NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ngành công nghệ Sinh Học Việt Nam cần những bước đột phá

( Những góp ý về lĩnh vực Công Nghệ Sinh Học của TS Nguyễn Trọng Bình Kiều bào Mỹ , chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ sinh học, sinh vật phân tử ứng dụng trong y dược học. Có đến 40 báo cáo khoa học, được cấp 4 bằng sáng chế ).

Những báo cáo khoa học của tôi tại các hội nghị quốc tế về hoạt chất chống ung thư của vi sinh vật Hydrogenovora và nhất là báo cáo sau tại Hội Nghị Vi sinh quốc tế, tổ chức tại Hoa Kỳ năm 1979, lúc đó nghiên cứu của tôi được giới nghiên cứu cùng ngành chú ý. Do đó, sau khi bảo vệ xong luận án Tiến sĩ tại đại Học Tổng Hợp Tokyo, tôi nhận được nhiều lời đề nghị từ các cơ sở nghiên cứu ở Mỹ mời về tham gia nghiên cứu. Tôi đã nhận đến nghiên cứu tại Đại học University of California at San Francisco (UCSF). Sau thời gian làm việc tại UCSF về đề tài Giải trình cơ cấu tác dụng của thuốc chống ung thư, tôi được nhiều công ty nghiên cứu dược phẩm lớn đề nghị về làm việc với họ và tôi đã làm việc tại những phòng nghiên cứu của Roche và Pfizer. Nhớ lại thời gian bắt đầu giữ trách nhiệm một chương trình nghiên cứu ( khoảng năm 1981 ), người Việt Nam làm công việc nghiên cứu tại UCSF chưa đông đảo như hiện nay. Đây cũng là thời gian các công ty tiên phong của ngành công nghệ sinh học ra đời. California được xem là cái nôi của vùng công nghệ cao của Mỹ, Bắc California có công ty Genentech, Nam California có công ty Amgen.

Khi đó tôi rất vui vì thấy mình may mắn đã chọn đúng ngành công nghệ cao ở thời điểm công nghệ này bắt đầu triển khai và nở rộ. Thời điểm mà công nghệ sinh học đang từ quy mô những nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm tiến ra thành lập các công ty để sản xuất đại trà các chế phẩm công nghệ sinh học bằng công nghệ lắp ghép gene và nuôi cấy tế bào trên quy mô lớn. Cái vui thứ hai là tôi may mắn có được rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp quốc tế là những người tiền phong và thành đạt trong lĩnh vực công nghệ sinh học

Từ khi Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ, việc cộng tác khoa học giữa hai nước được xúc tiến mạnh mẽ hơn. Tôi đã có nhiều cơ hội cùng các đồng nghiệp quốc tế đến thăm và làm việc, nghiên cứu chung với các đồng nghiệp Việt Nam, nhưng tôi cũng không thể nói là mình hiểu biết tất cả về nghiên cứu công nghệ sinh học tại Việt Nam. Do đó, nhận xét của tôi phát xuất từ những cảm nhận có được qua những gì tôi đã tiếp xúc, tôi xin có những nhận xét sau :

Nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu công nghệ sinh học đòi hỏi đầu tư rất lớn trong một thời gian khá lâu và bài bản. Trình độ của bản thân người làm nghiên cứu công nghệ sinh học đòi hỏi ở mọi cấp, sự cần thiết của trang thiết bị phòng nghiên cứu và các loại nguyên liệu nghiên cứu, hoá chất sử dụng cho việc nghiên cứu cũng như sản xuất đòi hỏi cần phải được đầu tư đúng mức. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là việc định hướng, chọn đề tài nghiên cứu, việc đào tạo chất xám, đào tạo các nhà nghiên cứu, có công nghệ hiện đại là rất quan trọng. Nói cách khác Việt Nam rất cần các chuyên gia các cấp nghiên cứu thực vụ có công nghệ hiện đại ở mọi cấp bậc tại phòng nghiên cứu cũng như tại các cơ sở nghiên cứu cho nhà máy sản xuất.

Muốn có sản phẩm công nghệ sinh học hiện đại cần phải bắt đầu từ việc sở hữu nguồn gene tốt, con giống tốt và thiết lập được những quy trình sản đại trà theo đúng quy luật sản xuất quốc tế. Vì sự đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn cũng như thời gian nên việc định hướng nghiên cứu, đề tài nghiên cứu rất là quan trọng. Theo tôi Việt Nam có thể theo hai hướng nghiên cứu sau: Một là nghiên cứu ứng dụng mang tính kinh tế để làm ra những sản phẩm công nghệ sinh học hiện đại. Hướng nghiên cứu này cần chú trọng nhiều vào các điều kiện tối thích trong các quy trình sản xuất sao cho hợp với hoàn cảnh Việt Nam và nguồn gene tại Việt Nam để tạo ra các sản phẩm có phẩm chất cao và có thể cạnh tranh với các mặt hàng tương tự trên thị trường quốc tế. Về nguồn gene, con giống, Việt Nam có thể mua lại hoặc sử dụng những nguồn gene, con giống đang có sẵn trên thị trường hoặc các nguồn gene ( bao gồm cả tri thức về nguồn gene ) đã hết hạn bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ. Hai là nghiên cứu tạo ra những nguồn gene mới, những dòng sinh vật đặc thù của Việt Nam. Sau đó phần nghiên cứu ứng dụng để làm ra những sản phẩm ( phần một ) sẽ bắt đầu.

Cụ thể hơn, theo tôi, Việt Nam là một xứ nhiệt đới với thảm sinh vật phong phú và đa dạng, việc nghiên cứu ứng dụng tối thích các quy trình nâng cao sản xuất công nghiệp ( sản xuất đại trà, cơ khí hoá, điện tử hoá ) các nguồn gene có sẵn của Việt Nam cho các ngành sản xuất các sản phẩm nông, lâm, thủy sản và bảo quản, gia công để nâng cao chất và lượng của sản phẩm sinh hoc. Về ngành y dược, việc nghiên cứu quy trình sản xuất các loại vaccine (nhất là vaccine cho các loại bệnh vùng nhiệt đới) và các nghiên cứu xử lý ô nhiễm môi trường là những hướng nghiên cứu cấp bách và thiết thực của ngành công nghệ sinh học Việt Nam hiện nay. Sau khi nền kinh tế phát triển hơn, nguồn vốn đầu tư nhiều hơn, những nghiên cứu cơ sở mang tính đột phá về khoa học sẽ dần thành hình. Nếu “đi tắt đón đầu” kiểu này thì tôi nghĩ không chỉ công nghệ sinh học Việt Nam đã đi đúng hướng mà sẽ còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Những nước công nghệ tiên tiến, họ có một quá trình phát triển về khoa học, công nghiệp và kinh tế cũng như về cách tổ chức, do đó điều kiện cung ứng cho các nhà nghiên cứu rất tốt, dĩ nhiên cũng còn tùy vào điều kiện của từng cơ sở nghiên cứu nữa. Việt Nam vì phát triển sau nên resource cho nghiên cứu có giới hạn. Do đó việc hoạch định hướng và đề tài nghiên cứu và chính sách ( tổ chức, đầu tư ) nghiên cứu để đạt mục tiêu "đi tắt đón đầu" là việc làm cốt lõi

Tuy nhiên, sự việc phát triển sau cũng có cái lợi là chúng ta có thể học được những bài học thất bại trong ngành nghề của những nước đã đi truớc. Để có thể có được những kinh nghiệm quý giá này, theo tôi, việc sử dụng công nghệ thông tin tuyền thông qua Internet toàn cầu rất hữu hiệu. Các nhà khoa học có thể trao đổi ý kiến, thảo luận qua mạng ngay từ phòng nghiên cứu của họ với đồng nghiệp tại một lục địa khác, mà không phải di chuyển hàng vạn dặm.

Tại các cơ sở nghiên cứu lớn có quy mô toàn cầu, các nhà khoa học từ mọi quốc gia có thể họp hội nghị với nhau qua mạng toàn cầu cùng một lúc từ nơi làm việc của họ. Khoảng cách về địa lý đã không còn là một trở ngại lớn trong việc trao đổi, thảo luận khoa học như trước nữa

Theo tôi, việc Việt kiều trở về lại quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn để sinh sống mang tính tâm lý, tình cảm quê hương nhiều hơn là nhu cầu cần có để trao đổi tri thức, chất xám, chuyển giao công nghệ với các đồng nghiệp trong nước. Tôi nghĩ, việc thành lập mạng internet của các chuyên gia mang dòng máu Việt sẽ có được đông đảo các chuyên gia tham dự và việc trao đổi khoa học sẽ rất tiện lợi, nhanh chóng và hữu hiệu hơn.

Đây là bình diện rộng không thể trao đổi, bàn cãi hết trên giấy tờ. Tuy nhiên, theo tôi, muốn hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước, chúng ta cần phải có con người hiểu biết về nền công nghiệp hiện đại và trên hết là phải có nhiệt tâm thực hiện tri thức của mình. Phải hiểu biết ứng dụng các tri thức công nghiệp hiện đại vào hiện thực của Việt Nam sao cho kinh tế nhất và khoa học nhất với mục tiêu là sự phát triển hướng đến một đời sống cao, hiện đại, văn minh và hạnh phúc. Tất nhiên, trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, công nghệ sinh học phải có một chỗ đứng, một vị trí quan trọng thì mới làm đòn bẩy được.

Vâng, công nghệ sinh học là một ngành mũi nhọn, công nghệ cao, để phát triển kinh tế. Thực tế này đã được chứng minh tại nhiều nước trên thế giới. Tôi cũng được biết công nghệ sinh học là một trong bốn hướng công nghệ và sản xuất được Nhà nước xếp hàng ưu tiên lâu dài nhưng đến nay hình như vẫn chưa làm đòn bẫy cho nền kinh tế nước nhà. Theo tôi, bất kỳ một công nghệ cao nào, việc định hướng, định đề tài nghiên cứu đều mang tính chiến lược của một quốc gia. Nó cần có sự cân nhắc cẩn thận về đầu tư, chính sách quản lý nghiên cứu sao cho có hiệu quả và kiên trì. Về kết quả, sản phẩm của nghiên cứu khoa học, cơ sở là những phát minh khoa học, những sáng chế mới, hoặc thiết lập những quy trình, phương thức sản xuất mới vượt trội hơn cái đang hiện hữu. Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng là sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế, nâng cao đời sống. Đó là mục tiêu mà nhà nghiên cứu say mê và cống hiến thời gian và công sức của mình .

Như tôi đã nói, việc định hướng, đề tài nghiên cứu và hoàn cảnh, điều kiện làm nghiên cứu thuận tiện cùng các tiện nghi sinh hoạt cần có cho nhà nghiên cứu là những điều kiện cần có để thu hút chất xám, trí thức trong đó bao gồm cả các trí thức Việt Kiều và cả các khoa học gia nước ngoài. Về hướng và đề tài nghiên cứu tôi nghĩ trong hoàn cảnh Việt Nam, có lẽ chúng ta nên ưu tiên những nghiên cứu có thể làm ra những sản phẩm cụ thể, có giá trị kinh tế trong nước hoặc có thị trường quốc tế. Trong các đề tài nghiên cứu, cần tập trung và tuyển chọn sao cho với số vốn đầu tư có hạn nhưng nghiên cứu có hiệu quả cao nhất.

Tạo sự thuận tiện trong nghiên cứu qua các phòng nghiên cứu đủ trang thiết bị và ngân sách nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu có thể chuyên tâm vào công việc. Nhà nước cũng nên tạo sự thông thoáng về hành chính và sinh hoạt cho các chuyên gia nghiên cứu để họ có nhiều thì giờ hơn cho việc của mình. Được như vậy, tôi tin rằng công nghệ sinh học Việt Nam sẽ có những đột phá và có những đóng góp hữu hiệu cho phát triển kinh tế và khoa học của đất nước.

HỒ DUYÊN