NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Sàn giao dịch chứng khoán

Một sàn giao dịch chứng khoán là một tập đoàn hay tổ chức tương hỗ cung cấp điều kiện và phương tiện cho những người mua bán cổ phần để mua bán cổ phần và các loại chứng khoán khác. Sàn giao dịch chứng khoán cũng cung cấp các dịch vụ cho việc phát hành và thu hồi chứng khoán cũng như các phương tiện tài chính và các sự kiện như việc chi trả lợi tức và cổ tức.

Chứng khoán được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán gồm: các cổ phần do các công ty phát hành, các quỹ tín thác đơn vị và các sản phẩm hợp tác đầu tư và trái phiếu. Để có thể giao dịch trên một sàn giao dịch chứng khoán, chứng khoán phải được niêm yết ở đó.

Thường có một trung tâm để ít nhất là ghi lại dữ liệu, nhưng việc giao dịch ngày càng ít có liên kết đến một nơi cụ thể, bởi vì các sàn giao dịch hiện đại là các mạng lưới thông tin điện tử, tạo nên ưu thế về tốc độ và chi phí giao dịch. Chỉ các thành viên mới được phép giao dịch trên một sàn giao dịch chứng khoán.

Một sàn giao dịch chứng khoán là thành phần quan trọng nhất của một thị trường chứng khoán. Thông thường không bắt buộc phải phát hành cổ phần thông qua chính sàn giao dịch, và cổ phần cũng không bị bắt buộc phải giao dịch trên sàn. Những giao dịch như vậy được gọi là giao dịch ngoài sàn hay mua bán thẳng. Đây là cách thường thấy để giao dịch các trái phiếu.

Chào giá ban đầu của các cổ phần và các trái phiếu tới các nhà đầu tư được thực hiện tại thị trường sơ cấp và việc giao dịch sau đó được thực hiện tại thị trường thứ cấp.

Các sàn giao dịch ngày càng biến thành một phần của thị trường chứng khoán thế giới.

Cung và cầu trên các thị trường chứng khoán được dẫn dắt bởi nhiều yếu tố, giống như trên mọi thị trường tự do, bị ảnh hưởng bởi giá các cổ phần ( xem giá trị cổ phần ).

Lịch sử sàn giao dịch chứng khoán

Trong thế kỷ 12 ở nước Pháp, các courratiers de change lo lắng về việc quản lý và điều chỉnh các khoản nợ của các phường hội nông nghiệp với ngân hàng. Bởi vì những người đó giao dịch nợ, nên có thể coi họ là những người môi giới buôn bán đầu tiên.

Một số nguồn khác cho rằng nguồn gốc của thuật ngữ “bourse” (“thị trường chứng khoán” trong tiếng Pháp) bắt nguồn từ chữ bursa trong tiếng La tinh, có nghĩa là một cái túi bởi vì ở thế kỷ 13 tại Bruges, dấu hiệu một cái túi tiền (hay có lẽ ba cái túi tiền), được treo trước cửa ngôi nhà nơi những nhà buôn thường tụ họp.

Tuy nhiên, có lẽ giả thuyết chính xác hơn là ở cuối thế kỷ 13, những nhà buôn hàng hoá ở Bruges đã tụ tập tại ngôi nhà của một người đàn ông tên là Van der Burse, và năm 1309 họ đã chính thức hoá việc gặp gỡ không nghi thức đó cho tới tận ngày nay và trở thành "Bruges Bourse". Ý tưởng này nhanh chóng lan ra quanh vùng Flanders và các tỉnh xung quanh và "Bourses" nhanh chóng được mở tại Ghent và Amsterdam.

Vào giữa thế kỷ 13, những ông chủ ngân hàng tại Venice bắt đầu mua bán chứng khoán chính phủ. Năm 1351, Chính phủ Venice đặt ra ngoài vòng pháp luật những lời đồn thổi với chủ ý làm hạ giá quỹ công trái chính phủ. Trong thế kỷ 14, người dân ở Pisa, Verona, Genoa và Florence cũng bắt đầu buôn bán các trái phiếu chính phủ. Điều này chỉ là có thể bởi vì có các thành bang độc lập không bị cai trị bởi một công tước mà bởi một hội đồng những công dân có uy tín.

Hà Lan sau này bắt đầu có các công ty cổ phần, cho phép những người giữ cổ phần đầu tư vào doanh nghiệp kinh doanh và thu được một phần chia từ lợi nhuận của nó – hay một phần thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn Hà Lan phát hành những cổ phần đầu tiên trên Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đây là công ty đầu tiên phát hành cổ phần và khế ước nợ.

Vai trò của sàn giao dịch chứng khoán

Huy động các khoản tiết kiệm để đầu tư

Khi mọi người đưa ra những khoản tiết kiệm của mình và đầu tư vào các cổ phần, việc này dẫn tới sự phân chia hợp lý hơn các nguồn tài nguyên bởi vì vốn, có thể dùng để tiêu dùng, hay gửi trong các ngân hàng, được huy động và tái định hướng để thúc đẩy hoạt động kinh doanh mang lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp, thương mại và công nghiệp, dẫn tới một sự tăng trưởng kinh tế cao hơn và sức sản xuất ở mức độ lớn hơn.

Tạo thuận lợi cho phát triển công ty

Các công ty coi nguồn vốn thu được là một cơ hội để mở rộng các dây chuyền sản xuất, tăng thêm các kênh phân phối, ngăn chặn tính bất ổn, tăng thị phần, hay mua sắm thêm các tài sản khác cần thiết cho kinh doanh. Một sự bỏ thầu mua lại hay một thoả thuận kết hợp thông qua thị trường chứng khoán là cách đơn giản nhất để phát triển công ty bằng cách mua lại hay kết hợp.

Tái phân phối của cải

Bằng cách trao cho mọi người một cơ hội để mua các cổ phần và nhờ đó trở thành người đồng sở hữu ( những người nắm giữ cổ phần ) của doanh nghiệp có thể sinh lời, thị trường chứng khoán giúp làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập. Cả nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và nghiệp dư thông qua sự tăng trưởng của giá chứng khoán và phân chia cổ tức đều có cơ hội nhận được phần chia lợi nhận từ công việc kinh doanh đầy hứa hẹn do người khác lập ra.

Hợp tác quản lý

Bằng cách có được nhiều người sở hữu ở nhiều tầng lớp khác nhau, các công ty nói chung có khuynh hướng cải thiện các tiêu chuẩn quản lý và hiệu năng của mình nhằm thoả mãn các yêu cầu của những người nắm giữ cổ phần đó và việc hợp tác quản lý của mọi người trên thị trường chứng khoán cũng như của chính phủ càng chặt chẽ hơn. Nhờ vậy, mọi người cho rằng các công ty công chúng (các công ty được sở hữu bởi các nhà đầu tư nắm giữ cổ phần và là thành viên tham gia vào các sàn giao dịch chứng khoán công cộng) thường được quản lý tốt hơn so với các công ty tư nhân (các công ty này không có cổ phần được giao dịch trên các sàn công cộng, thông thường thuộc sở hữu của người sáng lập và/hay gia đình hay người thừa kế của họ, hay là bởi một nhóm các nhà đầu tư nhỏ). Tuy nhiên, một số trường hợp đã cho thấy có lẽ có những sự chệch hướng lớn trong kiểu hợp tác quản lý tại một số công ty thuộc sở hữu công cộng (ví dụ Enron Corporation, MCI WorldCom, Pets.com, Webvan, hay Parmalat).

Tạo các cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ

Đối lập với những công việc kinh doanh đòi hỏi tiêu tốn những khoản vốn lớn, đầu tư vào các cổ phần là cơ hội mở cho cả những nhà đầu tư chứng khoán lớn và nhỏ bởi vì một người chỉ mua một số cổ phần mà anh ta có khả năng. Vì thế Sàn giao dịch chứng khoán cung cấp một nguồn thu nhập khác cho những người có tiền tiết kiệm ở mức độ thấp.

Chính phủ tăng vốn cho những dự án phát triển

Chính phủ hay thậm chí cả các chính quyền địa phương như các chính quyền thành phố có thể quyết định vay tiền để hỗ trợ tài chính cho những dự án hạ tầng to lớn như thoát nước và xử lý nước thải hay cung cấp nhà ở bằng cách bán một kiểu chứng khoán khác được gọi là khế ước nợ. Những khế ước nợ đó có thể tăng giá thông qua Sàn giao dịch chứng khoán khi các thành viên công chúng mua nó, nhờ vậy không cần phải đánh thuế quá cao đối với người dân để có tiền đầu tư phát triển.

Thước đo của nền kinh tế

Tại sàn giao dịch chứng khoán, giá cổ phần lên và xuống phụ thuộc phần lớn vào thị trường. Giá cổ phần tăng lên hay giữ ổn định khi các công ty và nền kinh tế nói chung cho thấy những dấu hiệu của sự ổn định. Vì thế sự chuyển động của giá cổ phần có thể là một đồng hồ báo khuynh hướng chung của nền kinh tế.

Những yêu cầu niêm yết

Các công ty cần thiết phải đáp ứng được các yêu cầu của sàn giao dịch để có thể niêm yết và giao dịch cổ phần của mình tại đó. Ví dụ, để được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE), một công ty phải phát hành ít nhất một triệu cổ phần trị giá tương đương $100 triệu và phải kiếm được hơn $10 triệu trong vòng 3 năm vừa qua lai.

Quyền sở hữu

Các sàn giao dịch chứng khoán có nguồn gốc là những tổ chức đa bên, do chính các thành viên mua bán chứng khoán của nó sở hữu. Gần đây có khuynh hướng “bỏ đa bên”, các thành viên sẽ bán các cổ phần của họ tại một đợt phát hành đầu tiên. Theo cách này tổ chức đa bên trở thành một phường hội, với các cổ phần được niêm yết trên một sàn giao dịch chứng khoán. Các ví dụ về việc này là Sàn giao dịch chứng khoán Australia (1998), Euronext (2000), NASDAQ (2002) và Sàn giao dịch chứng khoán New York (2005).

Các kiểu giao dịch khác

Trong thế kỷ 19, các sàn giao dịch cho phép mua bán theo các hợp đồng trước theo mặt hàng. Giao dịch mua bán qua các hợp đồng trước được gọi là các hợp đồng tương lai. Những giao dịch hàng hoá này sau này bắt đầu được thực hiện trên các sản phẩm khác, như các tỷ lệ lãi suất và cổ phần, cũng như các hợp đồng lựa chọn. Hiện chúng được gọi chung là các hợp đồng tương lai.

Tương lai của sàn giao dịch chứng khoán

Tương lai của sàn giao dịch chứng khoán là điện tử, hệ thống các chuyên gia của Sàn giao dịch chứng khoán New York dường như đang chống lại những kiểu giao dịch mới, Các mạng lưới thông tin điện tử, hay ECNs. ECNs ca ngợi tốc độ xử lý những khối lượng trao đổi lớn của họ, trong khi hệ thống các chuyên gia đề xướng vai trò của các chuyên gia trong việc giữ trật tự của các thị trường, đặc biệt ở các điều kiện lạ thường hay các kiểu lệnh đặc biệt.

Các mạng lưới thông tin điện tử gồm một mạng lưới lợi nhuận quyền lợi đặc biệt với chi phí của các nhà đầu tư từ thậm chí là những giao dịch thương mại trao đổi trực tiếp nhỏ nhất. Mặt khác, các hệ thống dựa trên máy móc được cho là hiệu quả hơn và cải thiện được bộ máy thừa hành truyền thống và hạn chế yêu cầu đàm phán qua trung gian.

Về lịch sử, 'thị trường' (như đã được ghi chú, gồm toàn bộ mua bán cổ phần trên mọi giao dịch) đã chậm chạp trong việc phản ứng với cuộc cách mạng công nghệ. Sự thay đổi sang thương mại hoàn toàn điện tử có thể làm xói mòn/hạn chế lợi nhuận thương mại của những sàn giao dịch bằng chuyên gia và những “thương nhân trên tầng” của NYSE.

"Tôi sẽ nói rõ ràng rằng các mạng lưới thông tin điện tử (ECNs) đang chiến thắng," William Lupien người sáng lập Instinet hệ thống giao dịch và OptiMark hệ thống đã tuyên bố. "Mọi thứ đang diễn ra một cách tồi tệ thật nhanh chóng khi bạn đạt tới điểm chóp."

Quốc hội đã uỷ nhiệm việc thành lập một hệ thống thị trường multiple chứng khoán quốc gia năm 1975. Từ đó, ‘các hệ thống thông tin điện tử’ đã phát triển nhanh chóng.

Khi thực hiện các giao dịch lớn với tốc độ ánh sáng, các hệ thống điện tử làm giảm khả năng chạy trước (front running), hay trao đổi trước khi có lệnh của khách hàng, một hành vi bất hợp pháp mà nhiều nhà môi giới trên sàn NYSE đã bị điều tra và phạt nặng trong những năm gần đây. Khi hoạt động dưới hệ thống giám sát của các chuyên gia, nếu trên thị trường có một trao đổi lớn dưới một cái tên, những người mua khác ngay lập tức có thể kiểm tra để biết nhà giao dịch dưới cái tên đó ở tầm cỡ nào, và dự đoán ra nguyên nhân tại sao anh/chị ta lại ra quyết định mua hay bán. Đó là cách Thị trường dự đoán hoạt động của giá.

ECNs đã thay đổi quá trình giao dịch chứng khoán thông thường (giống như những dịch vụ môi giới trước chúng) thành một hình thức kinh doanh kiểu hàng hoá (commodity-type business). ECNs có thể điều chỉnh sự công bằng của initial public offerings (IPOs), giám sát Hambrecht's OpenIPO process, hay đánh giá hiệu quả của nghiên cứu chứng khoán và sử dụng phí giao dịch để trợ cấp cho những cuộc nghiên cứu mức độ nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, một số người tin rằng cách tốt nhất là phối hợp ưu điểm của công nghệ và con người – nói cách khác một kiểu lai.

Trao đổi 25.000 cổ phiếu trong cổ phần của Lucent (định giá gần đây: $2.80; số lượng gần đây: 49.069.700) là một giao dịch khá đơn giản đối với thương mại điện tử; trao đổi 100 cổ phiếu thuộc cổ phần Hạng A của Berkshire Hathaway (định giá gần đây: $88.710,00; số lượng gần đây: 450) thì có lẽ không được như vậy. Sự lựa chọn hệ thống cần phải rõ ràng (nhưng luôn thuộc quyền của người giao dịch), dựa trên những đặc trưng riêng của loại chứng khoán được trao đổi.

Thậm chí khi ECNs đang trở nên một phần trọng yếu của hệ thống thị trường quốc gia, các cơ hội kiếm lời có lẽ vẫn là ở sự chênh lệch giữa giá đặt và giá chào. Điều này đặc biệt chính xác đối với những giám đốc đầu tư điều hành các khoản giao dịch lớn, và sở hữu một số tiền góp vốn trong một ECN hay một công ty chuyên nghiệp. Ví dụ, trong các tài khoản môi giới chứng khoán của mình, “Các khoản đầu tư chính xác chiếm tới 29% các lệnh hữu danh trong các cổ phần được niêm yết ở NYSE, và 37% trong số các lệnh hữu danh trên Sàn giao dịch chứng khoán Boston, nơi có sự giám sát chung của các chuyên gia.

Nói một cách chính xác, những giao dịch đó được quản lý bởi những đội môi giới “quản lý dòng lệnh” riêng biệt, những người tìm cách có được khả năng thực hiện tốt nhất có thể cho khách hàng và việc thực hiện phải có tỷ suất lợi nhuận cao.

Thị trường chứng khoán thứ cấp

Thị trường chứng khoán thứ cấp là thị trường giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường thị sơ cấp. Thị trường đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Đây là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch giá.

Thị trường thứ cấp: tạo ra khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện; Tiền thu được ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán chứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà đầu tư khác.

- Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề; Thị trường thứ cấp là động lực. Không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại; nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt động thuận lợi và trôi chảy.

- Việc phân biệt Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có tính chất tương đối.

Đặc điểm và Cơ cấu

Đặc điểm

- Thị trường có tính chất cạnh tranh hoàn hảo.

- Thị trường có tính liên tục.

- Khối lượng và nhịp độ giao dịch lớn gấp nhiều lần so với thị trường chứng khoán sơ cấp.

- Hoạt động chủ yếu của thị trường chứng khoán thứ cấp là các nhà đầu tư thực hiện chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và tiền cho nhau.

Cơ cấu

Dựa theo tiêu thức nhất định, có thể chia thị trường chứng khoán thứ cấp thành các thị trường khác nhau:

1.Theo tính chất tổ chức của thị trường:

- Thị trường chứng khoán tập trung (thị trường chứng khoán có tổ chức): thực hiện mua bán các loại chứng khoán niêm yết được tổ chức một cách chặt chẽ. Việc giao dịch chủ yếu được thực hiện theo phương thức khớp lệnh tập trung.

- Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC - over the counter market): là thị trường giao dịch các chứng khoán chưa niêm yết được các Công ty chứng khoán thực hiện qua mạng thông tin.

2.Theo loại hàng hóa giao dịch trên thị trường:

- Thị trường cổ phiếu;

- Thị trường trái phiếu;

- Thị trường chứng khoán phái sinh.

Thị trường chứng khoán tập trung

Hình thái điển hình của Thị trường chứng khoán tập trung là Sở Giao dịch Chứng khoán (Stock exchange).

Sở Giao dịch Chứng khoán là một pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện việc tổ chức giao dịch chứng khoán cho các chứng khoán của tổ chức phát hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán.

Theo tính chất tổ chức thị trường, thông thường Sở Giao dịch Chứng khoán là thị trường chứng khoán tập trung; trong đó việc giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung là sàn giao dịch hay qua hệ thống mạng thông tin máy tính điện tử do các thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán thực hiện.

Thị trường chứng khoán phi tập trung

Thị trường chứng khoán phi tập trung (Thị trường OTC) là thị trường chứng khoán xuất hiện sớm nhất.

Thị trường chứng khoán phi tập trung được đặt dưới sự quản lý, điều hành của các tổ chức tự quản và chịu sự quản lý, giám sát của Chính phủ.

Thị trường chứng khoán Thế Giới ngày 5/1/2011

Thị trường Chỉ số Phiên trước Đóng cửa Tăng/giảm (điểm) Tăng/giảm (%)
Mỹ Dow Jones 11.670,80 11.691,20 20,43 0,18
Mỹ S&P 500 1.271,89 1.270,20 1,67 0,13
Mỹ Nasdaq 2.691,52 2.681,25 10,27 0,38
Anh FTSE 100 5.899,94 6.013,87 113,93 1,93
Pháp CAC 40 3.900,86 3.916,03 15,17 0,39
Đức DAX 6.989,74 6.975,35 14,39 0,21
Nhật Bản Nikkei 225 10.228,90 10.398,10 169,18 1,65
Hồng Kông Hang Seng 23.436,10 23.668,50 232,43 0,99
Trung Quốc Shanghai Composite 2.808.08 2.852,65 44,57 1,59
Đài Loan Taiwan Weighted 9.025,30 8.997,19 28,11 0,31
Hàn Quốc KOSPI Composite 2.070,08 2.085,14 15,06 0,73
Ấn Độ BSE 20.561,10 20.498,70 62,33 0,30
Singapore Straits Times 3.235,77 3.250,29 14,52 0,45

Nguồn: CNBC, Market Watch.

Dương Lâm

Major Stock Exchanges : Year ended 30 November 2010
Source: World Federation of Exchanges - Statistics/Monthly (data 1&3)

Economy Stock Exchange Market Capitalization
(USD Billions)
Trade Value
(USD Billions)
 United States New York Stock Exchange 13041 1439
 United States NASDAQ 3649 954
 Japan Tokyo Stock Exchange 3542 311
 United Kingdom London Stock Exchange 3354 229
 Hong Kong Hong Kong Stock Exchange 2696 179
 Europe Euronext 2695 165
 China Shanghai Stock Exchange 2681 686
 Canada Toronto Stock Exchange 2002 134
 India Bombay Stock Exchange 1540 231
 India National Stock Exchange of India 1503 791
 Brazil BM&F Bovespa 1447 704
 Germany Deutsche Börse 1320 123
 Australia Australian Securities Exchange 1309 101
 China Shenzhen Stock Exchange 1284 548
 Switzerland SIX Swiss Exchange 1122 674
 Spain BME Spanish Exchanges 1077 149
Americas 21244 2617
Asia - Pacific 18287 2262
Europe - Africa - Middle East 13975 954
Total 51752 5833

The main stock exchanges:

( Wikipedia )