có thể đánh giá theo hai thông số, đó là hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp tiến hành ở nước ngoài và các hoạt động R-D tại nước đó của các công ty nước ngoài. Ví dụ, Đức và Phần Lan đang ngày càng có xu hướng quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) ra nước ngoài hơn là định hướng vào thị trường nội địa, trong khi Mỹ, Nhật Bản và Thụy Điển nếu tính theo tổng thể của ngành công nghiệp, thì các hoạt động R-D có xu hướng quốc tế hóa tại thị trường nội địa hơn.

Thương mại trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R-D) - cán cân thanh toán công nghệ

Tại hầu hết các nước OECD, số tiền thu và thanh toán công nghệ đã tăng lên trong những năm 1990. Khu vực OECD là nơi xuất khẩu công nghệ ròng sang phần thế giới còn lại, trong khi EU lại bị thâm hụt về cán cân thanh toán công nghệ. Nhật Bản đã tăng đáng kể cán cân thương mại của mình, từ chỗ hầu như không có gì năm 1993 lên đạt mức dư 0,2% GDP năm 2003. Mỹ đạt mức dư cán cân thương mại tương đối ổn định trong những năm 1990 với 0,25% GDP. Anh một là nước xuất khẩu ròng lớn (đạt gần 0,8% GDP), Ailen thậm chí còn đạt mức dư thương mại trên 10% GDP. Tính về giá trị tuyệt đối, cán cân thương mại ròng của Mỹ (số thu được trừ đi số đã thanh toán) là lớn nhất (trên 28 tỷ USD), tiếp theo là Anh (13 tỷ USD) và Nhật Bản (8 tỷ USD).

Giá trị thương mại của Mỹ về hạng mục nghiên cứu, phát triển và các dịch vụ thử nghiệm đã tăng mạnh trong vài năm gần đây. Nhập khẩu từ các công ty không liên kết đã đạt gần 1,3 tỷ USD trong năm 2003, tăng hơn gấp đôi kể từ năm 1997. Nước xuất khẩu lớn nhất sang Mỹ là Anh, chiếm 28% tổng lượng nhập khẩu về hạng mục này. Trị giá xuất khẩu của Mỹ về hạng mục này cũng đạt 1,3 tỷ USD và khách hàng lớn nhất là Nhật Bản (21%).

Một phương pháp khác đánh giá mức độ quốc tế hóa, đó là so sánh khoản mua công nghệ nước ngoài với các nỗ lực nghiên cứu và phát triển (R-D) quốc gia. Tức là xem xét mức độ phụ thuộc của một nước vào công nghệ nước ngoài (khoản thanh toán công nghệ) trong mối tương quan với sự phát triển công nghệ trong nước (chi tiêu R-D doanh nghiệp). ở một số nước, như Ailen, Áo và Hungary, các khoản thanh toán để mua công nghệ nước ngoài thường lớn hơn đầu tư nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp trong nước. Đối với phần lớn các nước OECD khác lại ngược lại, Nhật Bản và Mỹ có mức độ nhập khẩu công nghệ rất thấp ( trong khoảng từ 5 đến 10% ) nếu so với nỗ lực nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp trong nước, trong khi Phần Lan, Anh và Đức có mức chi tiêu cho công nghệ nước ngoài cao hơn (trong khoảng từ 40 đến 60%).

Đồng sở hữu sáng chế và đồng sở hữu xuyên biên giới

Theo số liệu của EPO ( Văn phòng Sáng chế châu Âu ) sở hữu nước ngoài của các sáng chế sở tại đang tăng lên. Tính trung bình tại các nước OECD, vào đầu năm 2000, 15% tổng số các sáng chế được sở hữu hoặc đồng sở hữu bởi các công dân nước ngoài, tăng từ mức 11% vào năm 1992. Các nước như Thụy Điển, Đức và Mỹ cho thấy đạt mức độ và xu hướng tương tự như mức trung bình của OECD.

Sở hữu sáng chế trong nước được thực hiện ở nước ngoài cũng tăng lên. Các nước OECD sở hữu khoảng 15% các sáng chế nước ngoài tính vào đầu năm 2000. Mức độ này cao hơn tại các nền kinh tế nhỏ và mở cửa, như Thụy Sĩ (48%), Ailen (42%) và Hà Lan (30%). Có khoảng 28% trong tổng số các sáng chế thuộc sở hữu của các công dân Thụy Điển được thực hiện ở nước ngoài, tỷ lệ này đã tăng gấp đôi kể từ đầu những năm 1990. Nhật Bản và Hàn Quốc có mức độ quốc tế hóa rất thấp nếu tính về sở hữu xuyên biên giới theo cả hai cách đánh giá trên.

Các số liệu về sáng chế còn được sử dụng để ước tính mức độ hợp tác quốc tế về KH&CN. Một tỷ lệ trung bình thế giới là 7% số sáng chế là kết quả của hoạt động nghiên cứu hợp tác quốc tế tính vào đầu năm 2000. Có những khác biệt lớn giữa các nước OECD. Tại Cộng hòa Séc và Luxembourg, 53% số đơn đăng ký sáng chế đệ trình lên EPO có đồng tác giả nước ngoài. Tỷ lệ này đối với Thụy Điển, Pháp, Hà Lan, Mỹ và Đức trong khoảng từ 10 đến 20%. Trong khi đó, tỷ lệ này của Nhật Bản chỉ đạt 3%.

Một nghiên cứu khác sử dụng các số liệu sáng chế trong giai đoạn từ 1996 đến năm 2000 cho thấy, các nước châu Âu có xu hướng chuyển dịch các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R-D) ra nước ngoài lớn hơn so với các công ty của Mỹ và Nhật Bản. Nghiên cứu này cũng khẳng định một điều rằng, các công ty đa quốc gia từ các nước nhỏ như Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ đạt mức độ quốc tế hóa nghiên cứu và phát triển (R-D) doanh nghiệp cao nhất.

Hợp tác và liên minh nghiên cứu và phát triển (R-D)

Số các liên minh công nghệ chiến lược quốc tế mới được thành lập đã tăng lên đáng kể từ những năm 1980, theo các nghiên cứu dựa vào cơ sở dữ liệu các Chỉ số Hiệp định Hợp tác và Công nghệ (MERIT CATI). Tuy nhiên, cũng trong cùng thời kỳ, tỷ trọng hợp tác nghiên cứu và phát triển (R-D) quốc tế trong tương quan với tổng số các hợp tác nghiên cứu và phát triển (R-D) đã giảm xuống. Tỷ trọng hợp tác nghiên cứu và phát triển (R-D) quốc tế đã giảm xuống dưới 50% vào cuối những năm 1990. Theo các số liệu từ cơ sở dữ liệu nêu trên, tỷ lệ hợp tác nghiên cứu và phát triển (R-D) lớn nhất thuộc về nội bộ khu vực Bắc Mỹ ( khoảng 41% trong giai đoạn những năm 1990 ), tiếp theo là hợp tác EU - Bắc Mỹ (25%). Hợp tác quốc tế tăng trưởng mạnh trong nội bộ khu vực Bắc Mỹ đã giải thích cho việc tại sao hợp tác quốc tế, mặc dù tăng về số lượng tuyệt đối, nhưng vẫn chỉ chiếm khoảng 50% tổng số các giao dịch hợp tác nghiên cứu và phát triển (R-D).

Trong các liên minh nghiên cứu và phát triển (R-D), tỷ trọng giữa các lĩnh vực đã thay đổi mạnh trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2001. Tỷ trọng các ngành dược phẩm và công nghệ sinh học đã tăng từ 11 lên 58%, trong khi các liên minh trong ngành công nghệ thông tin lại giảm từ 54 xuống còn 28%. Các công trình khảo sát khác khẳng định rằng, hầu hết các hiệp định hợp tác cho thấy là được tiến hành với các đối tác quốc gia, chứ không phải là đối tác quốc tế. Hơn 80% các giao dịch hợp tác giữa các công ty đổi mới của châu Âu có lôi kéo sự tham gia của các đối tác trong nước, trong cả hai khu vực công nghiệp và dịch vụ ở vào cuối những năm 1990. Các số liệu đối với các công ty của Mỹ trong cơ sở dữ liệu MERIT CATI cho thấy, có khoảng 80% các liên minh công nghệ trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2001 có sự tham gia của ít nhất là một công ty thuộc sở hữu của Mỹ. Trong số các liên minh này, có khoảng một nửa chỉ có sự tham gia của các công ty thuộc sở hữu của Mỹ.