NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nghiên Cứu : Singapore Chống Tham Nhũng Thế Nào ?

( Theo "Bí quyết hoá rồng" của Lý Quang Diệu - Lee Kwan Yew )

Để xây dựng một Chính phủ trong sạch, Lý Quang Diệu và các đồng sự của ông đã đặt quyết tâm chống tham nhũng lên hàng đầu bằng những biện pháp mạnh mẽ, cứng rắn, quyết đoán và quyết liệt.

Nhờ đó, Singapore tránh được nhiều tổn thất lớn trong quá trình phát triển và tạo dựng được một Chính phủ tài năng, trong sạch, vững mạnh, biến Singapore từ quốc đảo nhỏ bé thành con rồng châu Á với mức thu nhập bình quân đầu người 26.836 đôla Mỹ /năm, đứng hàng thứ 4 trên thế giới.

Xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch ngay từ trứng nước

Khi đảng PAP lên nắm chính quyền vào năm 1959, chúng tôi bắt đầu xây dựng một bộ máy chính quyền trong sạch. Một quyết định quan trọng mà chúng tôi thực hiện trước cuộc tổng tuyển cử tháng 5/1959 là nhấn mạnh quan điểm của chúng tôi đối với tệ tham nhũng.

Sự cám dỗ đang có mặt ở khắp mọi nơi chứ không chỉ riêng ở Singapore. Lấy ví dụ, viên chức đầu tiên tiếp xúc với những người nước ngoài khi họ bước chân vào lãnh thổ một quốc gia chính là nhân viên phòng hải quan và nhập cư. Ở nhiều sân bay tại Đông Nam Á, du khách thường thấy sự chậm trễ trong khâu thủ tục hải quan cho đến khi nào họ đã sẵn sàng một số tiền đút lót đúng lúc (thường là tiền mặt).

Cái thực tế phiền hà ấy cũng hiện diện ở những Cảnh Sát Giao Thông, khi buộc phải ngừng xe do bị vịn vào lý do tốc độ, lái xe phải nộp bằng lái cùng với việc tiếp theo là một số tiền ước lượng bằng đô la để tránh những hành động xa hơn. Các sĩ quan cao cấp cũng chẳng nêu được một tấm gương tốt. Ở nhiều thành phố trong khu vực, thậm chí nhập viện sau một tai nạn giao thông cũng cần một khoản đút lót để được chăm sóc mau lẹ. Những người có chức vụ nhỏ không thể sống nổi bằng đồng lương của họ và thực tế đó đã lôi kéo họ đến sự lạm dụng quyền lực.

Chúng tôi ý thức sâu sắc sứ mệnh của mình là kiến lập một chính quyền trong sạch và hiệu quả. Vào tháng 06/1959, khi tuyên thệ tại nghi lễ nhận nhiệm kỳ ở văn phòng Hội Đồng Nhân Dân thành phố, tất cả chúng tôi đều mặc áo sơ mi trắng và quần trắng tượng trưng cho sự thanh khiết và lương thiện của mình trong hành vi cá nhân cũng như trong cuộc sống cộng đồng. Đây là điều mà nhân dân đã kỳ vọng ở chúng tôi và chúng tôi quyết định phải sống xứng đáng với những kỳ vọng đó...

Tất cả các Bộ trưởng của tôi, ngoại trừ một người, đều là những người đã tốt nghiệp Đại Học. Hết nhiệm kỳ, chúng tôi tin là mình có thể kiếm sống được và những nhà chuyên nghiệp giống như tôi luôn sẵn sàng làm điều đó. Chúng tôi không cần phải dành dụm một cái gì đó để phòng những trường hợp có thể xảy ra. Quan trọng hơn, hầu hết chúng tôi đều có những người vợ lao động có thể nuôi dưỡng gia đình nếu chúng tôi bị vào tù hay không còn xuất sắc trong công việc được nữa. Yếu tố này định hướng quan điểm của các Bộ trưởng và vợ của họ. Khi các Bộ trưởng chiếm được lòng tin và lòng kính trọng của người dân, các công chức còn có thể ngẩng cao đầu và tự tin ra quyết định.

Từ ngày lên nắm chính quyền vào tháng 06/1959, chúng tôi chắc chắn rắng mỗi đồng đô la trong tổng thu nhập đều phải được giải thích một cách hợp lý và sẽ đến với người dân nguyên vẹn là một đồng đô la mà không bị rút bớt đi ở dọc đường. Vì vậy, ngay từ buổi đầu, chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến những lĩnh vực mà sự lộng quyền được khai thác cho lợi ích cá nhân và đồng thời mài nhọn những công cụ có thể ngăn chặn, phát hiện và cản trở những thủ đoạn này.

Chúng tôi quyết định tập trung vào những người đảm nhận chức vụ lớn ở các cơ quan hành chính cấp cao và cho CPIB (Ban Điều tra hành vi tham nhũng - người Anh thành lập vào năm 1952), hướng vào mục tiêu mà chúng tôi ưu tiên. Đối với những đối tượng nhỏ hơn, chúng tôi đơn giản hoá thủ tục, tẩy trừ sự lạm quyền bằng đường lối chỉ đạo được công bố rõ ràng, thậm chí huỷ bỏ nhu cầu cấp giấy phép hoặc phê chuẩn trong những phạm vi ít quan trọng. Mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn trong việc kết tội khi truy tố, chúng tôi siết chặt hơn luật pháp trong lĩnh vực đó.

Tăng tiền phạt tối đa tội tham nhũng từ 10.000 đô la Sing lên 100.000

Năm 1960, chúng tôi thay đổi Luật chống tham nhũng đã lỗi thời của năm 1937 và mở rộng định nghĩa về quà cáp để chỉ bất cứ thứ gì có giá trị. Sự sửa đổi này nới rộng quyền lực của các điều tra viên, kể cả quyền bắt giữ, khám xét, thanh tra tài khoản ngân hàng, số ghi tiền gửi ngân hàng của những kẻ bị tình nghi cũng như của vợ, con và thuộc hạ của họ. Người quản lý thuế thu nhập buộc phải đưa ra những thông tin có liên quan tới bất kỳ ai đang bị điều tra.

Luật hiện hành quy định rằng, chứng cứ do kẻ đồng phạm khai ra không có giá trị tin cậy trừ phi được chứng minh. Chúng tôi đã thay đổi bằng cách cho phép các quan toà chấp nhận lời khai của kẻ đồng phạm là chứng cứ.

Với sự nhạy bén, tinh tế và quyền hạn được điều tra bất kỳ viên chức hay vị Bộ trưởng nào, vị Giám đốc của CPIB, đang làm việc tại Phủ Thủ tướng, nổi danh trong việc phát hiện ra những kẻ phản bội lại lòng tin của nhân dân.

Năm 1963, chúng tôi thực hiện việc bắt buộc các nhân chứng, được triệu tập bởi CPIB, phải có mặt để cung cấp thông tin. Năm 1989, chúng tôi tăng tiền phạt tối đa đối với tội tham nhũng từ 10.000 đô la Sing lên đến 100.000 đô la Sing. Cung cấp thông tin giả hoặc lừa dối CPIB sẽ bị phạt tù và số tiền nộp phạt lên đến 10.000 đô la Sing, các quan toà được quyền sung công những khoản tiền có nguồn gốc từ tham nhũng.

Đưa ra những chuẩn mực đạo đức cao, lên án mạnh mẽ và đề ra quyết tâm tiêu diệt tham nhũng thì dễ dàng. Nhưng sống theo những lý tưởng tốt đẹp này thì vô cùng khó khăn, trừ phi người lãnh đạo có đủ mạnh mẽ và quyết tâm để đương đầu với kẻ phạm tội và không có sự ngoại lệ nào. Nhân viên CPIB phải được ủng hộ để thực thi luật, không e dè hay thiên vị.

Trả lương tương xứng năng lực

Điều kiện tiên quyết đối với một chính quyền lương thiện là những người ứng cử không phải cần đến một số tiền lớn để được đắc cử, nếu không nó sẽ khởi sự một chu trình tham nhũng. Nguyên nhân suy sụp của hầu hết các quốc gia châu Á chính là cái chi phí quá cao của những cuộc bầu cử. Sau khi đã chi một số tiền lớn để được đắc cử, người chiến thắng sẽ phải kiếm chác để bù lại chi phí mà họ đã bỏ ra và còn phải tích luỹ những khoản quỹ dành chi cho cuộc bầu cử tới.

Singapore tránh sử dụng tiền cho mục đích thắng cử. Là người lãnh đạo của phe đối lập, năm 1959, tôi thuyết phục Lim Yew Hock thực hiện việc bỏ phiếu bắt buộc và cấm sử dụng xe hơi để đưa cử tri đi bỏ phiếu. Chi phí dành cho cuộc bầu cử của chúng tôi rất thấp, dưới cả mức tiền mà luật cho phép.

Họ bỏ phiếu cho chúng tôi nhiều lần vì chúng tôi đã cung cấp việc làm, xây dựng trường học, bệnh viện, trung tâm cộng đồng và quan trọng hơn hết là những ngôi nhà mà họ sở hữu. Đó là những lợi ích đáng kể làm thay đổi cuộc sống của họ và thuyết phục họ rằng tương lai của con cháu họ đặt trong tay của PAP.

Mặt khác, Singapore đã chứng minh rằng, một hệ thống bầu cử trong sạch, không có ảnh hưởng của đồng tiền sẽ giúp duy trì một chính phủ lương thiện. Tuy nhiên, Singapore chỉ giữ được sự trong sạch và lương thiện khi nào những con người lương thiện và đầy năng lực sẵn sàng tham gia ứng cử và nắm giữ chức vụ. Họ phải được trả một mức lương tương xứng với những gì mà một người có khả năng và liêm chính có thể được hưởng khi điều hành một công ty lớn hay đang làm những công việc có tính chuyên môn khác. Họ phải quản lý được một nền kinh tế Singapore mà trong hai thập niên qua đạt mức tăng trưởng hằng năm từ 8% đến 9%, và mức GDP bình quân đầu người, theo Ngân hàng Thế giới ước tính, đứng thứ 9 trong những nước cao nhất trên thế giới.

Nếu chúng tôi trả lương quá thấp cho những người đảm nhận chức vụ Bộ trưởng thì chúng tôi không thể kỳ vọng họ ở lại lâu với chức vụ mà tiền lương chỉ bằng một phần nhỏ những gì họ có thể kiếm được ở bên ngoài. Với mức tăng trưởng kinh tế cao và tiền lương cao hơn trong khu vực tư nhân, lương của các Bộ trưởng phải tương xứng với mức lương của những người tương đương với họ trong khu vực tư nhân. Chính vì đồng lương thấp mà các Bộ trưởng và công chức đã làm sụp đổ nhiều chính quyền tại châu Á. Sự trả công thoả đáng là nhân tố quan trọng đối với chuẩn mực liêm khiết của hàng ngũ những nhà lãnh đạo chính trị và viên chức cao cấp.

Điều chỉnh lương khu vực Nhà nước ngang bằng khu vực tư nhân

Sau khi độc lập, tôi hạn định lại tiền lương của các Bộ trưởng, giữ cho mức lương ở các cơ quan dân chính tăng ở mức độ thấp để chúng tôi có thể đương đầu với nạn thất nghiệp và sự tụt hậu của nền kinh tế đồng thời nêu tấm gương về sự chừng mực. Năm 1970, khi tình trạng thất nghiệp không còn trầm trọng nữa, không khí đã dễ thở hơn, tôi tăng lương cho các Bộ trưởng từ 2.500 đôla Sing lên 4.500 đôla Sing một tháng nhưng giữ cố định lương của tôi ở mức 3.500 đôla Sing để nhắc nhở cơ quan dân chính rằng, sự chừng mực vẫn là cần thiết. Cứ vài năm tôi lại tăng lương cho các Bộ trưởng để thu hẹp khoảng cách rộng lớn với mức lương trong lĩnh vực tư nhân.

Khi tôi còn là một Bộ trưởng cấp cao, năm 1994 tôi đã đề nghị lên nghị viện rằng chính phủ nên đặt ra một phương án nhằm tự động hoá việc xét duyệt lương các Bộ trưởng, quan toà, và các công chức hàng đầu theo bản báo cáo thuế thu nhập của khu vực tư nhân. Với mức tăng trưởng kinh tế từ 7% đến 10%/năm trên hai thập niên qua, tiền lương trong khu vực Nhà nước luôn chậm lại sau khu vực tư nhân từ hai đến ba năm.

Năm 1995, Thủ tướng Goh quyết định chọn phương thức mà tôi đề nghị rằng sẽ gắn lương các Bộ trưởng và các viên chức cao cấp với mức lương ở vị trí tương ứng trong khu vực tư nhân. Điều này sẽ tự động làm cho thu nhập của họ tăng khi thu nhập trong khu vực tư nhân tăng.

Trong cuộc tổng tuyển cử 18 tháng sau đó, Thủ tướng thông qua toàn bộ cử tri mặc dù phe đối lập khai thác vấn đề tiền lương của các Bộ trưởng. Người dân cần một chính phủ trong sạch, lương thiện và tài giỏi nhằm mang lại những thành quả tốt đẹp. Và đó chính là những gì mà đảng PAP đã đạt được.

Hiện tại, không quá khó khăn trong việc tuyển chọn nhân tài từ khu vực tư nhân. Trước khi phương án tiền lương được thực thi, các luật sư giỏi kiếm được 2 triệu đôla Sing. Nếu không có sự thay đổi này, chúng tôi không bao giờ có thể bổ nhiệm được những luật sư giỏi nhất vào bộ máy tư pháp. Chúng tôi còn kết hợp lương của bác sĩ và những nhà chuyên môn khác trong cơ quan Nhà nước với thu nhập của những người tương đương họ trong khu vực tư nhân. Phương án tiền lương này không có nghĩa là gia tăng lương mỗi năm, vì thu nhập trong khu vực tư nhân có thể tăng hoặc giảm. Điển hình là sự kiện năm 1995 khi thu nhập trong khu vực tư nhân giảm xuống, do đó năm 1997 lương các Bộ trưởng và viên chức cao cấp cũng bị giảm theo.

Bầu một tổng thống có sự uỷ thác độc lập từ cử tri để chống tham nhũng

Để đề phòng những người thiếu trung thực và không lương thiện vào bộ máy Chính phủ, trong một buổi mít tinh chào mừng Ngày Quốc khánh vào tháng 08/1984, tôi đã đề nghị nên bầu ra một tổng thống để bảo vệ đội ngũ viên chức dự bị của quốc gia. Tổng thống cũng sẽ có những quyền cao hơn cả một Thủ tướng, chẳng hạn, tổ chức các cuộc điều tra tham nhũng đối với chính Thủ tướng và các Bộ trưởng của ông ta hoặc các viên chức cao cấp, và có quyền phủ quyết sự bổ nhiệm không thích hợp vào các vị trí cao cấp như chánh án, bộ trưởng quốc phòng, tổng nha cảnh sát. Một tổng thống như thế sẽ cần đến sự uỷ thác độc lập từ cử tri.

Nhiều người cho rằng tôi đang chuẩn bị một chức vụ cho bản thân tôi sau khi rời khỏi chức vụ Thủ tướng. Thực sự tôi chẳng có chút hứng thú nào đối với chức vụ cao cấp này vì nó quá thụ động so với tính khí của tôi. Kế hoạch đề xuất này và những vấn đề liên quan đến nó được thảo luận tự do tại nghị viện năm 1988. Vài năm sau đó, vào năm 1992, Thủ tướng Goh Chok Tong bổ sung hiến pháp chuẩn bị cho việc bầu cử chức vụ Tổng thống. Chúng tôi phải giữ thăng bằng giữa quyền lực của tổng thống và quyền lực tự do hợp pháp của thủ tướng cùng với nội các của ông.

Khi các quốc gia Đông Á từ Hàn Quốc đến Indonesia bị tổn thất bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, tham nhũng và chủ nghĩa gia đình trị làm tình trạng của họ càng thêm khốn khổ. Singapore khắc phục cuộc khủng hoảng tốt hơn vì không có nạn tham nhũng và không có sự tồn tại của chủ nghĩa gia đình trị, hai yếu tố vốn đã làm cho các quốc gia khác phải tổn thất hàng tỉ bạc.

Trong đoạn viết về "xây dựng một chính phủ trong sạch" , Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng dẫn chứng quyết tâm bài trừ tham nhũng của ông bằng việc thẳng tay cương quyết xử lý cả những đồng sự thân cận có dính líu đến tệ nạn này. Trong đó, nhiều vụ nổi bật gây xôn xao trên báo chí. Ví như vụ ông sa thải, tước bỏ mọi quyền hạn của Bộ trưởng Phát triển quốc gia - Tan Kia Gan, lúc đó là Giám đốc hãng hàng không Malaya, vì ông này mượn tay người khác đòi hoa hồng cho việc mua máy bay Boeing; Quốc vụ khanh của Bộ Môi trường năm 1975 là Wee Toon Boon cũng bị bắt giam và bị kết án 4 năm 6 tháng tù (sau đó được giảm nhẹ còn 18 tháng) vì tội nhận hối lộ.

Đặc biệt là trường hợp của Teh Cheang Wan, Bộ trưởng Phát triển quốc gia, sau khi bị phát hiện tham nhũng, nhận hối lộ đã xin được gặp Lý Quang Diệu nhưng ông từ chối với lý do "không thể gặp cho đến khi nào cuộc điều tra kết thúc" . Cuối cùng, Teh Cheang Wan đã tự sát để chuộc lỗi.

Chiến lược phát triển của Singapore

Trong diễn văn nhậm chức vào tháng 11 năm 2004, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã phát biểu với các cử tri của đảo quốc này: “Sự tin cậy mà các bạn đã dành cho ngài Lý Quang Diệu và Ngài Goh Chok Tong, những người đã rời nhiệm sở trong sự kính trọng và nể phục, giờ đây được trao lại cho tôi…Tôi tha thiết đề nghị các bạn hãy cùng tôi chung sức xây dựng một nước Singapore có thể chăm lo đến tất cả các công dân, giáo dục trẻ em cho thật tốt và tạo cơ hội đầy đủ cho mọi người thực hiện khát vọng của mình.”

Ông Lý, thực tế đang đứng trước một nhiệm vụ cực kỳ lớn với rất nhiều điều còn cần phải giải quyết. Thu nhập bình quân đầu người của Singapore đã tăng từ 427 đô la năm 1960 lên 24.793 năm 2004. Tốc độ tăng thu nhập đạt 9.7% / năm đạt được nhờ sự định hướng và kiểm soát rất chủ động của chính phủ, cách thức đã chứng tỏ hiệu quả hơn bất kì nơi nào trên thế giới. Mới là thủ tướng thứ 3 của Singapore từ khi lập quốc-năm 1959 tới nay, nhưng thủ tướng trẻ tuổi Lý Hiển Long đang phải đối mặt với một thế giới nhiều biến động và khu vực Nam Á cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn.

Dưới thời ông Lý làm Bộ trưởng Bộ Tài Chính, Singapore đã thực chiến lược cắt giảm thuế, vừa nhằm thúc đẩy kinh tế vĩ mô, vừa khiến quốc gia này trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, Uỷ ban Phát Triển Kinh tế của nước này đã định ra một chiến lược “sinh thái” nhằm khuyến khích những sáng kiến và công nghệ được cải tiến trong năm ngành công nghiệp chính-hoá dầu, điện tử, dịch vụ vận tải và logistics, công nghệ thông tin và truyền thông, và mục tiêu mới nhất….ngành khoa học y sinh.

Các nhà lãnh đạo của Singapore hy vọng rằng hai sáng kiến mang tính chất chiến lược trên sẽ giúp đối phó với những thách thức trong cuộc cạnh tranh với Ấn Độ và Trung Quốc, và đưa Singapore vào hàng những quốc gia phát triển. Nhưng còn muôn vàn những khó khăn khác. Các ngành kinh tế dựa trên tri thức đã bén rễ rất sâu ở những nước như Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ. Liệu một đảo quốc nhỏ bé ở Đông Nam Á có thể phát triển được đầu tư vốn và nhân lực sánh ngang với Dublin hay Bangalore, Thượng Hải, Đài Bắc và Seoul, đó là chưa kể tới Luân Đôn, Tôkyo, thung lũng Silicon và Cambridge?

Singapura: Thành phố sư tử

Singapore là một trung tâm thương mại và hải cảng từ thế kỉ thứ 7. Vào thế kỉ 14, những người nhập cư Trung Hoa đã chiếm lĩnh hòn đảo này, trước khi người Bồ Đào Nha giành quyền kiểm soát từ tay những nhà thống trị Mã lai vào thế kỉ 16. Năm 1819, ngài Stamford Raffles đã tới Singapore nhằm tìm kiếm một cơ sở thương mại cho công ty Đông Ấn của Anh. Sau khi thoả thuận với viên toàn quyền Johor ở địa phương, Raffles đã nhấn mạnh, “Đây là may mắn lớn cho tôi khi thiết lập được một thương cảng tại địa điểm này-một vị trí kết hợp được mọi thuận lợi, cả về địa lí và khu vực”.

Hòn đảo này, có diện tích bằng với khu Manhattan, được chia tách với Malaysia bởi một con kênh hẹp. Những cánh rừng xanh tươi nơi đây được tô điểm bởi những căn nhà lợp mái cọ trông rất lạ mặt nhưng lại vô cùng nghèo nàn. Rác và nước thải được đổ bừa bãi theo cống rãnh, không cần quan tâm tới sức khoẻ con người, chưa nói tới vấn đề môi trường. Các nhà kinh tế phát triển đã miêu tả Singapore như một hải cảng hình chữ U …và là điểm phân phối hàng hoá.

Cao su và thiếc, hai loại nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong thời kì cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 đều được xuất khẩu từ Singapore. Và sau năm 1869, khi kênh đào Suez được mở cửa, Singapore trở thành một thương cảng chính cho việc tiếp tể nhiên liệu và trung chuyển tàu bè giữa Ấn Độ và khu vực Đông Á. Chỉ có hai con đường cho việc giao lưu thương mại Đông Tây là-eo biển Sunda, nối giữa Sumatra và Java, và một eo biển nữa thuận tiện hơn nhiều-eo Malacca, chính là khu vực của Singapore. Ngày nay, Singapore là điểm trung chuyển tàu bè lớn nhất dành cho container-với hàng chục tàu thuyền ra vào cảng mỗi ngày.

Năm 1871, dân số Singapore được thống kê ở mức sáu lăm nghìn người. Trong 30 năm sau đó, thương mại của nước này đã tăng lên gấp sáu lần. Từ năm 1910 đến 1939, tăng gấp 4 lần nữa-lên tới 1.8 tỷ đô la Mỹ (theo đồng đô la hiện hành). Người Anh đã xây dựng một căn cứ hải quân lớn ở đây, và đã tuyển dụng gần một trăm nghìn người.

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đánh dấu giai đoạn thoái trào cho thuộc địa này . Người Anh đã dâng Singapore cho phát xít Nhật vào tháng 2 năm 1942. Được người Nhật đổi tên lại là Syonan (“Ánh sang phương Nam”), Singapore trở thành một căn cứ thời chiến của Nhật trong ba năm rưỡi. Người Singapore đã phải trải qua một giai đoạn khủng khiếp; nhiều người đã chết vì suy dinh dưỡng, bệnh tật, những người khác bị hành quyết.

Sau chiến tranh, người Anh đã tuyên bố Singapore trở thành một thuộc địa danh dự (được tách ra khỏi Malaisia). Năm 1948, nước Anh tán thành với yêu cầu của một số thương nhân thành lập một hội đồng lập pháp. Năm năm sau, nước Anh đã chỉ định một uỷ ban có nhiệm vụ tái soạn thảo hiến pháp của Singapore theo quy chế tự trị có giới hạn. Mặc dù được tự bầu hội đồng lập pháp, nhưng tình trạng bạo động của sinh viên và người lao động vẫn tiếp diễn.

Cuối cùng, Singapore đã cử một phái đoàn tới nước Anh nhằm đạt được độc lập về chính trị. Lý Quang Diệu, khi ấy mới 30 tuổi là cử nhân tốt nghiệp trường Đại học Cambridge đã thành lập nên Đảng Hành Động Nhân dân (PAP) vào năm 1955, cũng là một thành viên của phái đoàn này. Sau này, ông Lý đã tham gia tranh cử chức thủ tướng năm 1959 và giành chiến thắng.

Trong bốn năm sau đó, đảng PAP đã hợp tác với Đảng Cộng sản nhằm chấm dứt chế độ thuộc địa của người Anh. Khi người Anh rút khỏi năm 1963, Singapore đã cùng với Malaya, Sarawak và Sabah (Bắc Borneo) thành lập nên Liên Bang Malaysia. Nhưng liên bang này không tồn tại được lâu. Rất nhiều vấn đề đã nhanh chóng nảy sinh như vấn đề ngân sách, thị trường chung và quyền kiểm soát về chính trị. Chưa kể tới việc Singapore có đa số người gốc Trung Quốc (chiếm tới 79%), đối lập với Malaysia, nơi có phần lớn là người Malai.

Lý Quang Diệu và chính quyền PAP thời gian ấy đã miễn cưỡng trong việc trao các lợi thế về kinh tế cho người Malai, cũng như các trợ giúp tài chính dành cho giáo dục. Các nhà lãnh đạo theo xu hướng cực đoan ở Kuala Lumpur đã khuấy lên tư tưởng chống đối chính phủ và những xung đột về sắc tộc. Tháng 7 năm 1964, mâu thuẫn đã bùng nổ giữa những thanh niên gốc Trung Quốc và gốc Mã lai trong quá trình tổ chức mừng ngày sinh Thánh Mohammed. Kết quả của cuộc bạo động sắc tộc này là hai mươi ba người chết và hàng trăm người bị thương.

Hai tháng sau, những điệp viên người Indonesia lại khơi mào cho những bạo lực tại cộng đồng. Cả Lý Quang Diệu và Tengku Rahman (lãnh tụ của người Malaya) đều thân chinh đi khắp đảo trong nỗ lực nhằm ổn định tình hình. Tuy nhiên, trong vài tháng sau đó, những căng thẳng về chính trị còn trở nên tồi tệ hơn với việc đảng PAP tách hoàn toàn khỏi những người Cộng sản và việc chính quyền Malaysia can thiệp sâu hơn nhằm phản đối những người Singapore gốc Hoa.

Cuối cùng, Lý Quang Diệu và những người cộng sự đã phải thống nhất với quan điểm tách khỏi Malaisia dường như là lựa chọn duy nhất. Ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore trở thành một quốc gia độc lập. Khi nói về giai đoạn chia tách này, ông Lý đã xúc động phát biểu: “Đối với tôi, đây là một thời khắc đau buồn. Cả cuộc đời tôi, thời thanh niên của tôi, tôi đều tin tưởng vào sự hoà hợp và thống nhất giữa hai vùng lãnh thổ”.

Những thất vọng về chính trị chỉ là một phần trong những vấn đề mà Lý Quang Diệu phải đối mặt. Ông nhớ lại “Chúng tôi đã gặp phải hàng loạt những vấn đề to lớn mà cơ hội sống sót gần như không có…Singapore không phải là một đất nước tự nhiên hình thành mà là một thương cảng do con người xây dựng, khi người Anh phát triển nơi đây thành một điểm nút quan trọng trong giai đoạn thống trị trên biển khắp toàn cầu của họ.

Chúng tôi thừa hưởng hòn đảo này mà không có vùng nội địa, như một trái tim không có cơ thể”. Vì thế ông Lý đã rất khôn ngoan khi giành ưu tiên hàng đầu cho những nhu cầu cấp bách của đất nước mình. Đầu tiên là việc củng cố quốc phòng và giành được sự cộng nhận của quốc tế với một ghế tại Liên Hợp Quốc. Để làm dịu lại tình hình sắc tộc bất ổn trong nước, nội các đã nhanh chóng thành lập Bộ Quốc Phòng và Nội Vụ nhằm xây dựng lực lượng cảnh sát và quân đội.

Cấp bách không kém là yêu cầu về kinh tế. Với việc đóng cửa các cơ sở của người Anh (đóng góp tới 20% GDP), tình trạng thất nghiệp của Singapore đã tăng nhanh tới mức 14%. Để tạo thêm công ăn việc làm, đảng PAP đã thành lập Ban Phát Triển Nhà ở (HDB), bắt đầu xây dựng nhà ở công cộng. Trong 18 tháng, đã xây dựng được nhà ở cho 30 nghìn người, cùng với đó cung cấp thêm hàng nghìn việc làm. Tới năm 2001, hơn 85% người dân sống trong các căn nhà do HDB xây dựng.

Chiến lược phát triển của Singapore

Sau nhiều năm nỗ lực thực hiện chiến lược thay thế hàng nhập khẩu không thành công, ông Lý và chính quyền của mình đã đi đến kết luận rằng tương lai của Singapore nằm ở việc thu hút đầu tư trực tiếp từ các tập đoàn đa quốc gia của Mỹ và châu Âu. Vì thế, Singapore đã thiết lập một chiến lược với nhiều mục tiêu mũi nhọn. Đầu tiên, nước này sẽ vượt qua các quốc gia láng giềng như những đối tác thương mại và thu hút các công ty nước ngoài sản xuất ở Singapore và tái xuất sang các nước phương Tây.

Thứ hai, Singapore tự coi mình như một hòn đảo cấp 1 trong khu vực các nước thuộc thế giới thứ 3. Những rào cản đầu tư và thương mại, dù rất thấp cũng đều được xoá bỏ. Khu công nghiệp Jurong, một khu vực rộng lớn được tái thiết lại được một số người ví như “con voi trắng”, được xây dựng làm cơ sở sản xuất cho các công ty thu hút nhiều lao động bậc cao sản xuất hàng hoá theo các dây chuyền công nghệ Phương Tây.

Bộ Thương mại và đầu tư đã thành lập Uỷ Ban Phát Triển Kinh Tế (EDB) năm 1961 hoạt động theo cơ chế một cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài. Kết nối trực tiếp với những khách hàng tiềm năng ở chính quốc gia của các nhà đầu tư, các nhân viên của EDB cố gắng thu hút các nhà đầu tư và định hướng đầu tư vào các lĩnh vực hoá dầu, sửa chữa tàu thuyền, chế tạo kim loại và điện tử.

Những nhà đầu tư tiên phong cũng được miễn trừ các khoản thuế nhất định. Năm 1968, một trong những thành công đầu tiên của EDB là nhà máy National Semiconductor, bắt đầu sản xuất chỉ hai tháng sau khi quyết định đầu tư. Khi hai tập đoàn Texas Instruments và Hewlett-Packard tái thiết hoạt động ở Singapore, cuộc đổ xô đầu tư bắt đầu.

Tuy nhiên, thành công của Singapore còn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác ngoài mức thuế quan thấp, nhân công rẻ và các khu công nghiệp tốt. Đất nước Singapore, Inc được khai sinh và hoạt động dưới sự điều hành của Lý Quang Diệu, đã hoạt động hiệu quả giống như một tập đoàn. (Henry Kissinger đã từng gọi ông Lý là “người thông minh nhất phương Tây”.

Còn tạp chí Economist đã hài hước ví von rằng sự chia tách khỏi Malaysia đồng nghĩa với việc “khát vọng thống trị một nơi có diện tích nhỏ như những khát vọng của ông Lý sẽ không thể thực hiện được.”) Thành công của Singapore cần tới một cơ sở hạ tầng vững chắc, sự ổn định về lao động và chế độ tiền tệ không lạm phát với cơ chế cố định tỷ giá.

Thêm vào đó, người dân Singapore cần phải tiết kiệm và đầu tư-ở một tỉ lệ cao hơn hẳn so với trước đấy. Từ khi đảng PAP bắt đầu nắm quyền vào năm 1959, chính phủ đã cần tới các biện pháp kiểm soát đúng mức để thúc đẩy các cải cách hợp lí nhằm biến Singapore trở thành một khu vực hấp dẫn cho đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Chính sách Lao động

Lực lượng lao động có hiệu quả đóng vai trò chủ đạo. Trong thời kì hậu độc lập của Singapore, tình trạng bất ổn của nhân công là rất phổ biến. Tổng thống Singapore Yusof bin Ishak nhận định “Chúng ta không thể chu cấp cho những hoạt động vượt mức và lãng phí của các công đoàn không có trách nhiệm.” và Lý Quang Diệu đã không lãng phí thời gian, ông nghiêm cấm hoạt động của các công đoàn và bắt giữ một vài nhà lãnh đạo.

Chính phủ đã thành lập một uỷ ban tiếp quản hoạt động, Đại hội Công Đoàn quốc gia (NTUC), đại diện cho lợi ích của người công nhân và phù hợp với tinh thần phát triển của PAP. Chính phủ cũng thành lập Uỷ ban Lương quốc gia nhằm điều chỉnh mức lương. Số lượng thành viên công đoàn đã giảm đi nhanh chóng, từ 79% lực lượng lao động xuống 25% trong những năm 1990.

Chính phủ coi người lao động nằm trong mối quan hệ đối tác đặc biệt với giới kinh doanh và bản thân chính phủ. Bước đầu, ông Lý đã giành một ghế trong nội các cho Tổng thư kí NTUC. Vì thế, công đoàn sẽ phải ý thức được lí do đằng sau những chính sách của chính phủ và ngược lại, ông tổng thư kí sẽ phải đại diện cho lợi ích của người công nhân trong quá trình hoạch định chính sách.

Như ngài Tổng thư kí NTUC Lim Boon Heng đã nói với tôi: “Công đoàn đã nhận ra rằng, những gì tốt cho việc kinh doanh thì cũng tốt cho người lao động. Ở Singapore có được một việc làm là điều quan trọng nhất. Công đoàn phải giúp tạo ra các điều kiện cần thiết dể khuyến khích các công ty đầu tư vào Singapore.” Các chính sách hạn chế cũng hoàn toàn nằm trong tay các nhà quản lí.

EDB đã thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư tới mức cuối những năm 1970, Singapore gần như thiếu nhân công và không có đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu. Lực lượng lao động đã được bổ sung bởi những nhân công nước ngoài, gồm những người có trình độ và không có trình độ. Chính phủ đã phải sử dụng giấy phép lao động như một công cụ kinh tế vĩ mô nhằm điều chỉnh tình trạng thất nghiệp (cũng như tiền lương và mức độ lạm phát).

Mặc dù, Singapore vẫn là khu vực hấp dẫn với những người lao động không có trình độ, nhưng nước này vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc giữ những lao động bậc cao. Di cư đã thành một vấn đề lớn vào đầu những năm 2000, vì thế chính phủ phải thi hành những chương trình nhằm khuyến khích việc sinh con cái và giữ chân những người dân Singapore ở lại quê nhà.

Tiết kiệm

Tỉ lệ tiết kiệm rất cao là một đặc trưng riêng biệt nữa trong chiến lược phát triển của Singapore. Quỹ Tiết kiệm trung ương (CPF), một chương trình tiết kiệm bắt buộc được quản lí công khai, lần đầu tiên được thành lập vào năm 1955-một thể chế tích cực dưới thời kì thuộc địa. Hơn thế nữa, quỹ CPF hoạt động dựa trên cơ sở được tài trợ toàn phần. Sau khi nghỉ hưu, người dân Singapore được hưởng lợi miễn thuế dựa trên những đóng góp trong quá khứ cộng với lãi suất.

Tỉ lệ lãi suất được tính theo tỉ lệ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi cố định của các ngân hàng lớn, được bảo đảm sẽ trả ít nhất 2.5% mỗi năm. Những khoản đóng góp trước thuế bắt buộc cho CPF do cả các công ty và người làm thuê cùng thực hiện. Tỉ lệ ban đầu được đặt ra là 5% cho mỗi bên, đến năm 1985 tỉ lệ đóng góp kết hợp đã tăng lên 50%, được thể hiện trong bảng 3.1. Tỉ lệ hiện tại được cố định ở mức 33%, vì mức đóng góp của các công ty được giảm xuống chỉ còn 13% vào năm 2003 để thúc đẩy nền kinh tế.

Hầu như toàn bộ lực lượng lao động của Singapore là thành viên của quỹ này. Cho dù mục tiêu ban đầu là phục vụ các kế hoạch hưu trí, quỹ này đã phát triển thành công sang các chương trình cho vay khác. Người Singapore có thể sử dụng khoản tiết kiệm của họ để mua các căn hộ thuộc Ban Phát Triển Nhà Ở (HDB).

Sau năm 1981, Kế Hoạch Sở Hữu Nhà Ở đã cho phép đầu tư vào lĩnh vực sở hữu nhà ở. Giáo dục đại học cũng là một lí do hợp pháp khi đi vay. Cuối cùng, quỹ này còn cấp vốn cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và bảo hiểm. Trong khi đầu tư vào tài khoản hưu trí của quỹ này là cần thiết, công nhân cũng có thể gửi thêm tiền cho giáo dục, sức khoẻ và nhà ở. 35% số tiền gửi có thể dùng để đầu tư cổ phiếu trên Thị trường chứng khoán Singapore - khoản thu từ nguồn này không bị kiểm soát.

Các quỹ của CPF chủ yếu được đầu tư vào những trái phiếu chính phủ có độ rủi ro thấp, dùng để phát triển cơ sở hạ tầng cũng như những doanh nghiệp nhà nước của Singapore. Năm 2001, 89 tỉ đôla Singapore (trong tổng số 92 tỉ) đã được đầu tư vào trái phiếu chính phủ.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng người Singapore thực ra tiết kiệm nhiều hơn yêu cầu. Điều này đồng nghĩa với việc, tổng tiết kiệm trong nước trong các năm 1990 đã vượt quá 50% và vẫn duy trì mức 45% trong năm 2004. Đương nhiên tỉ lệ tiết kiệm hiếm thấy này giúp giữ lãi suất ở mức thấp và mang lại những nguồn lực cần thiết cho sự phát triển của quốc gia.

Với mức tiết kiệm cao như vậy, Lý Quang Diệu đã bắt đầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Singapore. Sau khi bắt đầu trong lĩnh vực nhà ở công, chính phủ đã xây dựng những trang thiết bị cho khu cảng và khu công nghiệp Jurong. Mới đây, Singapore đã cam kết sẽ xây dựng một khu đảo Jurong mới, nối liền khoảng cách biển giữa bảy hòn đảo nhỏ bằng việc nhập khẩu cát từ Indonesia.

Vụ đầu tư trị giá 23 tỉ đôla Mỹ này sẽ mở ra cơ hội phát triển vô hạn cho ngành hoá dầu và chế tạo. Qua 3 thập kỷ, nhà nước đã chi tiêu hào phóng cho việc giải phóng đường biển và xây dựng các đường cao tốc hiện đại, sân bay tốt nhất thế giới Changi, bệnh viện, trường đại học, những đường hàng không cũng như cơ sở hạ tầng cho ngành viễn thông cáp quang hiện đại. Ngày nay, thành phố từng là một làng ô nhiễm đã trở thành một trong những thành phố sạch và hiện đại nhất thế giới.

Có lẽ đặc điểm nổi trội nhất cho thành công của Singapore nằm ở việc chính phủ kiểm soát trực tiếp tài sản. Ngoài đất đai và khoảng 85% lượng nhà cho thuê, chính phủ Singapore còn kiểm soát chừng 20% GDP. Ngoài những ngành dịch vụ công cộng, Ngân Hàng Phát Triển Singapore, Cảng biển Singapore, chính phủ còn sở hữu hãng hàng không Singapore, công ty Viễn thông Singapore Telecom, và công ty công nghệ Singapore Technologies.

Thêm vào đó, chính phủ còn có cổ phần trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, bao gồm cung ứng thực phẩm và công nghệ sinh học. Nhiều công ty có quan hệ với chính phủ được đơn vị đầu tư của chính phủ, công ty Temasek Holdings, tư vấn. Ít nhất trong năm 2002, Temasek đã sở hữu hơn 40 hãng, tương đương 20% tư bản trên thị trường Singapore.

Ho Ching, giám đốc Temasek (và là vợ thủ tướng), đã điều hành Temasek rất chặt chẽ và độc lập. Bà cho biết việc công ty thuộc quyền sở hữu của chính phủ không có nghĩa họ phải đáp ứng các yêu cầu của chính phủ, mà sẽ hoạt động như một doanh nghiệp, với các ban điều hành độc lập.

Năm 1981, nhằm giúp đảm bảo những khoản đầu tư này sẽ mang lại tăng trưởng về năng suất, chính phủ Singapore đã phát động một phong trào về năng suất lao động và lập Ban tiêu chuẩn năng suất lao động. Do Singapore đang đầu tư quá nhiều vốn, điều quan trọng là nắm được hiệu quả của những đồng vốn đó cũng như của lực lượng lao động. Nhiều khoản đầu tư lớn trong những năm 1970 và 1980 đã khiến tổng sản lượng ngành hàng năm của Singapore giảm 0,6% tới mãi năm 1985.

Tuy nhiên, những khoản đầu tư này đã bắt đầu mang lại kết quả khi tổng sản lượng ngành của Singapore đã tăng tới mức 3,8%/năm vào cuối những năm 80 và 2,9% trong đầu những năm 90. Biến động về cầu cùng cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã khiến năng suất lao động lại trượt dốc trong nửa cuối thập kỷ 90 và giảm đặc biệt mạnh vào năm 2001. Phải gần đây nó mới được phục hồi.

Để giải quyết vấn đề này, chính phủ đã đổi mới mạnh mẽ phong trào năng suất lao động này, đặt lại tên cho ban Tiêu chuẩn thành ban Tiêu chuẩn, Năng suất lao động, và Sáng tạo (SPRING). Một cuộc họp cấp quốc gia về năng suất lao động đã được tổ chức ngày 5 tháng 9 năm 2001, do Phó thủ tướng khi đó là ngài Lý Hiển Long chủ trì. SPRING, với hơn 800 nhân viên, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ năng suất lao động trong hơn 2000 tổ chức_doanh nghiệp, lao động, và chính phủ.

Đào tạo phục vụ sản xuất, chu trình chất lượng, tái thiết kế công việc, cải thiện tiêu chuẩn, sáng kiến cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mạng lưới bán lẻ, đẩy mạnh thịnh vượng – không một dự án tiềm năng nào để thúc đẩy năng suất lao động bị bỏ qua. Như Hình 3-1 minh hoạ, những nỗ lực này đã ngay lập tức phát huy tác dụng – năng suất lao động tăng cao.

Khi tôi đến thăm giám đốc điều hành của SPRING, tôi vô tình gặp mặt Lim Boon Heng, thư ký Công Đoàn Quốc Gia, đi trong đại sảnh của SPRING. Khi tôi nói về cuộc gặp mặt bất ngờ này với ngài giám đốc điều hành, ông trả lời: “Đương nhiên, Lim Boon Heng cũng là giám đốc của SPRING.” Lim đã nói “Chúng tôi tin tưởng vào việc tăng năng suất lao động, bởi nếu chúng tôi làm được điều này, chúng tôi có thể đàm phán tăng lương bền vững.

Thay vì tập trung vào việc chia phần của chiếc bánh, chúng tôi tập trung vào việc làm cho chiếc bánh đó lớn hơn.” Tôi đã rất ngạc nhiên. Và vị giám đốc điều hành của SPRING đã bổ sung, “Chúng tôi cần thay đổi từ một thành phố hiệu suất thành một quốc gia sáng tạo.”

Thay vì tập trung vào việc chia phần của chiếc bánh, chúng tôi tập trung vào việc làm cho chiếc bánh đó lớn hơn.” Tôi đã rất ngạc nhiên. Và vị giám đốc điều hành của SPRING đã bổ sung, “Chúng tôi cần thay đổi từ một thành phố hiệu suất thành một quốc gia sáng tạo.”

Các chính sách của Singapore

Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có – giàu có tương đương với mức trung bình của các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD và cao hơn cả Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Italy...

Hệ thống chính trị

Dựa trên đánh giá về các viên chức nhà nước, Singapore được điều hành như một doanh nghiệp. Trong khi các quan chức nội các là những chính trị gia, họ có xu hướng là những cá nhân đặc biệt có tài -- thường được giáo dục tại nước ngoài về kinh doanh hay kinh tế. Và bản thân các viên chức nhà nước cũng được đào tạo đặc biệt, có chí hướng, tài năng, và được đền đáp thoả đáng.

Singapore được điều hành bởi một hệ thống quốc hội bao gồm 84 thành viên qua bầu cử (9 được bầu cử trực tiếp và 75 được bầu từ những nhóm gồm 4 đến 6 người để đại diện cho 14 khu vực bầu cử và đảm bảo ít nhất có 1 thành viên thuộc nhóm dân tộc thiểu số trong mỗi nhóm).

Cứ năm năm lại tiến hành bầu thành viên quốc hội. Bỏ phiếu là thủ tục bắt buộc trong mỗi cuộc bầu cử. Một tổng thống, được bầu trực tiếp, cùng sự hỗ trợ của quốc hội sẽ chỉ định thủ tướng. Nội các bao gồm 14 đến 16 bộ trưởng, và mỗi bộ có một thư ký thường trực.

Sự đền đáp cho các bộ trưởng có thâm niên rất hậu hĩnh. Lương thủ tướng năm 2000 là hơn 1,1 triệu đôla Mỹ, ngay cả thủ tướng có thâm niên ít nhất cũng nhận được 550 000 đôla Mỹ -- nhiều hơn lương tổng thống Mỹ. Chính phủ cho rằng mức lương cao là điều cần thiết để gìn giữ nhân tài. Lý Quang Diệu, cha của thủ tướng Lý hiện thời và là thủ tướng đầu tiên đã ủng hộ điều này, ông phát biểu “hãy xem tỉ lệ mà chúng ta đổi lại”.

Còn ông Goh Chok Tong thì lí luận thêm, “Những nguy hại mà chúng ta đã ngăn chặn được không xảy ra cho nền kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á thừa đủ để trả cho các bộ trưởng và quan chức thuộc các phòng ban của chính phủ trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị của họ, và thực tế, chúng ta có thể chi trả trong nhiều đời.”

Biểu lương của chính phủ được xây dựng dựa trên một công thức cẩn thận. Những bộ trưởng mới nhậm chức hay những thư kí cao cấp thường trực nhận 60% mức lương trung bình của top 8 người thuộc 6 ngành nghề có thu nhập cao nhất, bao gồm từ ông chủ các nhà băng cho tới chủ tịch các công ty đa quốc gia.

Và giống như những tập đoàn lớn, mức thưởng cho các nhân viên cấp cáo và ngân sách dành cho các phòng ban phụ thuộc rất nhiều vào mức tăng trưởng GDP. “Chúng tôi là chính phủ 100%, nhưng nếu theo các quy tắc hoạt động thì chúng tôi vận hành giống như công ty tư nhân”, một giám đốc cấp cao của EDB giải thích. Vì thế năm 1992, với sự suy thoái của nền kinh tế, các bộ trưởng cao cấp cũng phải chịu giảm lương theo mức tương ứng.

Thêm một cách thức nữa được vận dụng từ các công ty là thường xuyên hoán đổi công việc. Có nghĩa là, sau vài năm, các quan chức cấp cao sẽ phải thuyên chuyển công việc, từ Quỹ Tiết kiệm trung ương, sang lĩnh vực quốc phòng, thương mại, tới lao động. Mặc dù điều này có thể dẫn tới việc một vài người thiếu kinh nghiệm có thể đứng đầu một bộ nào đó, nhưng lợi ích mà nó mang lại là rất to lớn.

Mọi người đều biết lẫn nhau và hiểu biết tương đối tốt về các vấn đề và chiến lược lớn. Như bộ trưởng bộ công nghệ thông tin và nghệ thuật nhận định, “Khởi đầu đây là thách thức, nhưng nó làm cho tầm nhìn của chúng tôi luôn tươi mới và xây dựng được một chính phủ linh hoạt”.

Có lẽ quan trọng nhất, là không hề có tham nhũng trong số các viên chức nhà nước Singapore. Trong thực tế, rất ít khi có tham nhũng trong mọi lĩnh vực ở Singapore. Chính quyền được ca ngợi vì tính trung thực và minh bạch. Nước này xếp thứ hạng rất cao trên Bảng chỉ số đánh giá tham nhũng của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế.

Ví dụ năm 2004, nước này xếp thứ 5 trong số 145 quốc gia-là nước châu Á duy nhất nằm trong top 15 nước tốt nhất. Đầu năm 1952, chính phủ đã thành lập Uỷ Ban Điều tra thực hành chống tham nhũng-một tổ chức độc lập nhằm thực thi luật chống tham nhũng. Bất kì cá nhân nào bị buộc tội tham nhũng có thể bị tống giam tới 5 năm tù hay phạt 100.000 đô la hoặc cả hai hình thức.

Từ chiến dịch chống nhổ nước bọt bừa bãi tới cấm nhai kẹo cao su, Singapore bị những người chỉ trích coi là “quốc gia vú em”. Nhưng ông Lý Quang Diệu tin rằng cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ môi trường xã hội và tự nhiên đối với một đảo quốc nhỏ bé như Singapore. Ví dụ, Singapore đã phát động một phong trào “xanh và sạch” nhằm làm đẹp khu vực xung quanh.

Hàng triệu cây đã được trồng mới bởi tất cả người dân bao gồm cả bộ trưởng nội các và thủ tướng trong mỗi ngày Trồng Cây Quốc Gia. Sông Singapore, một thời từng là nguồn ô nhiễm, nay đã được làm sạch tới mức có thể bơi và câu cá được. Nước đọng được thông dòng giảm thiểu được các loài sâu bọ và y tế công cộng được đẩy mạnh.

Việc định giá ô tô và thuế làm chính phủ có thể kiểm soát được vì các mục đích xã hội. Nhiều loại thuế khiến cho giá ô tô nhập khẩu luôn ở mức đắt đỏ và vì thế hạn chế được số lượng ô tô lưu thông trên đường. Hơn thế nữa, người Singapore còn phải đấu giá để có được số lượng giấy phép lưu hành xe có hạn.

Vì thế, với một chiếc xe có giá 50, 000 đô là Mỹ, thuế có thể lên tới 20,000 và phí đăng kí thêm 30 000 đô la nữa. Và để kiểm soát giao thông trong nội thị, một hệ thống cảnh sát điện tử được trả lương cao hơn vào giờ cao điểm để kiểm soát tình hình tắc nghẽn giao thông. Tất nhiên, với phần đông người Singapore đi lại bằng phương tiện công cộng vẫn là cách thức phổ biến.

Có lẽ ví dụ tiêu biểu nhất của “quốc gia vú em” là trường hợp của Michael Fay, một công dân Mỹ 18 tuổi bị buộc tội phá hoại di sản (phun sơn lên ô tô) vào năm 1994. Chính quyền Singapore đã tuyên án cậu phải chịu sáu roi phạt.

Khi Tổng Thống Clinton xin khoan hồng cho cậu, Singapore đã miễn cưỡng giảm án phạt xuống còn 4 roi. “Những người Singapore”, một nhà báo của tờ Straits Times bình luận “dường như sẵn sang hy sinh tự do công dân để đổi lấy lợi ích thực tế của một xã hội phát triển và có trật tự”.

Người dân Singapore nói bốn thứ tiếng-Tiếng Anh, tiếng Quan Thoại, tiếng Malay hay Hindi. Thật thú vị vì vào năm 1979, Lý Quang Diệu đã cho rằng rằng thị hiếu của giới trẻ Singapore hiện đã trở nên tây hoá từ các trò chơi, âm nhạc cho tới phim ảnh. Ông thậm chí đã gọi hệ thống giáo dục theo kiểu Anh là không chú trọng tới bản sắc.

Vì thế ông đã yêu cầu chuyển ngôn ngữ bắt buộc trong các trường học ở Singapore sang tiếng Quan Thoại, khiến người Ấn Độ và người Malai không hài lòng. Ông Lý đã hy vọng rằng chủ nghĩa cá nhân sẽ không được nhấn mạnh, trong khi ấy tư tưởng Khổng giáo tập trung vào tinh thần quốc gia sẽ trở nên thống trị. Ngày nay, trẻ em Singapore có thể chọn trường có chương trình học bằng tiếng Quan thoại, Mã Lai, Hinđi hay Tiếng Anh, nhưng Anh ngữ ít nhất là ngôn ngữ thứ hai.

Chính sách tài chính và tiền tệ

Chính sách này sẽ không thể hoàn hảo nếu không có sự quản lí kinh tế vĩ mô hiệu quả. Các chính sách tài chính và tiền tệ của Singapore có sức minh chứng rất lớn. Kể từ năm 1979, chính quyền trung ương nhìn chung được vận hành theo một ngân sách cân bằng, chỉ đôi khi rơi vào thâm hụt và tác dụng kích thích thật sự là rất cần thiết.

Mặc dù có mức thuế thấp, chi tiêu phi vốn cũng được tối thiểu hoá. Chi tiêu cho đầu tư của chính phủ được tài trợ phần lớn bởi các trái phiếu do Quỹ Tiết kiệm Trung Ương mua. Ví dụ vào những năm 1980, chính phủ thường xuyên duy trì mức thặng dư lên tới 20 % ngân sách (25% chi tiêu). Chỉ trong năm 2001, khi đang suy thoái nghiêm trọng, chính phủ mới phải cắt giảm thuế và chịu mức thâm hụt 2.7 tỷ đô la ( vào khoảng 9% chi tiêu hay 1.7% GDP).

Trong khi đó, chính sách tiền tệ được kiểm soát bởi Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), đóng vai trò như một ngân hàng trung ương có quyền kiểm soát các quy định của ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và tỉ giá hối đoái. Thông qua một cơ chế tâp trung tỉ giá, MAS duy trì tỉ lệ lạm phát thấp và giữ tỉ lệ lãi suất ở mức trung bình so với tỉ lệ của nước ngoài. MAS đã cố định tỉ giá hối đoái định lượng thương mại trong một rổ tiện tệ.

Từ đầu những năm 1970, dần dần tăng giá theo đồng đô la Mỹ, từ mức 3.06 lên tới 1.41 vào năm 1996, trước khi lại sụt giá (hiện tại ở mức 1.63 đô la Sing ăn một đô la Mỹ). Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai (1979-1980), tỉ lệ lạm phát được giữ thấp hơn mức 3.4 % và thường dao động trong khoảng 1.5-2%. Tỉ lệ cho vay thường xuyên thấp hơn 7% sau năm 1990-và gần đây thấp hơn nữa, còn 4 %.

Chính sách công nghiệp

Chính sách công nghiệp của Singapore nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài từ châu Âu và Mỹ (và cả Nhật Bản) để xây dựng những cơ sở lắp ráp, đóng tàu, hoá dầu trên “hòn đảo cấp 1” của họ. Chính sách này đã tỏ ra rất tốt cho tới đầu những năm 1980 sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai, khi các quốc gia châu Á khác, với mức lương thấp hơn (như Malaysia, Thái Lan, và Trung Quốc) bắt đầu nổi lên như những đối thủ cạnh tranh mới.

Không những hạ thấp mức lương, chính quyền của thủ tướng Lý quyết định đẩy mức lương cao hơn, với hy vọng rằng một chính sách như vậy sẽ buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải tăng thêm giá trị gia tăng trong các hoạt động của họ, đầu tư thêm công nghệ và vốn cho các nhà máy ở Singapore. “Chiến lược của chúng tôi”, ông Goh Chok Tong phát biểu trong cuộc gặp với bộ trưởng bộ thương mại và đầu tư, là “thúc đẩy các doanh nhân và các nhà quản lí vốn đẩy mạnh hiệu quả sản xuất bằng việc tái cơ cấu, tự động hoá và hợp lí hoá. Chúng tôi cũng khuyến khích họ nâng đầu tư vào các ngành công nghệ cao hơn sản xuất ra các sản phẩm có nhiều giá trị gia tăng hơn.”

Mặc dù chính sách này tỏ ra có hiệu quả trong một vài năm, nhưng nền kinh tế của Singapore vẫn rơi vào thời kì suy thoái sâu sắc năm 1985. Tỉ lệ thất nghiệp tăng cao và đầu tư cho sản xuất giảm đột ngột. Một lực lượng đặc biệt được thành lập, đứng đầu bởi con trai của thủ tướng Lý, ông Lý Hiển Long (người trở thành thủ tướng năm 2004).

Uỷ ban này đã nhận thấy rằng chính sách lương hiện tại là quá tham vọng do năng suất lao động không thể bắt kịp. Đồng thời chính phủ đã có những can thiệp quá mức. Uỷ ban đã khuyến nghị chính phủ cần ít can thiệp hơn vào nền kinh tế, chính sách lương linh hoạt hơn và giảm bớt tỉ lệ tiết kiệm bắt buộc. Những kiến nghị này, được thực hiện tức thời đã giúp thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế vào năm 1986 và mức tăng trưởng hàng năm đạt 7.8% trong năm năm kế tiếp.

Có hai điều rất thú vị trong giai đoạn này. Thứ nhất, các chuyên gia về kĩ thuật cai trị Singapore đã có thể nghiên cứu vấn đề, thực hiện hành động và phục hồi. Rất ít quốc gia có khả năng thực hiện các biện pháp phục hồi nhanh chóng và hiệu quả như vậy. Bài học thứ hai là thách thức của mức lương thấp.

Với việc mở cửa của Trung Quốc, rõ ràng điều này sẽ xảy ra. Vì thế, Singapore phải thay đổi chiến lược của mình, tìm cách liên tục gia tăng giá trị thặng dư cho nền kinh tế và bản thân nước này trở thành một nhà đầu tư nước ngoài vào những quốc gia có mức lương thấp hơn.

Singapore đã nhanh chóng trở thành nước có tiềm lực mạnh về thương mại. Đầu những năm 1990, khối lượng thương mại đã tăng hai rồi ba lần so với mức GDP-tỉ lệ cao nhất trên thế giới. Uỷ ban phát triển thương mại sau này được đổi tên là Thương nghiệp quốc tế Singapore đã thiết lập TradeNet-hệ thống xử lí thương mại điện tử đầu tiên, làm tăng đáng kể tính hiệu quả và thời gian luân chuyển cho các doanh nghiệp đầu tư.

Vào năm 2001, tổng kim ngạch thương mại của Singapore là 277% GDP. Mặc dù đất nước bị thâm hụt trong một thời gian dài, giá trị của tài khoản vãng lai đã đạt giá trị dương vào năm 1988 khi thương mại dịch vụ của Singapore vượt quá mức thâm hụt của hàng hoá. Nhưng sau đó cán cân hàng hoá đã đạt mức dương vào năm 1994 và kể từ đó, liên tục tăng trưởng.

Vào năm 2004, cán cân thương mại hàng hoá của Singapore đạt thặng dư 32 tỷ đô là Mỹ, cán cân dịch vụ là 8.5 tỷ và thu nhập là 8.9 tỷ. Tổng cộng đã tạo nên mức thặng dư cho tài khoản vãng lai là 28.8 tỷ đô là Mỹ, chiếm 30% GDP…mức cao nhất trên thế giới.

Thu nhập ròng có lẽ là con số đáng kể nhất trong bảng cân đối thanh toán của Singapore. Thu nhập ròng là đại diện cho tiền lãi và cổ tức mà Singapore trả cho tất cả nguồn đầu tư nước ngoài vào Singapore trừ đi những khoản mà nước này thu được từ đầu tư ra nước ngoài.

Như minh hoạ trong bảng 3.2, con số này là âm trong một khoảng thời gian dài đã chuyển sang giá trị dương từ năm 1985 tới tận năm 2002. Con số này cho thấy tỉ lệ tiết kiệm và đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng của Singapore.

Có nghĩa là, ngày càng có đông người Singapore tiết kiệm nhiều hơn những gì họ đã đầu tư trong nước, sử dụng tiền chênh lệch để đầu tư ra nước ngoài. Một cách khác nữa là họ đầu tư một phần lớn vào thặng dư tài khoản vãng lai ở nước ngoài (trong khi vẫn giữ một tỉ lệ nhất định như tài sản dự trữ).

Chúng ta có thể nhận thấy điều này trên tài khoản vốn. Đầu tư trực tiếp tăng mạnh lên tới 6.4 tỷ đô là trong khi đầu tư chứng khoán và các loại đầu tư khác (như trái phiếu chính phủ) lại ở mức âm. Điều này thêm một lần nữa cho thấy người Singapore đang tiết kiệm nhiều hơn mức cần thiết và mua sắm nhiều hơn, chủ yếu là các tài sản tài chính nước ngoài.

Tăng trưởng trở lại

Đối mặt với sự đình trệ liên tục trong phát triển kinh tế, sự cạnh tranh với lao động giá rẻ của Trung Quốc, đồng thời phải đấu tranh với sự sụt giảm năng suất, chính phủ Singapore lại tiếp tục thay đổi chiến lược một lần nữa. Những nỗ lực này, có thể kéo dài tới vài năm, đã tạo ra những thay đổi kinh tế vi mô, thay đổi thể chế và một cú đột phá kinh tế vĩ mô.

Ủy ban Phát triển kinh tế (gọi tắt là EDB) sẽ chịu trách nhiệm lãnh đạo ở mức độ kinh tế vi mô. EDB tuyên bố: “ Ủy ban sẽ nỗ lực để khẳng định hơn nữa rằng Singapore là một tâm điểm thu hút kinh doanh và đầu tư. Điểm mấu chốt trong phương pháp của chúng tôi dựa vào việc xây dựng một “môi trường sinh thái” của các doanh nghiệp – một môi trường hoàn hảo nơi nối kết được các doanh nghiệp, lớn và nhỏ, trong nước và nước ngoài, cùng cố gắng liên kết và cộng sinh”.

Chiến lược này sẽ tạo ra một biện pháp đôi: (1) tiếp tục tập trung vào các nhóm ngành vốn đã mạnh sẵn của Singapore như ngành hóa học, điện tử, công nghệ thiết kế chính xác, dịch vụ vận chuyển và logistics, và giao tiếp thông tin; và (2) khuyến khích cải tiến kỹ thuật và tinh thần doanh nhân trong các lĩnh vực này.

Ông Chua Taik Him, trợ lý giám đốc điều hành của EDB nói: “Chúng tôi muốn khuyến khích cải tiến kỹ thuật và tinh thần doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế. Và chúng tôi sẽ thực hiện điều này bằng cách đầu tư vào nguồn vốn con người, công nghệ, và cơ sở hạ tầng. Không chỉ EDB thực hiện nó, mà toàn Singapore sẽ cùng thực hiện điều đó, bởi vì chúng tôi là một trí tuệ quốc gia.’

Có lẽ ví dụ tốt nhất của việc Singapore tập trung toàn lực vào các nhóm ngành chính là ngành mà họ gọi là “điều vĩ đại tiếp theo” – ngành khoa học y sinh. Nhóm nghành này bao gồm các ngành dược, kỹ nghệ y học, công nghệ sinh học, và ngành chăm sóc sức khỏe.

Như chủ tịch của EDB nói “Ngành công nghệ y sinh là một ngành phù hợp hoàn toàn với Singapore. Đây là một ngành không đòi hỏi có mật độ nhân công và đất đai cao mà yêu cầu có một hệ thống vận hành đáng tin cậy. Ngành này cũng là ngành có mức độ tập trung nguồn vốn trí tuệ cao và vận hành trong một môi trường mà tài sản trí tuệ được bảo vệ đầy đủ. Chúng tôi không có nhiều tài nguyên để đưa vào nền kinh tế, nhưng cái mà chúng tôi có lại chính là trí tuệ”.

Để xây dựng lợi thế cạnh tranh của Singapore về cơ sở hạ tầng, luật sở hữu trí tuệ và hệ thống chăm sóc sức khỏe hạng nhất, chính phủ đã đưa ra một số sáng kiến chuyển đổi Singapore thành một trung tâm y sinh của Châu Á, gọi là Biopolis.

Quốc đảo này đã tích cực tìm kiếm và lôi kéo các công ty dược và y sinh đã có danh tiếng để xây dựng cơ sở sản xuất tại Singapore (và họ cũng hi vọng xây dựng những trung tâm nghiên cứu và phát triển tại đây). EDB nỗ lực để xây dựng một dịch vụ hoàn hảo (1 điểm dừng) cho các nhà đầu tư tiềm tàng.

Chính vì thế, Nhóm Dịch vụ Y tế-Sinh học đã được thành lập nhằm hỗ trợ các công ty lập kế hoạch, đầu tư và tiếp thị các loại thuốc sinh học của họ.

Singapore cũng đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho ngành này tương tự như những gì quốc đảo này đã thực hiện với ngành công nghiệp hóa dầu trước đây. Họ xây dựng một công viên công nghiệp dành cho các công ty y sinh mới thành lập cũng như đã thành lập, bao gồm một khu liên hợp rộng khoảng 7,5 hecta các tòa nhà cao tầng.

Khu công viên này được dành hoàn toàn cho việc sản xuất thuốc sinh học. Được đặt gần trường Đại học Quốc gia Singapore, người ta kỳ vọng rằng khu Biopolis đáp ứng được nhu cầu cư trú và nghiên cứu của 2000 nhà khoa học và các chuyên viên trong ngành (Bản thân trường Đại học Quốc gia cũng góp phần vào đó bằng cách đầu tư và mở rộng các bằng cấp trong lĩnh vực y sinh).

Chính phủ đã xây dựng 7 tòa nhà đầu tiên để thu hút đầu tư hơn nữa từ khu vực tư nhân. Gần đó, một khu vực rộng 160 hecta cũng được xây dựng để đáp ứng nhu cầu sản xuất của các công ty dược phẩm. Năm 2004, họ đã đạt được mục tiêu là thu hút được 15 công ty sản xuất khoa học đời sống lớn toàn cầu tới đầu tư xây dựng và làm việc tại đây.

Trong khi đó, nguồn vốn tài chính, đã được tích lũy cho Quỹ đầu tư khoa học y sinh để hỗ trợ những liên doanh mới. Ông Chua nói “chính phủ đóng vai trò là người điều phối và chuyên gia phân tích cho khối các doanh nghiệp, công ty tư nhân”.

Nguồn vốn trí tuệ cũng trở nên cần thiết khi chiến lược hệ sinh thái doanh nghiệp của Singapore thành công. Hệ thống giáo dục cần phải hỗ trợ được hệ sinh thái đó. Do có quá nhiều người tin là phương pháp học vẹt truyền thống đã cản trở tính sáng tạo và tinh thần doanh nhân đối với học sinh, chính phủ thực hiện tăng cường đầu tư để xúc tiến các phương pháp dạy học mới và khuyến khích sự cải tiến kỹ thuật.

EDB lập kế hoạch để có được khoảng 10 học viện tầm cỡ thế giới ở Singapore vào năm 2008; và cho tới nay, học viện INSEAD, John Hopkins, Wharton và MIT đã xây dựng các liên doanh giáo dục cũng như các khu học tập vệ tinh tại Singapore.

Có lẽ, tâm điểm của cú đột phá y sinh này chính là Trung tâm Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu (gọi tắt là A*STAR). Vốn được thành lập dưới một cái tên khác vào năm 1991, A*STAR đã xây dựng nên những cơ sở kiến thức khoa học của Singapore thông qua một series các kế hoạch 5 năm. Trung tâm này, do ông Philip Yeo lãnh đạo từ năm 2001, đã lập kế hoạch lần thứ 3 (2001-2005) với vốn ngân sách là 7 tỷ đô la.

Tổ chức này có 4 bộ phận: Hội đồng nghiên cứu Y sinh, Hội đồng nghiên cứu khoa học và thiết kế, Công ty Công nghệ khai thác và Bộ phận kế hoạch doanh nghiệp và Hành chính. Các hội đồng nghiên cứu đã giám sát các nỗ lực nghiên cứu và phát triển trong khu vực nhà nước của Singapore.

Cả 4 bộ phận này đều làm việc nhằm tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ và xúc tiến các hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo, với mục tiêu tạo ra một “Boston của phương Đông”. Ngoài việc hỗ trợ để khởi dựng Học viện Genome của Singapore, Học viện sinh học phân tử và nguyên tử, và Học viện thiết kế sinh học, A* STAR đã trao học bổng nghiên cứu và giáo dục cho những sinh viên có tài năng.

Khi tôi gặp Philip Yeo ở Boston, ông đã rất hào hứng và tự hào khi mô tả các sinh viên nhận học bổng khoa học của Trung tâm hiện đang học tại Harvard và MIT, chưa kể số sinh viên học tại các trường Stanford, Columbia và 5, hoặc 6 trường đại học lớn khác ở châu Âu.

Năm 2001, thủ tướng Goh triệu tập Hội đồng Đánh giá Kinh tế (ERC) để đánh giá chính sách kinh tế vĩ mô của Singapore, hỗ trợ và tư vấn ý kiến để Singapore đa dạng hóa hơn nữa nền kinh tế, và phát triển một môi trường doanh nghiệp, sáng tạo và tập trung vào khoa học, môi trường cần có để tạo điều kiện cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Lý Hiển Long, lúc đó là quyền thủ tướng, đã được chọn làm chủ tịch hội đồng.

Vào giữa năm 2002, Hội đồng ERC đã đề nghị chính phủ nên cắt giảm tỷ lệ thuế doanh nghiệp từ 24,5% xuống còn 22% và thuế thu nhập cá nhân từ 26% xuống 22%. Và tới năm 2005 cả hai tỷ lệ này cần giảm tiếp xuống còn 20%. Điều này sẽ khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các ngành kinh tế tri thức.

Thậm chí ngân sách nhà nước cần cắt giảm thêm nữa về thuế cho những người làm nghiên cứu và phát triển. MAS tin rằng việc cắt giảm thuế như vậy sẽ đẩy tăng trưởng GDP thực của Singapore thêm 1,2 % và đầu tư lên tới 10%.

Mặc dù điều này chắc chắn sẽ tạo ra thâm hụt ngân sách, nhưng sự thâm hụt này có thể loại trừ nhờ việc tăng thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ (GST) từ 3% lên 5%. Hội đồng kết luận “GST duy trì động lực làm việc và khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng suất”. “Khi thu nhập người dân tăng lên, thuế thu nhập sẽ đưa họ vào nhóm có thu nhập chịu thuế cao hơn, có nghĩa là thuế sẽ chiếm tỷ lệ lớn hơn trong thu nhập của họ, trong khi đó thì GST lại không chiếm tỷ lệ cao như vậy”. Họ kỳ vọng rằng tỷ lệ thuế hàng hóa và dịch vụ cao hơn sẽ bù đắp được hầu hết phần thâm hụt doanh thu do cắt giảm thuế thu nhập.

Hội đồng cũng đề nghị gia tăng cạnh tranh nhằm kích thích tinh thần doanh nghiệp. Chính phủ buộc phải cởi mở hơn, để tự chuyển đổi mình dần dần từ khu vực phi chiến lược trước đây. Như Lý Hiển Long quan sát: “Chúng ta có thể thay đổi thuế, có thể thay đổi chính sách nhanh chóng, nhưng nếu ta muốn thay đổi cách suy nghĩ, thúc đẩy tinh thần doanh nghiệp hay cải tiến kỹ thuật ….thì đó lại là những thay đổi chúng ta không thể thực hiện chỉ trong một đêm được”.

Quốc gia –Tập đoàn SINGAPORE, Inc.

Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có – giàu có tương đương với mức trung bình của các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD và cao hơn cả Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Italy. Quốc đảo này vẫn tiếp tục là một quốc gia vững mạnh và an toàn ở vùng Đông Nam Á, giữa những nước còn rộng lớn hơn và ở một khía cạnh nào đó, còn bất ổn hơn. Những thành tựu này, quả thực rất đáng kể.

Singapore đã làm được điều này là nhờ kết hợp sự lãnh đạo tài tình, chiến lược phát triển hiệu quả và các thể chế vững chắc của chính phủ. Lý Quang Diệu, người đã dẫn dắt cho sự phát triển của Singapore từ năm 1959 tới năm 1990 là một người kiệt xuất - một nhà lãnh đạo thông minh, trung thực và đầy tham vọng, người đã cống hiến cho cả một thế hệ.

Chiến lược mà ông thực hiện, tăng trưởng kinh tế thúc đẩy bởi xuất khẩu, dựa trên đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất sáng suốt – đưa ra được một chiến lược đúng đắn vào đúng lúc cho một quốc gia không có bất kỳ tài nguyên nào trong một thế giới đang ngày càng toàn cầu hoá.

Nhưng tôi tin tưởng rằng, thành công của Singapore bắt nguồn chủ yếu từ những thể chế đặc biệt của nước này - những thể chế do chính quyền PAP thiết lập. Những thể chế này - những cơ quan thi hành chính sách dưới luật - đã khiến cho Singapore vận hành đúng đắn như bản thân chúng. Những cơ quan này gồm Uỷ ban phát triển nhà ở, Khu công nghiệp Jurong, Quỹ Tiết kiệm Trung Ương, Uỷ ban tiền tệ Singapore, SPRING và A’STAR.

Kết hợp những cơ quan này đã hình thành nên một cấu trúc tổ chức phù hợp gần như hoàn hảo với chiến lược của Singapore. Rất khó để nghĩ rằng một quốc gia khác với một bộ máy thể chế chính phủ tương tự với Singapore lại có thể vận hành tốt như thế.

Trong thực tế, Singapore gần như là ví dụ tốt nhất minh hoạ cho việc một chính phủ có thể hoạt động tốt như thế nào - hơn một phần tư GDP của Singapore và gần như việc ban hành chính sách đều do chính phủ thực hiện.

Quản lí kinh tế vĩ mô hiệu quả là một phần quan trọng của việc này. Chúng ta không thể tìm thấy một nơi nào khác có tỉ lệ tiết kiệm cao và đầu tư hiệu quả cho các toà nhà, cơ sở hạ tầng, các kĩ năng và những thể chế cần thiết cho nền kinh tế tới như vậy.

Tuy nhiên, tương lai với Singapore vẫn còn chưa chắc chắn. Trong khi tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng và phát triển các nguồn lực của ngành y sinh, những thách thức với việc trở thành một nền kinh tế tri thức đối chọi với những quốc gia giàu có và lâu đời hơn như Nhật Bản, châu Âu và Mỹ là rất lớn.

Nhưng Singapore đã thực hiện được cam kết của mình – rằng một quốc gia do chính phủ dẫn dắt vẫn có thể hoạt động hiệu quả như các nước tư bản chủ nghĩa vận hành bởi thị trường. Dù sao, Singapore đã làm tốt trong quá khứ và vì thế là một hình mẫu đáng khâm phục cho những gì có thể. Singapore sẽ vẫn còn được nhìn nhận là hình mẫu đó, nếu quốc gia này tiếp tục phát triển trong tương lai.

Chính sách này sẽ không thể hoàn hảo nếu không có sự quản lí kinh tế vĩ mô hiệu quả. Các chính sách tài chính và tiền tệ của Singapore có sức minh chứng rất lớn. Kể từ năm 1979, chính quyền trung ương nhìn chung được vận hành theo một ngân sách cân bằng, chỉ đôi khi rơi vào thâm hụt và tác dụng kích thích thật sự là rất cần thiết.

Mặc dù có mức thuế thấp, chi tiêu phi vốn cũng được tối thiểu hoá. Chi tiêu cho đầu tư của chính phủ được tài trợ phần lớn bởi các trái phiếu do Quỹ Tiết kiệm Trung Ương mua. Ví dụ vào những năm 1980, chính phủ thường xuyên duy trì mức thặng dư lên tới 20 % ngân sách (25% chi tiêu). Chỉ trong năm 2001, khi đang suy thoái nghiêm trọng, chính phủ mới phải cắt giảm thuế và chịu mức thâm hụt 2.7 tỷ đô la ( vào khoảng 9% chi tiêu hay 1.7% GDP).

Trong khi đó, chính sách tiền tệ được kiểm soát bởi Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), đóng vai trò như một ngân hàng trung ương có quyền kiểm soát các quy định của ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và tỉ giá hối đoái. Thông qua một cơ chế tâp trung tỉ giá, MAS duy trì tỉ lệ lạm phát thấp và giữ tỉ lệ lãi suất ở mức trung bình so với tỉ lệ của nước ngoài. MAS đã cố định tỉ giá hối đoái định lượng thương mại trong một rổ tiện tệ.

Từ đầu những năm 1970, dần dần tăng giá theo đồng đô la Mỹ, từ mức 3.06 lên tới 1.41 vào năm 1996, trước khi lại sụt giá (hiện tại ở mức 1.63 đô la Sing ăn một đô la Mỹ). Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai (1979-1980), tỉ lệ lạm phát được giữ thấp hơn mức 3.4 % và thường dao động trong khoảng 1.5-2%. Tỉ lệ cho vay thường xuyên thấp hơn 7% sau năm 1990-và gần đây thấp hơn nữa, còn 4 %.

Anh Minh

Sáu bài học chống tham nhũng từ Singapore

Trong các bảng xếp hạng, Singapore vẫn thường nằm trong tốp các nước ít tham nhũng nhất thế giới. Trong bảng xếp hạng năm 2005 của Tổ chức Minh bạch quốc tế ( Transparency International ), Singapore đứng thứ năm nhóm nước trong sạch nhất, chỉ sau Iceland, Phần Lan, New Zealand và Đan Mạch.

Để có vị trí này, Singapore đã trải qua một quá trình chuyển hóa không ít khó khăn. Khi đảng Nhân dân hành động (PAP) của ông Lý Quang Diệu lên nắm quyền, họ nhận thức rằng phải chống tham nhũng thì mới đạt được mục tiêu phát triển.

Trong ba yếu tố tạo nên tham nhũng, ban đầu Singapore chưa thể làm gì với yếu tố lương bổng vì năm 1960, đây vẫn là nước nghèo với GDP trên đầu người chỉ là 443 USD. Vì vậy, chính phủ tập trung vào hai yếu tố tạo tham nhũng còn lại : giảm thiểu cơ hội tham nhũng và tăng cường hình phạt

Một luật chống tham nhũng mới ra đời, với 32 phần (thay vì 12 như hồi năm 1937). Có một số sửa đổi quan trọng như án phạt tăng lên năm năm tù, người nhận hối lộ phải trả lại hết tiền đã nhận. Văn phòng điều tra tham nhũng (CPIB) được tăng quyền hạn, với khả năng điều tra “mọi tài khoản ngân hàng” của những ai bị nghi có hành vi phi pháp.

Một người có thể bị khép tội tham nhũng ngay cả khi người đó chưa nhận tiền hối lộ, vì ý định phạm pháp đã đủ để khép tội người này. Công dân Singapore phạm tội nhận hối lộ ở nước ngoài cũng bị xử như phạm pháp trong nước. Cả khi bị cáo qua đời, tòa áncũng có quyền ra lệnhtrưng thu tài sản có được từ tham nhũng.

Cho mãi tới thập niên 1980, khi đã phát triển kinh tế, Singapore mới đủ khả năng làm nốt phần còn lại trong chiến lược chống tham nhũng là tăng lương cho nhân viên. Tháng 3-1985, thủ tướng Lý Quang Diệu tuyên bố các lãnh đạo chính trị cần được trả lương thật cao để bảo đảm chính quyền trong sạch. Ông nói cách hay nhất chống tham nhũng là “đi cùng thị trường”, thay vì thói đạo đức giả đã tạo nên tham nhũng.

Theo giáo sư Jon S.T. Quah, khoa chính trị học ở Đại học Quốc gia Singapore, kinh nghiệm của Singapore không dễ lặp lại ở các nước vì hoàn cảnh đặc thù và vì những chi phí chính trị và kinh tế của việc trả lương cao. Tuy nhiên, có sáu bài học có thể tham khảo.

Thứ nhất : bộ máy lãnh đạo phải thực tâm chống tham nhũng và trừng phạt bất cứ ai có hành vi tai tiếng.

Thứ hai : phải có các biện pháp chống tham nhũng đầy đủ, không có lỗ hổng và thường xuyên được xem lại để thay đổi, nếu cần thiết.

Thứ ba : cơ quan chống tham nhũng phải trong sạch. Không nhất thiết phải có quá nhiều nhân viên, và bất kỳ thanh tra nào tham nhũng cũng phải bị trừng phạt và đuổi ra khỏi ngành

Thứ tư : cơ quan chống tham nhũng phải tách khỏi bộ máy cảnh sát.

Thứ năm : để giảm cơ hội tham nhũng tại các ngành dễ sa ngã như hải quan, thuế vụ, công an giao thông, các cơ quan này phải thường xuyên kiểm tra và thay đổi qui định làm việc.

Thứ sáu : động cơ tham nhũng trong khối nhân viên nhà nước và quan chức có thể giảm bớt nếu lương và phụ cấp cho họ có tính cạnh tranh với khu vực tư nhân.

Và dĩ nhiên, mọi chiến lược đều không thành công nếu lãnh đạo chỉ nói suông và thiếu ý chí chính trị.